Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
KHOA TOÁN KINH TẾ
Đề tài
Lập và quản lý danh mục
đầu tư theo phương pháp
CANSLIMSV
TH: SVTH: Nguyễn Lê Duy
Lớp Toán tài chính khóa 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu hình vẽ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ VÀ
PHƯƠNG PHÁP CANSLIM 2
1.1. Khái niệm danh mục đầu tư và sự cần thiết phải đầu tư theo danh mục.
11
1.4. Phương pháp CANSLIM
12
1.4.1. C: Lợi tức trên cổ phần quý hiện tại (Current Quarterly Earings per share)
12
1.4.1.1. Giới thiệu về chỉ số EPS
12
1.4.1.2. Cách sử dụng chỉ số EPS theo CANSLIM
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
1.4.2. Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm (A: Annual Earnings increases). Tìm sự gia tăng đột
biến
15
1.4.2.1. Tiêu chí về A
15
1.4.2.2. P/E và việc sử dụng sai ý nghĩa của nó.
15
1.4.3. N: Sản phẩm mới,lãnh đạo mới,đỉnh giá mới (New Products, New qualified
Management, new highs)
21
1.4.4. S: Quy luật cung cầu của cổ phiếu (Supply and Demand)
21
1.4.4.1. Lượng cổ phiếu được cung cấp lớn hay nhỏ.
22
1.4.4.2. Tách cổ phần quá mức có thế gây ảnh hưởng xấu
33
CHƯƠNG II: XÁC ĐỊNH DANH MỤC ĐẦU TƯ Ở CÔNG TY FIT 34
2.1. Giới thiệu công ty FIT và phương pháp đầu tư CANSLIM
34
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
2.2. Phương pháp CANSLIM hiệu chỉnh (Bộ lọc cổ phiếu)
35
2.2.1. Nhóm chỉ tiêu phân tích cơ bản
35
2.2.1.1. Chỉ tiêu về ngành, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp:
35
2.2.1.2. Chỉ tiêu về vị thế công ty trong ngành, chiến lược phát triển(Bước 2)
35
2.2.1.3. Chỉ tiêu về cơ cấu cổ đông, Ban lãnh đạo (tương ứng tiêu chuẩn I trong
Canslim - Bước 3).
36
2.2.1.4. Chỉ tiêu tài chính (Bước 4):
36
2.2.2. Nhóm chỉ tiêu phân tích kỹ thuật (Bước 5)
37
2.2.2.1. Chỉ tiêu về tính thanh khoản:
38
2.2.2.2. Chỉ tiêu về hỗ trợ từ các nhà đầu tư, tổ chức lớn 38
2.2.2.3. Tỷ lệ vốn hoá thị trường:
38
2.3. Xác định danh mục đầu tư ở công ty FIT
38
3.1.4.3. Ứng dụng của MACD
48
3.1.5. Đường RSI
49
3.1.5.1. Ý nghĩa
49
3.1.5.2. Công thức
49
3.1.5.3. Cách sử dụng chỉ số
50
3.1.6. Dải Bollinger Band
50
3.1.6.1. Ý nghĩa
50
3.1.6.2. Công thức
52
3.1.6.3. Ứng dụng thực tế 52
3.2. Ứng dụng phân tích kỹ thuật vào mua bán cổ phiếu
53
3.3. Đánh giá danh mục
68
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 73
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47 DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ
Hình 3.1. Tác dụng của đường xu hướng trong việc ra quyết định đầu tư
60
Hình 3.18: Đường xu thế của DBC đến ngày 9/3/2009
61
Hình 3.19: Đường MACD của DBC đến ngày 9/3/2009
61
Hình 3.20: Đường RSI của DBC đến ngày 9/3/2009
62
Hình 3.21: Dải Bollinger của DBC đến ngày 9/3/2009
62
Hình 3.22: Đường Ichimoku của DBC đến ngày 9/3/2009
63
Hình 3.23: Đường MACD của SCJ đến ngày 9/3/2009
63
Hình 3.24: Dải Bollinger của SCJ đến ngày 9/3/2009
64
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
Hình 3.25: Đường Ichimoku của SCJ đến ngày 9/3/2009
64
Hình 3.26: Đường Ichimoku của S99 đến ngày 24/3/2009
66
Hình 3.27: RSI – MACD và Bollinger của S99 đến ngày 24/3/2009
67
Hình 3.28: Đường Ichimoku của SD9 đến ngày 24/03/2009
67
Hình 3.29: RSI – MACD, Bollinger của SD9 đến ngày 24/03/2009 68
một danh mục tối ưu như thế nào, quản lý danh mục đó như thế nào để thu được
lợi nhuận cao nhất, cho dù đó là thời kỳ tăng trưởng hay suy thoái của thị trường.
