| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2007, Số 9 (9) 17
Tổn thương HIV/AIDS của lao động đi làm
ăn xa và hậu quả đối với những người ở lại
PGS. TS. Đặng Nguyên Anh(*)
Hầu hết các nghiên cứu trước đây về di dân và sức khoẻ tập trung xem xét người di cư và ít chú
trọng đến những vấn đề liên quan đến sức khỏe và phúc lợi của những người ở lại. Bài viết này
nhằm tìm hiểu tác động về mặt sức khỏe của lao động đi làm ăn xa từ góc độ cộng đồng đòa phương.
Thoát ly đi làm của quần thể lao động nông thôn và nguy cơ phơi nhiễm đối với các bệnh lây truyền
qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS khi xa nhà có thể tác động đến người thân và gia đình
khi họ về thăm nhà hoặc quay về sống tại quê hương. Vấn đề rất đáng quan tâm là sự lây nhiễm
HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục mà người đi làm ăn xa đem về cho vợ/chồng của
mình ở quê nhà. Người phụ nữ nông thôn và nhất là người vợ thường ở vò trí bò động, dễ tổn thương
đối với HIV do từ người chồng đi làm ăn xa đem về. Đối với nhiều gia đình, đó là những mối quan
hệ giằng xé giữa nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS với tình yêu, tình cảm vợ chồng, thu nhập và nguồn
sinh kế mà di cư đi làm ăn xa đem lại. Bài viết kết luận bằng một số đề xuất khuyến nghò phù hợp
đối với chính sách và chương trình nhằm đáp ứng nhu cầu cần được bảo vệ và các kỹ năng phòng
chống HIV/AIDS trong cộng đồng di cư cũng như cộng đồng ở lại quê nhà, theo hướng xây dựng các
mô hình di cư an toàn.
Từ khóa: Di cư, phơi nhiễm.
The HIV/AIDS Vulnerability of Labour
out-Migrants and its Consequences on
the Left-behind
Most previous studies on migration and health have focused on the migrants themselves. Little is
known about the health and well-being of those who remained in the source communities. This paper
is aimed at exploring how labour migration and its health risk effects can be assessed at a local con-
text. The out-migration of the rural labours and their exposure to STDs, including HIV/AIDS, can
put families at risk. Of foremost concerns are the HIV/STD transmissions which the migrants pass
on to their left-behind spouses. Women and wives are in a passive and vulnerable position of con-
tracting HIV from migrant husbands. For many families, there exist tensions between the HIV/AIDS
risk, love, affection, income and secured livelihoods brought about by out-migration. The paper con-
có thể có quan hệ tình dục với người đàn ông khác.
Đó là chưa kể đến tình trạng để có tiền tiêm chích
hoặc được bao thuốc miễn phí, gái mại dâm sẵn
sàng đi khách và quan hệ với nhiều bạn tình, từ đó
HIV/AIDS lan rộng ra cộng đồng.
Trong tất cả các nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS
nói trên thì di biến động dân số lại ít được xem xét
(UNAIDS và WHO) [7]. Thực tế đã cho thấy tỷ lệ
mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và
HIV/AIDS khá phổ biến trong nhóm người có tiền
sử đi lại và di biến động nhiều. Hầu hết những người
đi làm ăn xa quê hương khi về thăm nhà, vợ chồng
đoàn tụ theo đònh kỳ. Đối với nhóm lao động đi làm
ăn xa, sau những lần trở về và ra đi theo mùa vụ,
lao động di cư có thể để lại tổn thương HIV cho
những người thân ở lại quê hương. Tuy nhiên, có rất
ít những nghiên cứu giám sát dòch tễ học ở châu Á
được tiến hành trong nhóm người lao động di cư
(UNAIDS[8]. Tại Việt Nam, tình hình nhiễm HIV
trong nhóm dân số di cư và các yếu tố dẫn đến sự
tổn thương HIV còn ít được biết đến. Lao động di cư
sống và làm việc ở những nơi có tỷ lệ nhiễm HIV
cao như trung tâm đô thò, khu công nghiệp, biên
giới, cảng biển, vùng mỏ, đào đãi vàng Trong
hoàn cảnh đi làm ăn có tiền, lại không có sự kiểm
soát của cộng đồng hay gia đình ở bên nên một số
người có điều kiện quan hệ với gái mại dâm, có bạn
tình, sử dụng và tiêm chích ma tuý. Trong khi đó,
do vò thế pháp lý yếu thế tại nơi đến nên lao động
di cư thiếu những kiến thức phòng tránh các bệnh
tin đều được đặc biệt nhấn mạnh, và thực hiện
nghiêm túc trong suốt quá trình nghiên cứu. Các
cuộc thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu cá
nhân chỉ được thực hiện sau khi có sự đồng ý tham
gia của đối tượng. Các thông tin được giữ kín, không
gắn với tên của người được phỏng vấn.
