PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ (CSTT) CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC
ϖ Chủ đề:
PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (CSTT) CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC (NHNN) VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
ϖ NỘI DUNG CHÍNH:
I. Tìm hiểu chung về chính sách tiền tệ
1. Khái niệm
2. Mối quan hệ giữa các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ
3. Thực trạng chung
II. Tìm hiểu các công cụ của chính sách tiền tệ.
1. Nghiệp vụ thị trường mở
2. Chính sách tái chiết khấu
3. Dự trữ bắt buộc
4. Ấn định hạn mức tín dụng
5. Quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại
III. Phân tích và bình luận việc thực thi chính sách tiền tệ (CSTT) ở Việt Nam trong thời gian
gần đây.
1. Trước năm 2008
a. Từ năm 1986-1999
b. Từ năm 2000-2007
2. Năm 2008 đến nay
2.1. Năm 2008
a. Tình hình kinh tế
b. Phân tích và bình luận việc thực thi CSTT
2.2. Năm 2009
a. Tình hình kinh tế
b. Phân tích và bình luận việc thực thi CSTT
2.3. Năm 2010
a. Tình hình kinh tế
hai mục tiêu còn lại trong ngắn hạn. Bởi vì để thực hiện mục tiêu giảm lạm phát, ổn định giá
cả thì phải áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt. Và như vậy thì trong ngắn hạn không thể thực
hiện được hai mục tiêu còn lại. Ngược lại, khi nền kinh tế mở rộng, thất nghiệp giảm, nền
kinh tế phát triển quá nóng dẫn đến lạm phát gia tăng. . Tuy nhiên, xét các mục tiêu trên trong
dài hạn thì chúng lại không mâu thuẫn với nhau. Mối quan hệ giữa mục tiêu giảm thất nghiệp
và mục tiêu tăng trưởng kinh tế không mâu thuẫn cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Hầu hết NHTW đều đặt ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của CSTT. Nhưng
trong ngắn hạn, dưới áp lực của chính trị, họ có thể tạm thời từ bỏ mục tiêu chủ yếu để hạn
chế tình trạng thất nghiệp Ngân hàng trung ương không thể đạt được đồng thời tất cả các
mục tiêu trong ngắn hạn và thường thì NHTW theo đuổi một mục tiêu trong dài hạn và đa
mục tiêu trong ngắn hạn.
3. Thực trạng chung:
Nhìn chung, tư tưởng chủ đạo trong chính sách tiền tệ của Việt Nam là có tính đan xen giữa
mở rộng thận trọng và thắt chặt linh hoạt trong từng thời điểm cụ thể mang tính ngắn hạn,
còn các công cụ chính sách tiền tệ ngày càng đa dạng và được NHNN điều hành khá mềm
dẻo, đồng bộ, ngày càng phù hợp cơ chế và bám sát các tín hiệu thị trường, đồng thời ngày
càng phù hợp xu thế vận động chung của chính sách tiền tệ khu vực, cũng như thế giới, biểu
hiện rõ nét nhất trong chính sách kích cầu năm 2009, và các điều chỉnh về lãi suất 2010,
2011.
II. TÌM HIỂU CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Để thực hiện được những mục tiêu đặt ra trong chính sách tiền tệ, NHNN chủ yếu sử dụng
thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. NHNN sử dụng 2 nhóm công cụ CSTT đó là:
nhóm công cụ gián tiếp (thị trường) được sử dụng phổ biến hiện nay; và nhóm công cụ trực
tiếp (hành chính) hiếm dùng.
¬ Sau đây là các công cụ CSTT dùng phổ biến hiện nay:
1. Nghiệp vụ thị trường mở: Là việc mà NHNN mua và bán các chúng khoán có giá (chủ yếu
là tín phiếu kho bạc) trên thị trường.
Muốn tăng khối lượng tiền lưu thông, mở rộng tín dụng, NHTW mua các giấy tờ có giá trên
thị trường tiền tệ và ngược lại.