Em đã lựa chọn đề tài
“ Lập và quản lý danh mục đầu tư theo phương pháp CANSLIM”
Chuyên đề thực tập gồm 3 chương
Chương I: Lý thuyết danh mục đầu tư và phương pháp CASLIM. Nội
dung chủ yếu của chương này giúp người đọc hiểu về danh mục đầu tư và
phương pháp lựa chọn cổ phiếu rất mới mẻ CANSLIM.
Chương II: Xác định danh mục đầu tư ở công ty FIT. Với việc vận dụng
kiến thức ở chương I, chương này sẽ đưa ra danh mục tối ưu ở công ty FIT
Chương III: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong mua bán cổ phiếu.
Chương này sẽ giới thiệu ngắn gọn về phân tích kỹ thuật và ứng dụng cũng như
tác dụng của nó trong việc kiếm lời trên TTCK hiên nay.
Trong quá trình học tập tại trường cũng như quá trình thực tập tại công ty FIT
em đã được sự giúp đỡ của thầy cô và các anh các chị tại công ty FIT. Em xin
chân thành cảm ơn ThS Trần Chung Thủy và Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ
nhân viên trong công ty FIT đã giúp em trong việc lựa chọn đề tài và thực hiện
tốt chuyên đề này.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU T
Ư VÀ
PHƯƠNG PHÁP CANSLIM
1.1. Khái niệm danh mục đầu tư và sự cần thiết phải đầu tư theo danh mục.
1.1.1. Khái niệm danh mục đầu tư
Hiểu một cách đơn giản nhất thì danh mục là tập hợp gồm ít nhất hai loại
tài sản trở lên. Vì vậy danh mục đầu tư chứng khoán là khoản đầu tư của cá nhân
hoặc tổ chức vào việc nắm giữ các tài khoản chứng khoán như: cổ phiếu, trái
1.1.2.2. Đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm
mục đích thu được nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư chứng khoán. Đó là phần
doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty. Khi thị trường chứng khoán ngày
càng phát triển và hoàn thiện, đầu tư chứng khoán là một lĩnh vực quan trọng
giúp các tổ chức kinh doanh gia tăng nguồn lợi nhuận của mình.
Đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp các tổ chức kinh doanh thu được các
khoản lợi nhuận dự tính trong khi vẫn đảm bảo khả năng an toàn hoạt động. Khi
đó, nhờ vào việc đa dạng hóa danh mục đầu tư mà các tổ chức kinh doanh chứng
khoán vừa tạo ra khoản lợi nhuận cao vừa đáp ứng được yêu cầu về an toàn vốn
đầu tư. Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, các tổ chức kinh doanh có thể
đầu tư bằng cách góp vốn vào công ty cổ phần với tư cách là cổ đông sáng lập,
hoặc tham gia giao dịch trực tiếp trên thị trường chứng khoán.
Như vậy, đầu tư bằng danh mục đầu tư là thật sự cần thiết đối với các nhà
đầu tư, tổ chức khi tham gia vào thị trường chứng khoán.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
1.2. Lý thuyết về danh mục đầu tư
1.2.1. Lý thuyết về sự lựa chọn tài sản đầu tư
Lựa chọn danh mục đầu tư được dựa trên cơ sở lý thuyết về sự lựa chọn
tài sản đầu tư. Lý thuyết này được các nhà kinh tế Mỹ đưa ra từ những thập kỳ
50 thế kỷ XX khi nghiên cứu về đầu tư của các cá nhân và tổ chức xã hội, nó giải
thích vì sao nhà đầu tư lại lựa chọn đầu tư vào loại tài sản này mà không lựa
chọn loại tài sản khác. Các loại tài sản có thể lựa chọn như: tiền, chứng khoán,
tác phẩm nghệ thuật, bất động sản
Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng, trước khi quyết định đầu tư các nhà đầu tư
thường xem xét 5 tiêu chí trọng điểm:
- của cải hay tiềm lực kinh tế hiện có của nhà đầu tư
lợi nhuận mong đợi để bù đắp cho loại rủi ro này chính là phần bù rủi ro chứng
khoán. Loại rủi ro không thể triệt tiêu được gọi là rủi ro hệ thống, phần lợi nhuận
mong đợi tương ứng với loại rủi ro này chính là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro.