Những người đồng ý tham gia phỏng vấn có
nam, có nữ, đã xây dựng gia đình và chưa kết hôn,
người đi làm ăn xa cũng như người ở lại. Độ tuổi của
người trả lời từ 18-54, nhưng số đông chủ yếu trong
nhóm tuổi dưới 35 tuổi. Nhiều người đã có một quá
trình đi làm ăn xa nhà, đến nhiều tỉnh thành và vùng
miền khác nhau. Thành phần tham gia phỏng vấn
đảm bảo sự đa dạng về giới tính, tuổi và đôi khi
trong điều kiện cho phép cả về nghề nghiệp. Kiến
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2007, Số 9 (9) 19
thức, thái độ, quan niệm về việc nhiễm và lây
truyền HIV được tìm hiểu kỹ trong quá trình thu
thập thông tin.
Bảng 1 tóm tắt thông tin về đối tượng tham gia
phỏng vấn. Tổng số, có 5 cuộc thảo luận nhóm và
15 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân được thực hiện, với
tổng số 48 đối tượng có đặc trưng nhân khẩu xã hội
khác nhau. Một số đã từng đi làm ăn xa trước đây,
nay quay về quê nhà sinh sống. Một số khác đang
về thăm nhà, và tất nhiên không thể thiếu được
những người vợ/chồng của đối tượng hiện đang đi
làm ăn xa.
3. Kết quả nghiên cứu
đánh bài: "Vào những ngày mưa to, khi không đi
làm được cả nhóm chơi bài, góp một ít tiền. Những
người trẻ chưa có gia đình thì đi vui vẻ. Bọn trẻ
không tiết kiệm được nhiều tiền như chúng tôi, vì
chúng nó đi uống, hát karaoke, và chơi gái”. (Nam,
công nhân xây dựng, 39 tuổi, 2 con).
Nam thanh niên đã có gia đình cũng gặp hoàn
cảnh như vậy khi họ sống xa vợ con. Với các trường
hợp này, sống xa nhà cũng là cơ hội tránh được sự
kiểm soát của cha mẹ, gia đình, láng giềng, trong
khi đó, trong túi lại có tiền mặt. Việc bạn bè mời
mọc rủ nhau ra quán ăn uống và sau đó chơi bời là
khó có thể tránh khỏi. Đặc biệt, những người ở thuê
nhà riêng thường cho biết họ có quan hệ tình dục với
gái mại dâm hoặc bạn tình dễ dàng hơn do không
phải lo lắng e ngại bạn bè cùng quê biết.
