Luận văn tốt nghiệp “Sử dụng vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Hà Nội” - Pdf 12


1
LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thiên niên kỷ thứ 3 của loài người, cùng với sự phát triển vượt
bậc về khoa học kỹ thuật và những thành tựu rực rỡ về kinh tế -văn hoá-giáo
dục, thì vẫn còn có tới 2/3 dân số thế giới sống trong cảnh nghèo đói, thiếu
nước sạch, thiếu sự chăm sóc y tế, giáo dục, thiếu những điều kiệ
n sinh hoạt
tối thiểu. Trong một nỗ lực chung, xoá bỏ nghèo đói, và giảm dần quãng cách
về trình độ phát triển giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới, hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) đã có những đóng góp tích cực vì mục tiêu phát triển
toàn cầu.
Chính phủ Việt Nam hiện đang gánh vác trách nhiệm đưa đất nước tiến
lên con đường phát triển, thông qua việc đề cao các mục tiêu phát triển con
người, đã dành đượ
c sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc
tế. Tính đến năm 2000, tổng số vốn ODA giải ngân cho Việt Nam đã lên tới
7,6 tỷ USD, thông qua các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, y tế, giáo
dục đào tạo, giao thông, cấp thoát nước, từng bước đã góp phần cải thiện các
chỉ số xã hội, nâng cao mức sống người dân, thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hoá đấ
t nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh”.
Trong cả nước, Hà Nội cũng là một trong các tỉnh, thành phố thu hút
được nhiều vốn ODA trong các dự án phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở. Nhiều
công trình hạ tầng giao thông, cấp thoát nước được xây dựng bằng nguồn vốn
ODA đã tạo ra những thay đổi khởi sắc trong nếp sống văn minh đô thị. Hiện
nay, chủ
trương chung của thành phố là tập trung thu hút, sử dụng vốn ODA

gồm 3 chương:
Chương I: Vài nét về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức và vai trò
của nguồn vốn này đối với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Chương II:

Thực trạng sử dụng vốn ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng
kỹ thuật thành phố Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn
ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật thành phố Hà
Nội

3

4
CHƯƠNG 1 - VÀI NÉT VỀ NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH
THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN NÀY ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG

1.1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN ODA
1.1.1 Khái niệm, bản chất và phân loại ODA
 Khái niệm
Hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các khoản viện trợ không hoàn
lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu
đãi của chính phủ, các tổ chức phi
chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức tài chính
quốc tế dành cho nước đang và chậm phát triển.
Nguồn vốn từ bên ngoài đưa vào các nước đang và chậm phát triển
được thực hiện thông qua các hình thức:
- Tài trợ phát triển chính thức (Official Development Finance -ODF) là
nguồn tài trợ chính thức của chính phủ cho mục tiêu phát triển. Nguồn vốn

nhập để trả nợ cho các loại vốn ODA.
 Bản chất
Trước những năm 70-80, ODA được coi là nguốn vốn viện trợ của các
nước phát triển cho các nước đang và kém phát triển, nó chủ
yếu là viện trợ
không hoàn lại (cho không) dưới hình thức viện trợ bằng hàng hoá là chủ yếu.
Ngày nay, ODA được hiểu là “Hỗ trợ phát triển chính thức”, là hình
thức hợp tác phát triển giữa các nước đã công nghiệp hoá, các tổ chức quốc tế
với các nước đang phát triển. Theo quan điểm này, phần nhỏ của ODA là viện
trợ không hoàn lại, còn chủ yếu là các khoản vốn vay với điều kiệ
n ưu đãi. Do
vậy, ODA là nguồn vốn có khả năng ”gây nợ”. Khi tiếp nhận và sử dụng
ODA, do tính chất ưu đãi của nó nên gánh nặng nợ nần thường không thấy
ngay. Một số nước do không sử dụng hiệu quả nên có thể tạo ra sự tăng
trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không
có khả năng trả nợ. Sự phức tạ
p ở chỗ, ODA không có khả năng đầu tư trực
tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu, xong việc trả nợ lại dựa vào xuất
khẩu để thu ngoại tệ. Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ thế giới
(IMF), xác định một quốc gia có khả năng trả nợ nước ngoài là khi nước này
có thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ nước ngoài hi
ện tại và tương lai mà