Một cách tổng quát nếu một danh mục đầu tư này tốt hơn danh mục đầu
tư kia thì danh mục đó phải có đồng thời mức lợi suất đầu tư lớn hơn và mức rủi
ro nhỏ hơn.
1.2.4. Lý thuyết đa dạng hóa
Nhà đầu tư nên đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau để tạo thành
một danh mục đầu tư sao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục sẽ được
giới hạn ở mức nhỏ nhất. Mỗi một chứng khoán đều tiềm ẩn hai loại rủi ro: rủi ro
hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống là rủi ro do thị trường gây ra và
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
ảnh hưởng đến tất cả các chứng khoán trên thị trường. Do vậy, rủi ro hệ thống là
rủi ro không thể tránh được bằng hình thức đa dạng hoá. Ngược lại, rủi ro phi hệ
thống có thể hạn chế được bằng biện pháp đa dạng hoá đầu tư.
Tức là, mức độ chấp nhận rủi ro cao hay thấp của danh mục sẽ phụ thuộc
vào mối quan hệ tương tác giữa các chứng khoán đưa vào danh mục với các
chứng khoán khác. Nếu danh mục càng đa dạng thì khả năng giảm thiểu rủi ro
phi hệ thống càng lớn.
1.2.5. Lý thuyết lựa chọn cổ phiếu theo mô hình của Markowitz
1.2.5.1. Mô hình của Markowitz
Ý tưởng đa dạng hoá rủi ro là một ý tưởng đã tồn tại từ rất lâu. Tuy nhiên
phải đến năm 1952, Harry Markowitz mới đưa ra một mô hình chính thức trong
việc lựa chọn danh mục đầu tư, trong đó phản ánh nguyên tắc về đa dạng hoá rủi
ro. Mô hình của ông chính là bước đầu tiên của quản lý danh mục đầu tư: xác
định một hệ thống các danh mục đầu tư hiệu quả, tập hợp các danh mục này sẽ
có một đường cong biên hiệu quả các danh mục chứng khoán rủi ro, thường gọi
i
w W U
Tổng tỷ trọng các tài sản trong danh mục bằng 1.
Vector U là vector:
1
1
1
U
Trong danh mục không có bán khống tức là
i
w 0
Lợi suất của tài sản i:
),(~
2
iii
Với
2
i
= Var(r
i
) là phương sai của lợi suất tài sản i;
ij
= Cov(r
i
,r
j
) là hiệp
phương sai của hai tài sản i và j
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
Do V là ma trận đối xứng không âm nên tồn tại ma trận nghịch đảo
1
V
là ma
trận đối xứng và xác định dương.
Lợi suất của danh mục được xác định:
'
= W’VW Min
Điều kiện:
N
'
i
1
'
i
1
w W
w W 1
p i
i
N
i
R R R
U
*
tối ưu:
Tồn tại
* *
,
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
'
'
w, ,
1 0
w, ,
0
w, ,
1 1 0
-1
1
B
'
1
V
-1
R
C
'
R
V
-1
R
1 1
- -
A V R - B V 1
Danh mục tối ưu (P
*)
: W
*
Có dạng: W
*
= g + r
o
*h
Nhận thấy: g, h luôn xác định một cách duy nhất chỉ phụ thuộc vào V và
R
do đó nếu các đại lượng này không thay đổi thì g và h không thay đổi. Với
mỗi r
o
cho trước luôn xác định một danh mục tối ưu duy nhất. W
*
(V,
R
, r
o
) =
Trong đó :
f
r
: Lợi suất phi rủi ro
P
r
: Lợi suất trung bình của danh mục P
P
: Độ dao động của danh mục
P
S
: Chỉ số Sharpe của danh mục P.
B
S
: Chỉ số Sharpe của danh mục đối chứng B
Nếu
P B
S S
thì danh mục P được đánh giá là thực thi tốt.
Chỉ số Treynor
P f
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
tốt nhất mục tiêu của chủ đầu tư và sau đó thực hiện theo dõi, điều chỉnh các
danh mục này nhằm tái tối ưu hoá danh mục để đạt được các mục tiêu đầu tư đề
ra.