Còn với lao động nữ khi xa nhà, tuy nguy cơ
dính dáng đến ma tuý, cờ bạc hay tệ nạn xã hội là
rất thấp, song chò em làm các nghề như bán hàng
rong, gánh thuê, lau chùi nhà cửa, giúp việc quán
xá lại gặp phải những rủi ro khác. Nguy cơ mà chò
em thường đề cập là sự quấy rối và lạm dụng tình
dục của những ông chủ thuê mướn lao động và
những kẻ xấu. Bản thân lao động nam cùng khu trọ
cũng lợi dụng những phụ nữ xa nhà. Qua trao đổi
thảo luận, kết quả còn cho thấy một số nữ thanh
niên trẻ bò rơi vào cạm bẫy và trở thành người phục
vụ tại các quán cà phê mà nhiều khi không hay biết
rằng nguy cơ tổn thương HIV là rất lớn:
"Cô em sống ở thành phố Hồ Chí Minh, cô ấy
chung bơm kim tiêm lần đầu phải giúp nhau tìm
tónh mạch (ven) mới. Điều này dẫn đến nguy cơ sử
dụng chung bơm kim tiêm ngay từ trong lần đầu
tiêm chích. Tuy nhiên lý do cho thấy thật đa dạng,
và trong hoàn cảnh rất khác nhau:
"Vì mắt cháu kém nên không thể tự tìm tónh
mạch cho mình được. Cháu phải nhờ bạn giúp,
chẳng biết chúng nó dùng xi lanh mới hay cũ nữa”
(Nam, tiêm chích, 23 tuổi, độc thân).
"Khi 5 đứa bọn em cùng chờ để chích thì chỉ có
3 xi lanh thôi, nên một người phải rửa bơm kim tiêm
bằng nước trước khi chích. Về sau cứ hai người
chung một bơm kim tiêm”. (Nam, tiêm chích, 42
tuổi, đã kết hôn).
3.3. Sử dụng bao cao su và nhận thức về HIV
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài, bao cao
su được sử dụng chủ yếu như là biện pháp tránh thai
và ít được tuyên truyền như một phương tiện để
ngăn ngừa các bệnh lây qua đường tình dục. Trong
nhiều giai đoạn thăng trầm của chương trình Dân số
- Kế hoạch hoá gia đình, vòng tránh thai vẫn là biện
pháp tránh thai phổ biến được tuyên truyền sử dụng
ở nông thôn. Có nhiều bằng chứng cho thấy từ các
nghiên cứu khác là bao cao su ít khi được sử dụng
trong nhóm khách làng chơi [6]. Nam giới mua dâm
sẵn sàng trả thêm tiền cho gái để không phải sử
dụng bao cao su hoặc bản thân gái mại dâm cũng
tuỳ khách quen hay sơ mà sử dụng [1,2]. Tỷ lệ sử
dụng bao cao su và sử dụng thường xuyên của gái
mại dâm được báo cáo là không quá 20% ở một số
khi về thăm nhà. Điều khá ngạc nhiên là đối với
người vợ ở lại quê hương, hầu hết các chò đều biết
rằng đàn ông không chung thuỷ khi làm ăn xa nhà.
Không một trường hợp được phỏng vấn nào cho
rằng chồng mình có sử dụng bao cao su khi có quan
hệ tình dục với gái mại dâm: "Tôi xin đánh cuộc
rằng họ không bao giờ sử dụng vì ngay cả với vợ họ
còn không dùng nữa là với người phụ nữ mới gặp thì
họ càng không sử dụng bao cao su”. (Nữ nông dân,
26 tuổi, 2 con). Nhận đònh này phản ánh sự hiểu
biết của chò em đối với hoàn cảnh và cuộc sống của
người chồng khi làm ăn xa nhà. Dường như trong
suy nghó của chò em, việc đàn ông tìm đến gái mại
dâm khi cô đơn là có thể chấp nhận được: "Tôi để
cho anh ấy đi, điều quan trọng nhất là anh ấy mang
tiền về nhà. Xa nhà, xa vợ con, tôi không ngăn anh
ấy đến với các thú tiêu khiển được, ngay cả chuyện
quan hệ nam nữ”. (Nữ nông dân, 32 tuổi, 2 con).
Tuy nhiên, chò em lại luôn tự nhủ và tin rằng
nếu người vợ chung thuỷ với chồng thì bản thân họ
sẽ không bò nhiễm HIV. Một số hiểu rằng họ có thể
bò nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục từ
người chồng nhưng không ai nghó đến việc lây
nhiễm HIV. Điều này cho thấy kiến thức và hiểu
biết của chò em về căn bệnh này còn rất hạn chế.