Các nghiệp vụ thị trường mở là công cụ CSTT quan trọng nhất, bởi vì chúng là những nhân
thương mại có thể giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và do vậy số nhân tiền tệ tăng lên dẫn đến tăng
lượng cung tiền.
Tuy nhiên, tác dụng của chính sách này chỉ phát huy khi các tổ chức tín dụng có nhu cầu vay
vốn từ NHNN.
3. Dự trữ bắt buộc: Là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản gửi ở ngân
hàng trung ương.
Sự tăng lên hay giảm xuống của tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo tiền và lãi suất
cho vay của các ngân hàng thương mại, qua đó tác động đến lượng tiền cung ứng.
Ưu, nhược điểm:
• Ưu điểm: Đây là công cụ có quyền lực ảnh hưởng rất mạnh đến lượng tiền cung ứng. Chỉ
cần một thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể khối lượng
tiền cung ứng.
• Nhược điểm: Bất lợi chủ yếu của công cụ dự trữ bắt buộc là có thể khiến cho một số ngân
hàng có dự trữ vượt mức quá thấp rơi vào tình trạng mất "khả năng thanh toán ngay". Đồng
thời, việc thay đổi thường xuyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc khiến cho các ngân hàng rơi vào tình
trạng bất ổn trong việc quản lý thanh khoản, làm phát sinh tăng chi phí.
4. Ấn định hạn mức tín dụng: Là quy định mức dư nợ tối đa mà các tổ chức tín dụng được
phép cho vay.
Ngân hàng căn cứ vào nhu cầu vay vốn; năng lực tài chính; chu kỳ sản xuất, kinh doanh;
vòng luân chuyển vốn vay, dòng tiền, khả năng quản lý sản xuất, kinh doanh; loại và trị giá
tài sản bảo đảm tiền vay của Khách hàng và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng để xác định
nhu cầu vốn và Hạn mức tín dụng cho Khách hàng mà Ngân hàng có thể đáp ứng trong một
thời gian nhất định (thường là 1 năm).
Lãi suất cho vay: Trong Hợp đồng (hạn mức) tín dụng có thể ấn định lãi suất cụ thể hoặc quy
định nguyên tắc xác định lãi suất phù hợp với quy định về lãi suất của Ngân hàng. Lãi suất cụ
thể được ghi trong Khế ước nhận nợ từng lần phù hợp với thoả thuận của Khách hàng và
Ngân hàng trong Hợp đồng (hạn mức) tín dụng.
Nhược điểm: Công cụ này thiếu linh hoạt và có thể làm giảm cạnh tranh giữa các ngân hàng.
5. Quản lý về lãi suất của các NHTM: Đưa ra khung lãi suất bao gồm lãi suất trả.
mức cung ứng tiền , năm 1987 lại là lạm phát chi phí đẩy, tiếp tục sau đó lạm phát cầu kéo
xảy ra.
Chính sách về lãi suất:
Thực hiện chính sách lãi suất thực dương (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa-tỉ lệ lạm phát ),
tức là nâng lãi suất tiết kiệm lớn hơn tỉ lệ lạm phát nhằm thu hồi lượng tiền trong lưu thông
về.
NHNN từng bước giảm dần lãi cho vay thông qua giảm dần lãi huy động từ 12% xuống 9%
rồi 6%/năm; 1,4% xuống 0,9% rồi 0,85%/ tháng.
Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu cũng được điều chỉnh tăng, giảm phù hợp mục
tiêu điều tiết lượng vốn huy động và cho vay tín dụng hàng năm
Chính sách về tỉ giá hối đoái: Việc áp dụng tỉ giá hối đoái thực tế đã làm cho người dân
không còn tích trữ hàng hóa, vàng, USD mà bắt đầu tích lũy bằng đồng nội tệ.
b. Giai đoạn 2000 - 2007:
Chính sách về lãi suất:
Tháng 8/2000, cơ chế điều hành lãi suất cho vay bằng VND được chuyển từ cơ chế trần lãi
suất sang lãi suất cơ bản
Năm 2001, lãi suất từng bước được điều hành theo hướng tự do hóa và phù hợp với mục tiêu
CSTT.