6
không cần dựa vào việc giảm hoặc bố trí lại lịch trả nợ hoặc chồng chất thêm
nợ, mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nước đó cần phải đạt các
tiêu chí sau:
- Tỷ lệ giữa nợ hiện tại theo thời giá so với xuất khẩu trong khoảng
200-250% (Tỷ lệ nợ tồn đọng).
- Tỷ lệ giữa dịch vụ

Theo mục đích
- Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây
dựng cơ bản
- Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn vốn giành cho chuyển giao tri
thức,
công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu
đầu tư, phát triển thể chế và nguồn nhân lực.... loại viện trợ này chủ yếu là
viện trợ không hoàn lại.
Theo điều kiện
- ODA không ràng buộc: Việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng
buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
- ODA có ràng buộc.
+ Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hoá, trang thiết
bị
hay dị
ch vụ bằng nguồn ODA chỉ giới hạn trong một số công ty do nước tài
trợ sở hữu hoặc kiểm soát (Đối với viện trợ song phương, hoặc công ty của
các nước thành viên (Với viện trợ đa phương).
+ Bởi mục đích sử dụng: chỉ được sử dụng ở một số lĩnh vực nhất định
hoặc một số dự án cụ th
ể.
+ ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần chi ở nước viện trợ, phần
còn lại chi ở bất cứ nơi nào.
Theo hình thức
- Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án
cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không
hoặc cho vay ưu đãi.
- H
ỗ trợ phi dự án bao gồm các hình thức sau:
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp

Thụy Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Mỹ, Ôtrâylia, Niudilân, Nhật Bản,
Luxămbua, Tây Ban Nha và Liên minh Châu Âu-EC.
1.2 VÀI NÉT VỀ CỘNG ĐỒNG CÁC NHÀ TÀI TRỢ
1.2.1 Cộng đồng các nhà tài trợ

9
 Nguồn cung cấp viện trợ song phương
- Các thành viên của DAC
Ngày 14-2-1960, tại Paris các nước đã thoả thuận thành lập tổ chức hợp
tác phát triển kinh tế-OECD, ban đầu gồm 20 viên thành viên. Trong khuôn
khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các ủy ban chuyên môn
trong đó có DAC, ủy ban hỗ trợ hợp tác phát triển, ban đầu gồm 18 thành
viên, hiện nay là 21 thành viên. Thành viên hiện nay của DAC gồm có: Áo,
Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Italia, Hà Lan, Nauy, Bồ Đào Nha,
Th
ụy Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Mỹ, Ôtrâylia, Niudilân, Nhật Bản,
Luxămbua, Tây Ban Nha và Liên minh Châu Âu-EC. Trong tổng số ODA
viện trợ song phương, ODA từ các nước thành viên của DAC là lớn nhất.
Năm 1997, DAC cung cấp 48,324 tỷ USD bằng 0,22% GNP của các nước
này. Năm 2000 là 45,711 tỷ USD, bằng 0,205% GNP. Trong giai đoạn từ
1991-1997, tất cả các nhà tài trợ đều giảm ODA/GNP, riêng Mỹ là nước giảm
nhiều nhất. Viện trợ của nước này nă
m 1997 là 6878 tỷ USD, chiếm 0,09%
GNP (trong khi năm 1991 là 11709 tỷ USD-0,2%GNP). Thụy Điển và các
nước Bắc Âu vốn được coi là hào phóng cũng chỉ dành viện trợ 1% GNP của
mình.
Bảng 1
: Điều kiện cho vay của một số nhà tài trợ lớn
Đối tác Lãi suất
(%)