Công tác tuyên truyền và thông điệp truyền thông
HIV/AIDS chưa thực sự sâu rộng đối với chò em phụ
nữ nông thôn cũng như đối với cộng đồng ở lại. Hạn
chế này còn được thể hiện qua tâm sự của một số
chò em về những khó khăn trở ngại về mặt xã hội
nhiễm HIV, v.v Nếu so với phụ nữ thì nam giới có
kiến thức về HIV/AIDS tốt hơn, do được đi lại và
giao tiếp nhiều hơn, trình độ học vấn cao hơn và
được tiếp cận với nhiều thông tin hơn. Tuy chò em
thừa nhận họ không biết rõ hoặc hiểu rõ về
HIV/AIDS, song tất cả đều mong muốn có được cơ
hội tìm hiểu kiến thức về đại dòch này.
Tâm thế của những người ở lại về người
thân đi làm ăn xa
Chò em phụ nữ ở lại quê hương cho biết rằng
chồng con của họ khi xa nhà có thể vui vẻ ăn nhậu
với bạn bè, kể cả đi hát karaoke. Nhiều người vợ
còn tin rằng chồng họ có quan hệ tình dục với gái
mại dâm khi xa nhà. Một người phụ nữ biểu lộ quan
điểm của mình về nhóm này: "Ham muốn của cánh
nam giới [những người chồng] tăng lên khi họ xa vợ
con, cho nên họ tìm đến các thú tiêu khiển" (Nữ
nông dân, 31 tuổi, 2 con, chồng đi làm ăn xa). Tuy
nhiên, chò em dường như chấp nhận việc chồng làm
điều đó bởi vì theo chò em, nam giới đã phải lao
động vất vả để nuôi gia đình, vợ con.
Đối với những người vợ sống ở nhà, vấn đề là
sự thiếu vắng người chồng, người đàn ông. Trong
suy nghó của họ, họ không muốn chồng mình đi xa
song vì sự tồn tại của gia đình và đời sống kinh tế
nên họ hiểu rằng chồng họ phải đi làm ăn, xa vợ xa
con. Điều khiến họ lo lắng nhất là tình trạng sức
khoẻ của chồng, luôn lo rằng người thân có thể bò
tai nạn hay bò đau ốm khi "trái gió, trở giời" mà
không có người thân chăm sóc ở bên. Một người vợ
truyền qua đường tình dục khác) trong nhóm người
di biến động mà trước hết là trong lao động đi làm
ăn xa do thiếu các kiến thức cơ bản về HIV để có
thể hạn chế được những nguy cơ lây nhiễm HIV.
Cộng đồng xã Vũ Tây chỉ là một ví dụ điển hình về
sự lây lan nhanh chóng của HIV từ bên ngoài khi
mà các biện pháp bảo vệ không được chuẩn bò và
phòng ngừa hiệu quả đối với từng gia đình trong xã.
Như đã đề cập qua kết quả nghiên cứu, vợ và con
của người chồng đi làm ăn xa và nhiễm HIV đều
đã bò lây nhiễm vào thời điểm khảo sát ở Vũ Tây.
22 Tạp chí Y tế Công cộng, 12.2007, Số 9 (9)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Lao động đi làm ăn xa ở vùng nông thôn di
chuyển đến nhiều vùng khác nhau. Tại những nơi
đến, do các ràng buộc và kiểm soát xã hội không
còn nên việc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân hay
sử dụng ma tuý là những hành vi được dễ dàng chấp
nhận. Lao động đi làm ăn xa thường chòu sức ép của
bè bạn cùng nhóm có hoàn cảnh xa nhà giống mình.
Quan hệ với gái mại dâm, với bạn tình hay sử dụng
rượu bia, ma túy giúp làm giảm đi nỗi cô đơn khi xa
nhà, khi không có điều kiện hòa nhập vào cộng
đồng xã hội nơi đến. Song, các hành vi đó lại làm
tăng nguy lây nhiễm HIV đối với bản thân và cho
cộng đồng người thân ở quê nhà.