1.3.2. Chiến lược quản lý danh mục đầu tư
Khi đã có danh mục các nhà đầu tư có chiến lược phù hợp để quản
lý danh mục của mình. Thực tế có ba loại chiến lược, đó là:
Chiến lược quản lý thụ động: là chiến lược mua bán theo một chuẩn mực
nào đó. Mục đích của chiến lược này không phải để tạo ra danh mục vượt trội so
với chỉ số chuẩn trên thị trường mà tạo ra một danh mục có số lượng và chủng
loại gần giống với chỉ số chuẩn (chỉ số mục tiêu) để nhằm đạt được mức sinh lời
dự kiến tương đương với mức sinh lời chuẩn.
Khi các nhà đầu tư nhận định, đánh giá về lợi suất và rủi ro của tài sản đều
cho rằng các tài sản đã được định giá đúng và khi đó thay đổi danh mục sẽ không
đem lại lợi ích gì vì vậy họ thực hiện 1 chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ
động còn gọi là chiến lược mua và nắm giữ.
Chiến lược quản lý chủ động là chiến lược quản lý mà nhà đầu tư cho rằng
các tài sản được định giá sai hoặc qua phân tích và dự báo, lợi suất và rủi ro của
tài sản khác với số đông. Khi này, nhà đầu tư quyết định điều chỉnh danh mục để
kiếm lời. Do đó, danh mục của chiến lược đầu tư chủ động là biến đổi theo biến
động của
Chiến lược quản lý hỗn hợp: Phương pháp quản lý thụ động đơn thuần chỉ
có tác dụng đa dạng hoá danh mục, không có tác dụng phòng tránh rủi ro hệ
thống. Để danh mục đạt được các mục tiêu đề ra và phòng tránh được cả rủi ro
hệ thống, các nhà quản lý danh mục một mặt thiết lập danh mục theo phương
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Tỷ lệ biến động của EPS là yếu tố riêng rẽ quan trọng nhất trong việc lựa
chọn cổ phiếu ngày nay. Tỷ lệ này có giá trị dương ( tăng trưởng ) càng cao càng
tốt. Một nhà quản lý tài chính chuyên nghiệp sẽ không đầu tư vào một cổ phiếu
có báo cáo lợi tức mới nhất giậm chân tại chỗ hoặc đi xuống. Ngay cả khi tỷ lệ
tăng trưởng lợi tức từ 5% tới 10% cũng không đủ kích hoạt một giai đoạn tăng
giá mạnh của cổ phiếu. Việc chú trọng đến tăng trưởng lợi tức trong chiến thuật
CASLIM sẽ đảm bảo nhà đầu tư luôn luôn được dẫn dắt đến với những cổ phiếu
mạnh mẽ trong bất kỳ một chu kỳ thị trường nào, bất chấp hiện tượng bong bong
giá. Nhưng cũng nên nhớ, đừng mua chỉ dựa trên một mình mức tăng trưởng lợi
tức.
Đặt ra một mức sàn tối thiểu cho tỷ lệ tăng trưởng lợi tức
Không nên mua bất kỳ cổ phiếu nào mà báo cáo tỷ lệ tăng trưởng lợi tức
không vượt qua con số 18% trong quý gần nhất so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong thời kỳ tăng trưởng hãy tập trung vào những cổ phiếu có mức tăng
lợi tức mạnh mẽ - từ 40% hoặc cao hơn. Để làm tốt hơn nữa trong tiến trình lựa
chọn cổ phiếu hãy dự đoán lợi tức trong một hay hai quý tiếp theo và so sánh với
cùng kỳ năm trước. Chú ý xem lợi tức trong các quý sắp tới có thể sẽ đảo ngược
một kết quả lợi tức lớn hoặc nhỏ bất thường trong cùng kỳ năm trước hay không.