hợp quốc. Ngân sách của Liên hợp quốc do các thành viên của Liên hợp quốc
đóng góp hàng năm. Mỹ là nước đóng góp nhiều nhất vào ngân sách c
ủa Liên
hợp quốc tuy nhiên hiện nay cũng là nước nợ những khoản phải đóng góp cho
Liên hợp quốc nhiều nhất.
- Quỹ tiền tệ quốc tế IMF: Được thành lập vào tháng 12 năm 1945
gồm 173 nước thành viên. Điều kiện cho vay của IMF khá khắt khe: Chính
phủ các nước đi vay phải cam kết không vi phạm điều lệ, phải thường xuyên
cung cấp các thông tin về tình hình tài chính tiền tệ của nướ
c mình, phải trả lệ
phí vay từ 0-5% giá trị khoản vay.
- Ngân hàng thế giới (WB): Ngân hàng thế giới gồm 5 tổ chức chính:
+ Ngân hàng tái thiết phát triển (International Bank for Reconstruction
and Development-IBRD). Lãi suất các khoản vay IBRD được điều chỉnh 6
tháng một lần, thời hạn trả nợ 15-20 năm, trong đó thời gian ân hạn là 5 năm.
+ Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development Association-
IDA). Vay IDA không có lãi suất chỉ có phí dịch vụ 0,75%/năm, thời hạn vay
40 năm trong
đó có thời gian ân hạn 10 năm.
+ Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation-IFC).

11
Vay IFC lãi suất vay tính theo lãi suất trên thị trường vốn quốc tế. Thời gian
vay từ 3-15 năm, thời gian ân hạn 5-8 năm.
+ Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment
Guarantee Agency-MIGA).
- Ngân hàng phát triển Châu Á (Asia Development Bank-ADB) gồm
55 nước thành viên.
+ Vay từ nguồn vốn phát triển Châu Á (ADF): Nguồn này dành cho
các nước có thu nhập dưới 851USD/người/năm, không lãi suất, thời gian hoàn

chính trong việc tiến hành thâm nhập văn hoá, tư tưởng đối v
ới nước nhận
viện trợ.
Mục tiêu thứ hai, các nhà tài trợ sử dụng ODA để mưu cầu kinh tế. Bỉ
và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa dịch vụ của
mình, Canada yêu cầu cao nhất tới 65%; Thụy Sĩ 1,7%; Hà Lan 2,2%. Nhìn
chung 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hoá của các
quốc gia viện trợ. Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích c
ủa mình
trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường
tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư. Nhật Bản là một minh chứng đầy đủ
về việc sử dụng ODA như là một công cụ ngoại giao lợi hại. Nhật Bản là một
quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên, họ lựa chọn con đường phát triển
kinh tế bằng việc
đẩy mạnh xuất khẩu. Do vậy, Nhật Bản rất cần mở rộng thị
trường ra nước ngoài để thúc đẩy sản xuất trong nước. Các nước Châu Á, đặc
biệt là khu vực Đông Nam Á đã thực sự hấp dẫn Nhật Bản về thị trường tiêu
thụ hàng hoá sản phẩm và thị trường đầu tư. Khu vực này có vị trí địa lý
thuận lợi, nguồn lao động dồ
i dào và rẻ mạt, tài nguyên thiên nhiên phong
phú, không quá xa Nhật Bản, về văn hoá có nhiều nét tương đồng. Thông qua
bồi thường chiến tranh, Nhật Bản đã bình thường hoá quan hệ ngoại giao với
các nước Đông Nam Á. Thời kỳ này, viện trợ của Nhật Bản chủ yếu là hàng
hóa, đây là cách tốt nhất để giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của Nhật ra nước
ngoài. Từng bước Nhật Bản đã biến Đ
ông Nam Á thành thị trường tiêu thụ
sản phẩm hết sức an toàn cho mình. Đồng thời thông qua ODA và các điều
kiện ràng buộc, các công ty của Nhật có được những hợp đồng béo bở, có
được những cơ hội đầu tư ưu đãi. Trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
năm 1997, Nhật Bản đã có một quyết định quan trọng trong việc trợ giúp các

hỗ trợ phát triển nên phần lớn ODA tập trung cho những nhóm nước có thu
nhập thấp và những nhóm nước chậm phát triển. Viện trợ từ các nước DAC
tập trung vào những nước có thu nhập thấp (Latest Income Countries-LIC
s
),
các nước chậm phát triển nhất (Latest Development Countries-LDC
s
) cũng
được viện trợ ngày càng tăng kể từ những năm 1970. Nhật Bản, Anh, Thụy Sĩ