Nội dung phỏng vấn thu được ở Vũ Tây cho thấy
người vợ không thể từ chối người chồng, cũng như
không thể yêu cầu chồng mình phải chung thủy hay
sử dụng bao cao su khi đi làm ăn xa. Quyết đònh
số khuyến nghò từ kết quả nghiên cứu:
● Việc phổ cập và phân phát bao cao su tại nơi
công cộng, nhà hàng, karaoke, quán cà phê, nhà trọ,
nơi cư trú của lao động di cư là rất quan trọng như
một phương thức giảm thiểu tác hại. Tuy nhiên, để
giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV, cần phải làm
nhiều hơn việc phân phát bao cao su đến tay người
sử dụng. Cần tập trung nguồn lực làm sao cho hoạt
động truyền thông thay đổi hành vi tiếp cận được
đến người lao động đi làm ăn xa tại nơi đến cũng
như tại quê nhà. Những tác động can thiệp về nâng
cao kiến thức, nhận thức, và truyền thông đến từng
hộ gia đình ngay từ trước khi các thành viên đi làm
ăn xa, tại đòa bàn nơi họ đến cũng như trong suốt
quá trình lao động làm ăn xa là rất cần thiết nhằm
trang bò và tăng khả năng phòng vệ cho người di cư
đi làm ăn xa trước nguy cơ tổn thương đối với
HIV/AIDS.
● Kiến thức của phụ nữ nông thôn về
HIV/AIDS hiện rất thấp, trong khi những biện pháp
phòng tránh của chò em lại mơ hồ. Cần hỗ trợ cho
những người vợ sống ở quê nhà bằng việc cung cấp
các dòch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện, tình
dục an toàn, đảm bảo sự tham gia của phụ nữ và
nâng cao năng lực ra quyết đònh của họ trong quan
hệ vợ chồng. Để làm được như vậy cộng đồng ở lại
cần có những hoạt động tuyên truyền sâu rộng
nhằm hỗ trợ cho những thay đổi trong nhận thức,
thái độ và hành vi sao cho toàn thể cộng đồng hiểu
được rằng việc phòng chống HIV/AIDS là trách
hội học.
3. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thái Bình (PPMC) (2001)-
Báo cáo tổng kết thực trạng lây nhiễm HIV/AIDS tỉnh Thái
Bình. Sở Y tế Thái Bình.
4. Uỷ ban Dân số Gia đình Trẻ em Việt Nam (NCPFC)
(2002) - Báo cáo khảo sát hành động cộng đồng phòng
chống HIV/AIDS tại 5 tỉnh Lai Châu, Quảng Trò, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang. Dự án phòng chống HIV/AIDS
trong cộng đồng.
5. National Committee for AIDS, Drugs and Prostitution
Control (NCADPC) 2005. Second country report on fol-
lowing up to the declaration of commitment on - Declaration
commitment on HIV/AIDS adopted at the 26th United
Nations General Assembly. Reporting period: Jan 2003 -
Dec 2005.
6. National Committee for Population and Family Planning
(NCPFP) (1997) - Workshop Report on Reproductive
Health and Reproductive Tract Infections. Hanoi:
Population Council.
7. United Nations Agency for AIDS and World Health
Organization (UNAIDS and WHO). (2004) - AIDS
Epidemic Update. UNAIDS/04.45E. English original,
December 2004. Geneva: UNAIDS and WHO.
8. United Nations Joint Program on AIDS (UNAIDS) (2004)
-The 2004 Report on the global AIDS epidemic: The 4th
global report. UNAIDS/04.16E. English original, June
2004. Geneva: UNAIDS.
● Để làm được như vậy, những người lập chính
sách và chương trình y tế công cộng hiện nay cần
đổi mới nhận thức, quan tâm đến đối tượng đi làm