Từ năm 2003, việc điều hành CSTT chuyển biến theo hướng nới lỏng một cách thận trọng.
Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh dần là lãi suất trần; lãi suất chiết khấu được điều chỉnh là
lãi suất sàn của thị trường.
Từ tháng 1/2005- 8/ 2008, NHNN đã tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái
chiết khấu nhằm thắt chặt hơn tiền tệ, qua đó kiểm soát lạm phát đang có xu hướng gia tăng.
Chính sách về Dự trữ bắt buộc (DTBB) :
Tháng 5/2001 tăng tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ lên 15%, giảm tỷ lệ DTBB bằng VND xuống
3%; tháng 11/2001 giảm tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ xuống còn 10%.
Từ năm 2003, các TCTD được tính cả tiền gửi DTBB tại các chi nhánh NHNN, đây là bước
khởi đầu cho việc thực hiện mục tiêu tăng cường khả năng điều tiết tiền tệ của công cụ này.
Chính sách về tỷ giá:
Năm 2006 tỷ giá VND/USD lần đầu được điều hành thử nghiệm theo cơ chế tỷ giá thả nổi
nóng của thị trường BĐS. NHNN đứng trước một bài toán khó trong công cuộc điều hành
chính sách tiền tệ.
Tất cả khó khăn trên đặt lên vai trò chính sách tiền tệ của NHNN
b. Phân tích và bình luận:
Có thể nói rằng, năm 2008 là năm mà nền kinh tế trong nước có những biến động rất lớn.
Năm 2008, thị trường ngân hàng trong nước đã trải qua những biến động chưa từng có về lãi
suất, tỷ giá Thực hiện chính sách tài chính tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, lúc thắt chặt, lúc nới
lỏng. Việc thắt chặt tiền tệ đầu năm và nới lỏng dần cuối năm đã tạo nên tần suất điều chỉnh
chính sách nhiều chưa từng có trong lịch sử.
Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, trong vòng 3 tuần đầu của tháng 2 năm 2008
NHTM đã thực hiện đồng thời 4 biện pháp thắt chặt tiền tệ của NHNN
1. Quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% đồng thời mở rộng thêm phạm vi
tiền gửi dự trữ bắt buộc.
2. Phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc. Ba NHTM nhà nước lớn nhất, mỗi
ngân hàng phải mua 3000 tỷ đồng
Các loại tín phiếu trước đây được giao dịch trên thị trường mở với NHNN thì giờ NHNN nói
rõ là không được vay tái cấp vốn
3. Từ tháng 2 năm 2008, các loại lãi suất chủ đạo của NHNN tăng hơn trước.
4. NHNN ban hành quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN ngày 1/2/2008 về sửa đổi chỉ thị về
cho vay chứng khoán. Quyết định 03 còn thắt chặt về cho vay chứng khoán hơn Chỉ thị 03
trước đây.
Với 4 quyết định được coi là cứng rắn và kiên quyết nói trên trong điều hành CSTT của
NHNN đã gây ra các tác động sốc và phản ứng tiêu cực tức thì của thị trường tiền tệ và của
NHTM. Có thể nói đây là một cú phanh gấp trong quá trình tụt dốc của nền kinh tế nhằm
ngăn chặn vật giá leo thang và lạm phát.
Như vậy, trên đây là điều chỉnh mở rộng nghiệp vụ thị trường mở của NHNN nhằm thu hồi
lượng tiền mặt quá lớn đồng thời thắt chặt tín dụng của các NHTM
Lãi suất:
Lãi suất biến động mạnh và liên tục tăng cao trong những tháng đầu năm và giải dần trong
những tháng cuối năm:
Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụt giảm (từ mức 16.112 đồng
xuống 15.960 đồng. mức thấp nhất là 15.560 đồng/USD). Trên thị trường tự do, USD dao
động từ mức 15.700 - 16.000 đồng/USD.