14
và các nước Bắc Âu tập trung viện trợ các nước LIC
s
, trong đó các nước Bắc
Âu tập trung vào các nước LDC
s
.
- Phân phối ODA theo lĩnh vực của DAC:
+ Giáo dục, y tế: 16,8%
+ Cung cấp nước và vệ sinh: 6,6%
+ Vận tải, thông tin, năng lượng: 24,5%
+ Nông nghiệp: 9,5%
+ Giảm nợ: 5,7%
+ Cứu trợ khẩn cấp: 5,1%
+ Hỗ trợ chương trình: 4,7%
+ Còn lại là các lĩnh vực khác
1.2.4 Những ưu đãi của ODA
So với hình thức vay vốn và tài trợ khác, ODA mang nhiều tính ưu đãi
hơn. Các khoản vốn ODA thường có thời gian vay (th
ời gian hoàn trả) dài,

tế xã hội có vai trò quan trọ
ng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một
vùng, một quốc gia. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm các bộ phận chủ yếu sau:
- Hệ thống giao thông
- Hệ thống cấp nước sạch
- Hệ thống thoát nước
- Công viên, cây xanh
- Vệ sinh, môi trường
- Hệ thống chiếu sáng công cộng
- Hệ thống bưu chính vi
ễn thông
Đầu tư cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật có một số đặc điểm chủ
yếu sau:
-
Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi một khối lượng

vốn, vật tư, lao động lớn. Do đó, các giai đoạn của quá trình đầu tư, đặc biệt
là giai đoạn chuẩn bị đầu tư phải được tiến hành nghiêm túc, tỷ mỷ đảm bảo
tính chính xác và khoa học. Khi xây dựng các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng
cần nghiên cứu, đánh giá các nguồn vốn huy động (vốn ngân sách, vốn tư
nhân, vốn nước ngoài...) về: khả
năng huy động, lãi suất, điều kiện vay vốn,
thời hạn vay, tiến độ giải ngân, phương thức hoàn trả... để tìm ra nguồn vốn
phù hợp. Đồng thời, dự tính các nguồn cung cấp vật tư (trong nước, quốc tế,

16
đơn vị cung cấp, giá cả...), và dự tính các nguồn lao động sử dụng (lao động
địa phương, chuyên gia trong nước, chuyên gia quốc tế...). Trong giai đoạn
thực hiện dự án phải đảm bảo triển khai đúng tiến độ, rút ngắn thời gian thi
công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, lao động, vật tư. Bên cạnh đó, phải xem


17
10 năm, thậm chí hàng trăm năm. Vì vậy, quá trình vận hành cần phải kết hợp
với bảo trì, bảo dưỡng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và tuổi thọ của
công trình.
- Vị trí của các công trình cố định, gắn liền với các điều kiện về địa
hình, địa chất, khí hậu và các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội. Do đó,
ch
ọn địa điểm triển khai dự án có quyết định không nhỏ tới sự thành công của
dự án và có tác động lớn đến văn hoá, kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng
của địa phương nơi có dự án triển khai thực hiện.
- Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật có hiệu quả kinh tế-xã hội
lớn, tuy nhiên hiệu quả tài chính trực tiếp thường khó
đánh giá, khó xác định,
khả năng thu hồi vốn thấp.
Nghiên cứu những đặc điểm nói trên của đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ
thuật cho phép chúng ta có những biện pháp quản lý tối ưu và lựa chọn các
nguồn vốn đầu tư phù hợp.
1.3.2 Vai trò của đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng k
ỹ thuật không trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất tạo ra của cải vật chất, nhưng có vai trò hết sức quan trọng thúc đẩy sản
xuất phát triển, là cơ sở nền tảng nâng cao chất lượng cuộc sống con người.
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng đô thị có những vai trò cơ bản sau:
 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Theo thống kê của WB, cứ 1% đầu tư
cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở
các nước đang phát triển sẽ tạo ra 1% tốc độ tăng trưởng của GNP. Mối quan
hệ này thể hiện qua chỉ số ICOR
Vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật

, mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt
được.
Mặt khác, khi thành quả của công cuộc đầu tư phát huy tác dụng, các
công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật được đưa vào phục vụ đời sống nhân dân,
nó sẽ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành khác
phát triển, từ đó làm tăng giá trị sản xuất (GO) của các ngành, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.

Tạo ra sự chuyển dịch kinh tế
Đầu tư, đặc biệt là đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật được chính phủ
các nước sử dụng như một công cụ điều chỉnh tốc độ tăng trưởng như mong
muốn và điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Ở các nước đang phát triển, tăng cường
đầu tư cho kế
t cấu hạ tầng kỹ thuật một mặt tạo ra sự tăng trưởng nhanh ở khu
vực công nghiệp và dịch vụ, mặt khác sẽ thúc đẩy (hoặc hạn chế) sự phát triển
của một số ngành, kết quả là sẽ kéo theo sự chuyển dịch kinh tế. Thực tế, ở
Việt Nam trong thời gian qua là một ví dụ, việc tăng cường đầu tư cho kết cấu
h
ạ tầng kỹ thuật ở các khu công nghiệp (Bình Dương, Sóng Thần...), các vùng
kinh tế trọng điểm (Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM...) đã tạo tiền đề thúc đẩy sự
phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực công nghiệp-du lịch-dịch vụ ở các

19
vùng đó nói riêng và cả nước nói chung (giá trị sản xuất công nghiệp ở Hà
Nội năm 2001 tăng 10,6%; TP HCM tăng 14,5%...). Bên cạnh đó, việc phát
triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
làm giảm quỹ đất nông nghiệp, giảm diện tích vùng nguyên liệu của một số
ngành công nghiệp chế biến (mía đường, dầu thực vật...), kết quả làm giảm
tương đối sự
phát triển của các ngành này, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh

THUẬT CỦA CÁC NƯỚC
1.4.1 Bài học thành công
Các nước như Bostwana, Chi lê, Hàn Quốc, Malaysia, Srilanka... đã sử
dụ
ng có hiệu quả nguồn vốn vay và tài trợ nước ngoài, tạo thế và lực, đẩy
nhanh quá trình phát triển kinh tế. Sự thành công trên bắt nguồn từ những
nguyên nhân sau:
- Có chiến lược, chính sách thu hút vốn ODA rõ ràng. Có sự tổ chức,
điều phối nhịp nhàng giữa các cơ quan thực hiện, đẩy nhanh tốc độ giải ngân
vốn ODA và sử dụng có hiệu quả.
- Có sự cân nhắc kỹ lưỡng từng nguồ
n vốn vay và tài trợ: về điều kiện
vay, thủ tục, qui mô... để lựa chọn ra nguồn vốn tài trợ tối ưu phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
- Có sự điều phối, huy động các nguồn vốn đối ứng để đẩy nhanh tốc
độ giải ngân.
- Có chiến lược đào tạo, hình thành độ
i ngũ cán bộ kỹ thuật có trình
độ năng lực tham gia trực tiếp vào dự án
- Có sự thẩm định, chọn lọc dự án kỹ lưỡng, kết hợp với việc giám sát
thực hiện dự án nghiêm túc.
- Có khả năng quản lý nợ nước ngoài, đồng thời có chiến lược, kế
hoạch vận động, kêu gọi tài trợ vốn ODA cho từng chương trình, dự án, mục
tiêu cụ
thể.
1.4.2 Bài học thất bại
Một số quốc gia không thành công trong công tác huy động, sử dụng
nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, phải kể
đến là các quốc gia khu vực nam Sahara (SSA): Ghana, Senegal, Tazania...


quả do thiếu các nguồn lực về tổ chứ
c và nguồn lực trong nước, cụ thể là
chính phủ không thành công trong việc cung cấp vốn đối ứng và nhân sự. Sự
thiếu chuyên môn thẩm định dự án ODA tại các đơn vị thực hiện là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ trong vấn đề giải ngân vốn.