Nếu những kết quả bất thường trong năm trước không phải do yếu tố thời
vụ gây ra, bước đi này có thể giúp bạn dự đoán một báo cáo lợi tức tốt hoặc xấu
trong những tháng tiếp theo. Ngoài ra cũng không quên tham khảo những ước
lượng lợi tức của một nhóm lớn các nhà phân tích cho một vài quý tiếp theo
cũng như một hai năm tới để đảm bảo là công ty mà chúng ta đang quan tâm
đang đi trên một lộ trình tích cực.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
Xem xét các báo cáo về lợi tức, chú ý sự tăng tốc trong tỷ lệ tăng trưởng
1.4.2. Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm (A: Annual Earnings increases). Tìm sự
gia tăng đột biến
1.3.2.1. Tiêu chí về A
Bất kỳ một công ty nào cũng có thể báo cáo một quý có lợi tức tốt vào một
thời điểm nào đó, và mức lợi tức cao trong quý hiện tại là một tiêu chí then chốt
để lựa chọn hầu hết các cổ phiếu thành công nhất trên thị trường. Nhưng điều đó
thôi là chưa đủ.
Để bảo đảm rằng kết quả mới nhất không phải là kết quả hiếm hoi, rằng
công ty mà chúng ta đang quan tâm là một công ty chất lượng,chúng ta phải dựa
vào nhiều chứng cớ hơn, một trong số đó là xem xét tỷ lệ tăng trưởng lợi tức
hàng năm của công ty đó.
Theo CANSLIM thì hãy tìm những cổ phiếu có mức lợi tức trên cổ phần
hàng năm tăng đều đặn trong suốt ba năm vừa qua,tỷ lệ tăng trưởng này phải từ
25% đến 50% hoặc cao hơn. Thêm vào đó chúng ta cũng cần quan tâm tới lợi
suất trên vốn cổ phần (ROE) hàng năm của công ty đang xét,thấp nhất là 17%.
Lợi suất trên vốn cổ phần giúp phân biệt những công ty được điều hành tốt và
những công ty có bộ máy điều hành kém cỏi. Ngoài ra, hãy tìm những cổ phiếu
tăng tiến – có mức quay vòng vốn hàng năm trên mỗi cổ phần cao hơn lợi tức
thực tế trên mỗi cổ phần ít nhất 20%.
1.4.2.2. P/E và việc sử dụng sai ý nghĩa của nó.
Nhận định chung về P/E
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán Kinh Tế
Nguyễn Lê Duy Toán Tài Chính 47
Trong hầu hết các trường hợp, việc tính toán tỷ lệ P/E đều có sử dụng tới
chỉ số EPS của 4 quý trước. Điều này được hiểu như là một dấu hiệu của P/E.
Tuy nhiên, cũng có lúc chỉ số EPS được lấy từ việc ước tính lợi nhuận kì vọng
cho 4 quý tiếp theo. P/E tính theo cách này được gọi là P/E định hướng hay P/E
kế hoạch. Một cách tính khác cũng thường được thấy là sử dụng EPS của hai quý
P/E sẽ hạ thấp xuống)
Một trường hợp khác, cổ phiếu có chỉ số P/E cao là vì một lý do nào đó
thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) rất nhỏ, dù thị giá của cổ phiếu này không cao
nên người ta chấp nhận với kỳ vọng EPS được cải thiện, giá cổ phiếu sẽ tăng.
Chú ý rằng việc so sánh chỉ số P/E cao thấp giữa hai ngành khác nhau là khập
khiễng vì mỗi ngành có các đặc thù riêng. Chẳng hạn các ngành ngân hàng, bán
lẻ, đầu tư tài chính, công nghệ thông tin được các nhà đầu tư chấp nhận với chỉ
số P/E cao, các ngành sản xuất cơ bản như cơ khí, sản xuất giấy được chấp nhận
với hệ số P/E thấp hơn.
P/E thấp
Xảy ra ở TTCK giảm giá mạnh, ngủ đông nhiều năm liền hoặc nền kinh
tế tăng trưởng rất chậm hay đang trên đà suy thoái. Chỉ số P/E thấp cũng nằm
trong một số ngành không có tiềm năng phát triển hoặc ở cổ phiếu của các công
ty yếu kém, đội sổ trong một ngành, hoặc các cổ phiếu không được sự quan tâm
nắm giữ của các tổ chức. Lời khuyên của các chuyên gia chứng khoán là tập
trung vào các cổ phiếu có chỉ số P/E thấp, tuy nhiên điều này không hoàn toàn
đúng. Bất kỳ ai mua một chứng khoán cũng tìm kiếm lợi nhuận đến từ hai
nguồn: cổ tức và sự tăng giá của cổ phiếu. Thông thường lợi nhuận đến từ việc