Nguyên nhân là thời điểm này đang ở giai đoạn gần tết Dương lịch, do đó lượng kiều hối
chuyển về nước khá lớn. Thứ hai, các nhà đầu tư dự kiến VND sẽ tăng giá so với USD, cộng
thêm chênh lệch lãi suất lớn giữa USD và VND nên các nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD
chuyển qua VND. Tập trung vào các đối tượng là nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Trái
phiếu Chính phủ Việt Nam (1,4 tỷ USD), các doanh nghiệp xuất khẩu vay USD để phục vụ
sản xuất kinh doanh Các NHTM lúc này cũng đẩy mạnh bán USD.
Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và NHNN đang đẩy mạnh việc kiềm chế lạm phát, sử
dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm (tháng 12/2007) lên
8,75%/năm (tháng 2/2008). NHNN không thực hiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc
bơm tiền ra lưu thông, tăng biên độ tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày
10/03/2008.
• Giai đoạn 2 (từ 26/03 - 16/07): Tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị
trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do.
Trong giai đoạn này, tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng 6, đỉnh điểm lên
đến 19.400 đồng/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2.600 đồng so với mức trần. Tâm lý hoang
mang cộng với động thái đầu cơ của giới buôn ngoại tệ trên thị trường tự do đẩy USD cùng
với giá vàng tăng mạnh lên gần 19 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá lên đỉnh ngày 18/06, sau đó giảm dần. Ngày 27/06, NHNN tăng biên độ USD/VND từ
1% lên 2%.
Nguyên nhân USD tăng mạnh trong giai đoạn này chủ yếu do tâm lý bất ổn của doanh nghiệp
và người dân khi thấy USD tăng nhanh dẫn đến trạng thái găm ngoại tệ của giới đầu cơ. Nhu
cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của cả DN xuất và nhập khẩu đến hạn cao; Tăng nhập
khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và quốc tế.
Nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút vốn khỏi Việt Nam bằng việc bán Trái phiếu chính phủ khi
lo ngại về tình hình kinh tế và do tình hình thanh khoản thấp trên thị trường thế giới đẩy nhu
cầu mua USD chuyển vốn về nước lên cao (bán ròng 0,86 tỷ USD).
Cung ngoại tệ thấp do NHNN không cho phép cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp xuất
Dự trữ bắt buộc:
Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháng 2/2008 NHNN điều chỉnh tăng 1% tỷ lệ
DTBB đối với tất cả các kỳ hạn, áp dụng cho cả tiền gửi VND và ngoại tệ đối với hầu hết các
TCTD.
Những tháng cuối năm 2008, để ngăn chặn suy giảm kinh tế, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ lệ
DTBB đối với tiền gửi bằng VND từ 11% xuống 6% và tiền gửi bằng ngoại tệ từ 11% xuống
7%
Biểu 1: Diễn biến Dự trữ bắt buộc năm 2007-2008
Đơn vị %
2007 2008 (3 lần thay đổi)
Tỷ lệ DTBB (%tổng số dư tiền gửi phải DTBB) Lần 1: Lần 2: Lần 3:
- Không kỳ hạn và dưới 12 tháng
+ VND 10 11 10 8
+ Ngoại tệ 10 11 9 9
- Từ 12 -24 tháng
+ VND 4 5 4 2
+ Ngoại tệ 4 5 3 3
Như vậy, năm 2008 là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn,
thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đổi mới.Trước bối cảnh phức tạp của kinh
tế thế giới và trong nước trong 6 tháng đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có
những phản ứng kịp thời, sử dụng đồng bộ và quyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt
chặt nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh tế vĩ mô. Các công cụ chính sách
tiền tệ được điều hành linh hoạt để hút tiền từ lưu thông nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản
cho nền kinh tế, điều hành linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu thị trường. Ngân hàng Nhà nước đã
tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của thị trường ngoại hối và của các tổ chức
tín dụng, hạn chế tăng trưởng tín dụng quá nóng có thể gây mất an toàn hệ thống của các tổ
chức tín dụng. Đến cuối năm 2008, để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, chính sách tiền
tệ thắt chặt được chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng. Chính sách tền tệ chưa thể
nói là cực chuẩn nhưng có thể nói là thành công.
hối có những diễn biến không thuận lợi. Do áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo
ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ.
Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và việc điều
chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà
chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình
cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng.
Để tăng nguồn cung và ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN đã triển khai quyết liệt nhiều giải
pháp như mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND của các ngân hàng thương mại
từ +/-3% lên +/-5% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng cùng phối hợp với các biện pháp
điều tiết cung cầu ngoại tệ trên thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt
hàng thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống; điều hòa ngoại tệ trên thị trường ngoại
tệ trên ngân hàng
Đồng thời, trình Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính bán nguồn ngoại tệ thu được từ phát
hành trái phiếu Chính phủ cho NHNN; đề nghị một số doanh nghiệp nhập khẩu lớn chuyển từ
mua ngoại tệ sang vay bằng ngoại tệ; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công thương trong việc kiểm
soát nhập siêu và đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ thiết yếu của nền kinh tế.
Các biện pháp chấn chỉnh hoạt động ngoại hối cũng được tăng cường như phối hợp với các
bộ, ngành kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các hành vi quảng cáo, niêm yết giá hàng hóa bằng
ngoại tệ, mua, bán ngoại tệ trái phép; tăng cường kiểm tra hoạt động mua bán ngoại tệ của
các ngân hàng thương mại và hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ, xử lý nghiêm các vi
phạm.
Đặc biệt, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp
và người dân như đẩy mạnh công tác tuyên truyền và công bố công khai, rộng rãi các thông
tin về tình hình ngoại hối, tỷ giá; yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy
động bằng ngoại tệ (lãi suất cho vay giảm từ mức 6-6,5%/năm xuống không quá 4%/năm kể
từ ngày 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức không quá 3%/năm kể từ ngày 01/6/2009, lãi suất
huy động giảm xuống mức không quá l,5%/năm kể từ ngày 01/6/2009)
Đồng thời đề nghị Hiệp hội Ngân hàng yêu cầu các NHTM cổ phần đồng thuận giảm lãi suất
huy động và cho vay bằng ngoại tệ như các NHTM nhà nước kể từ ngày 8/6/2009. Các biện
pháp trên đã có tác động giảm áp lực thiếu cung ngoại tệ trên thị trường, giữ được thị trường
duy trì tăng trưởng của nền kinh tế đồng thời chủ động ngăn chặn nguy cơ lạm phát và trước
mắt ổn định thị trường ngoại hối.
Như vậy, có thể nói những khó khăn nhất đã qua, năm 2009 mặc dù phải đối mặt với rất
nhiều thách thức trong quá trình thực thi CSTT, nhưng với sự điều hành linh hoạt, sự ứng phó
kịp thời với những biến động của tình hình, về cơ bản CSTT đã đạt được mục tiêu của năm
2009 là kiềm chế lạm phát từ mức 19,98% năm 2008 xuống còn 6,52%, hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế ở mức 5,2% và CSTT đã góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên,
nền kinh tế vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ và đòi hỏi CSTT của NHNN phải có phản ứng kịp
thời để ngăn chặn.