22
- Sự thất bại của các nước SSA (South of Shahara Africa) là do quá phụ
thuộc vào nguồn vốn vay nước ngoài, không có chiến lược phát triển phù hợp
với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước và chính sách thích hợp với từng
giai đoạn, trên cơ sở phát huy nội lực và tạo vốn từ bên trong, sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn ODA tài trợ.
23
CHƯƠNG 2- THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ODA CHO PHÁT
TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 TỔNG QUAN VỀ ODA Ở VIỆT NAM

Từ năm 1990 trở về trước, nguồn viện trợ ODA chủ yếu từ Liên Xô
(cũ) và các nước Đông Âu. Phần lớn viện trợ không hoàn lại dưới dạng viện
trợ hàng hoá hoặc hỗ trợ kỹ thuật. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông
Âu năm 1991 cũng chấm dứt dòng viện trợ này. Từ năm 1991-1993, hoạt
động ODA ở Việt Nam “trầm lắng”, gầ
n như không đáng kể. Sự khơi thông
lại dòng viện trợ giữa Việt Nam và quốc tế được đánh dấu vào ngày 9 tháng
11 năm 1993-Hội nghị quốc tế các nhà tài trợ dành cho Việt Nam đã khai mạc
tại Pari (Pháp). Tham gia hội nghị này gồm 22 quốc gia và 17 tổ chức quốc tế.

: Vốn ODA giải ngân phân bổ theo ngành trong năm 2000 ở
Việt Nam
Ngành Vốn ODA
(trUSD)
Tỷ lệ
(%)
1. Cơ sở hạ tầng
- Năng lượng
- Giao thông vận tải
- Nước sạch và vệ sinh môi trường
- Phát triển đô thị
741
401
244
70
19
56
31
19
5
1
2. Phát triển con người
- Y tế
- Giáo dục đào tạo
- Phát triển xã hội
207
107
85
15
16

2.1.3 ODA phân bổ theo đối tác tài trợ
Mười nhà tài trợ lớn nhất trong năm 2000 chiếm hơn 90% ODA giải
ngân được thể hiện trong Bảng 3.
Bảng 3
: Mười nhà tài trợ ODA lớn nhất trong năm 2000
Nhà tài trợ Vốn ODA (trUSD) Tỷ lệ (%)
Nhật Bản 531 44
ADB 199 17
WB 158 13
Pháp 71 6
Liên hợp quốc 52 4
Đức 51 4
Ôtrâylia 48 4
Thụy Điển 47 4
Đan Mạch 37 3
Liên minh Châu Âu (EU) 16 1
Tổng 1.210 100
Nguồn: Báo cáo điều tra ODA của UNDP
Nhật Bản đã củng cố vị trí là nhà tài trợ lớn nhất, với mức giải ngân
trong năm 2002 đạt 531 triệu USD. Đầu tư của Nhật Bản tập trung vào một số
ngành như: năng lượng, giao thông vận tải (xây dựng đường quốc lộ, khôi
phục cầu), xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và y tế.
ADB có mức giải ngân lớn th
ứ hai (gần 200 triệu USD), chủ yếu thuộc
các lĩnh vực giao thông vận tải, năng lượng, hỗ trợ cho lĩnh vực thể chế, chính
sách.
Sau khi đạt đỉnh cao năm 1998 (258 triệu USD), mức giải ngân của
WB giảm dần, trong năm 2000 158 triệu USD, chiếm 13% tổng vốn ODA cả
nước. Tài trợ của WB phần lớn tập trung cho ngành năng lượng, giao thông
vận tải, các chương trình cấp nước, vệ sinh môi trườ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status