2.2 Năm 2010
a. Tình hình kinh tế:
Năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi sau khủng hoảng tài chính, tăng trưởng kinh tế 4,8%,
thương mại tăng 11,4%. Năm 2010, theo đánh giá của Chính phủ, kinh tế nước ta tiếp tục đà
phục hồi và tăng trưởng khá. Kinh tế trong nước tăng trưởng cao (6,78%) nhờ động lực đầu
tư (vốn đầu tư toàn xã hội tăng 12,9%), xuất khẩu (25,5%) và tiêu dùng (tổng mức bán lẻ
hàng hóa và dịch vụ tăng 24,5%); các cân đối lớn của nền kinh tế và an sinh xã hội cơ bản
được đảm bảo.
b. Phân tích và bình luận:
Trong năm 2010, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng,
phù hợp với Nghị quyết Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và bám sát tình hình thực tế, góp
phần quan trọng để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô, thể hiện cụ thể là:
Với mục tiêu duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế bền
vững trong năm 2010, chủ động đối phó với diễn biến phức tạp của thị trường tài chính và
kinh tế thế giới, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản tăng từ
7%/năm lên 8%/năm, tăng lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất chiết
khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm áp dụng từ 1/12/2009.
Phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày
12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong đó quy
định hộ sản xuất và hợp tác xã vay vốn từ 50-500 triệu đồng không phải thế chấp, cầm cố tài
sản; ban hành cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng cho vay vốn đối
chuẩn mực quốc tế và điều kiện thực tế của hệ thống TCTD nước ta về tỷ lệ an toàn, cấp giấy
phép thành lập và hoạt động NHTM cổ phần, sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD, quản trị
kinh doanh của NHTM; giãn tiến độ tăng vốn điều lệ của các TCTD theo Nghị định
141/2006/NĐ-CP đến cuối năm 2011; Cơ quan Thanh tra giám sát, NHNN chi nhánh tỉnh,
thành phố tăng cường thanh tra, kiểm tra các TCTD. Năm 2010, tài sản có của hệ thống
TCTD tăng 28%, tỷ lệ an toàn kinh doanh phù hợp với quy định của NHNN, tỷ lệ nợ xấu
khoảng 2,5%; tình hình thanh khoản và lãi suất thị trường tiền tệ trong nửa cuối tháng 12
tương đối ổn định.
Tiếp tục hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay được giải ngân năm 2009 và các khoản cho vay
năm 2010 theo Quyết định số 2072/QĐ-TTg ngày 11/12/2009 và Quyết định số 2213/QĐ-
TTg ngày 31/12/2009; cuối tháng 12, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất khoảng 95.000 tỷ đồng,
trong đó cho vay hỗ trợ lãi suất lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn 8.000 tỷ đồng, cho vay hộ
nghèo và đối tượng chính sách 28.000 tỷ đồng.
Phối hợp giải pháp trong điều hành chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá, các NHTM sử
dụng số vốn dự trữ thanh toán để mua trái phiếu Chính phủ, ngân sách Nhà nước có vốn để
đầu tư phát triển, tăng tỷ lệ vốn hóa thị trường vốn và thanh khoản của thị trường tiền tệ.
Nâng cao tần suất, chất lượng và hiệu quả của công tác truyền thông về điều hành chính sách
tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
Tình hình điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng nổi lên các vấn đề cần được
quan tâm sau:
(1) Việc điều hành chính sách tiền tệ đảm bảo hài hòa giữa ổn định kinh tế vĩ mô và tăng
trưởng kinh tế cho nên khả năng linh hoạt chưa ở mức cao;
(2) Thị trường tiền tệ và ngoại hối chưa ổn định, kỷ cương pháp luật trên thị trường chưa
nghiêm;
(3) Tỷ trọng tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất (kinh doanh chứng khoản, bất động sản,
tiêu dùng) giảm chậm; tín dụng có sức ép tăng, nếu không kiểm soát chặt chẽ sẽ vượt xa mục
tiêu 25%, ảnh hưởng xấu đến lạm phát và cán cân thanh toán quốc tế;
(4) Năng lực tài chính, quản trị kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các TCTD còn hạn
chế; tính tương trợ cộng đồng và liên kết hệ thống TCTD còn yếu, nợ xấu tăng.
Nhìn chung, thị trường tiền tệ, tín dụng trong năm 2010 tương đối ổn định và diễn biến phù
với những khó khăn, thách thức mới, lớn hơn so với dự báo cuối 2010, tiềm ẩn nguy cơ bất
ổn kinh tế vĩ mô.
b. Phân tích và bình luận:
"Năm 2011, NHNN sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng nhằm
mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần tăng trưởng kinh
tế." - Đây là một định hướng chiến lược mới, thay cho hỗ trợ tăng trưởng của chinh sách tiền
tệ năm 2010.
Hiện nay:
Lãi suất cơ bản 9%
Lãi suất tái chiết khấu 12%
Lãi suất tái cấp vốn 13%
TGBQLNH ngày 19/4/2011 là 1USD = 20.733,00VND
Ngày 8/3/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 379/QĐ-NHNN về lãi suất tái
cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân
hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước đối
với các ngân hàng.
Theo quyết định trên, Ngân hàng Nhà nước quy định các mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái
chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù
đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng là
12,0%/ năm
Như vậy, đây là lần thứ hai kể từ đầu năm Ngân hàng Nhà nước tăng một số loại lãi suất điều
hành. Lần trước, ngày 17/2, mức tăng lãi suất tái cấp vốn là từ 9%/năm lên 11%/năm, lần này
thì từ 11% lên 12%.
Đáng chú ý là trong lần điều chỉnh này, lãi suất tái chiết khấu được tăng mạnh, từ 7%/năm lên
12%/năm.
9/4/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Quyết định số 750/QĐ-
NHNN điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 4% lên 6% đối với các tổ chức
tín dụng. Quyết định này có hiệu lực kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 5/2011.
Tuy nhiên, thực tế sau 3 tháng đầu năm 2011, tăng trưởng tín dụng vẫn còn cao, lạm phát
chưa có dấu hiệu giảm.
13,00%/năm 2561/QĐ-NHNN 03/11/2008 05/11/2008
4,00%/năm 2318/QĐ-NHNN 20/10/2008 21/10/2008
15,00%/năm 1316/QĐ-NHNN 10/06/2008 11/06/2008
13,00%/năm 1099/QĐ-NHNN 16/05/2008 19/05/2008
7,50%/năm 306/QĐ-NHNN 30/01/2008 01/02/2008
ϖ Lãi suất tái chiết khấu
Giá trị Văn bản quyết định Ngày áp dụng
12% 379/QĐ-NHNN 8/3/2011 08/03/2011
7% 447/TB-NHNN 29/11/2010 01/12/2010
7% 2620/QĐNHNN 05/11/2010 05/11/2010
6% 402/TB-NHNN 27/10/2010 01/11/2010
6% 352/TB-NHNN 27/9/2010 01/10/2010
6% 316/TB-NHNN 25/08/2010 01/09/2010
6% 259/TB-NHNN 27/7/2010 01/08/2010
6% 316/TB-NHNN 25/8/2010 01/09/2010
6% 220/TB-NHNN 24/06/2010 10/08/2010
6% 189/TB-NHNN 31/5/2010 01/06/2010
6% 26/TB-NHNN 26/01/2010 01/02/2010
6%/năm 2664/QĐ-NHNN 25/11/2009 01/12/2009
5,0%/năm 2232/QĐ-NHNN 01/10/2009
5% 837/QĐ-NHNN 10/4/2009 10/04/2009
6,0% 173/QĐ-NHNN 23/1/2009 01/02/2009
7.5%/năm 3159/QĐ-NHNN 19/12/2008 22/12/2008
9,0%/năm 2949/QĐ-NHNN 3/12/2008 05/12/2008
10% 2810/QĐ-NHNN 21/11/2008
11%/năm 2561/QĐ-NHNN 3/11/2008 05/11/2008
12.0%/năm 2318/QĐ-NHNN 20/10/2008 21/10/2008
13,0%/năm 1316/QĐ-NHNN 10/6/2008 11/06/2008
11,00%/năm 1099/QĐ-NHNN 16/05/2008 19/05/2008
11% 1098/QĐ-NHNN 16/5/2008 19/05/2008