Lời nói đầuz
Sự tồn tại và phát triển của con ngời do rất nhiều nhân tố quyết định trong đó
không thể không kể đến hệ thống an sinh xã hội với nòng cốt là chính sách
Bảo hiểm Xã hội (BHXH ). BHXH là chính sách xã hội đợc nhiều quốc gia coi
trọng nhằm đảm bảo về mặt thu nhập cho ngời lao động khi họ tạm thời hoặc
vĩnh viễn mất khả năng lao động. BHXH ở việt Nam đã đợc Đảng và Nhà nớc
ta quan tâm ngay từ khi mới thành lập nớc và nó đã đóng góp lớn cho sự phát
triển của đất nớc.
Hoạt động của BHXH ngày càng hiệu quả hơn đặc biệt là sau năm 1995 khi
mà quỹ BHXH dợc hình thành độc lập ngoài ngân sách nhà nớc. Quỹ BHXH
là sơng sống của bất kỳ một hệ thống BHXH nào vì các chế độ BHXH đều
nhằm mục đích bảo đảm an toàn về thu nhập cho ngời lao động, muốn vậy thì
cơ quan BHXH phải có một lợng tiền nhất định.
Trong những năm qua quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH của cơ
quan BHXH huyện Yên Sơn( Tuyên Quang )đã thu đợc nhiều thành tựu nh:
phí thu đợc ngày càng nhiều, chi trả đúng đối tợng...Tuy nhiên trong quá trình
trên chúng ta vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập nh: Cha khai thác hết lực lợng lao
động, vẫn tồn tại tình trạng trục lợi BHXH. Điều này đã làm cho hiệu quả hoạt
động của quỹ BHXH cha cao và còn nhờ nhiều vào ngân sách Nhà Nớc. Nh
vậy vấn đề thu chi có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của chế độ BHXH Việt
Nam cũng nh BHXH các tỉnh, huyện trong cả nớc trong đó có BHXH Huyện
Yên Sơn nhng vẫn còn nhiều tồn tại cần phải đợc xem xét và bàn luận trên
nhiều khía cạnh khác nhau. Chính vì vậy em đã chọn đề tài:
Công tác thu, chi và quản lý quỹ BHXH Huyện Yên Sơn(Tuyên Quang )
thời gian qua
Mục đích của chuyên đề :
1. Làm rõ thu, chi BHXH là gì ?
2. Đánh giá thực trạng công tác thu chi quỹ BHXH tại BHXH Huyện Yên Sơn
trong thời gian qua.
1
3. Đề xuất ý kiến để nâng cao hiệu quả của công tác thu chi quỹ BHXH
Xét từ phía ngời lao động: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngời lao động
luôn gặp phải những rủi ro mang tính khách quan nh: ốm đau, tai nạn lao động
hoặc mắc các bệnh nghề nghiệp gây ra làm cho hị mất khả năng lao động tạm
thời hoặc vĩnh viễn, dẫn đến nguồn thu nhập của họ bị giảm đi hoặc không còn
nữa; hoặc ngời lao động bị chết trong khi con cái đang tuổi vị thành niên, bố
mẹ già không nơi nơng tựa; hoặc về già không còn khả năng lao động để có
thu nhập từ tiền lơng, tiền công, hơn thế nữa bệnh tật ốm đau lại xảy ra thờng
xuyên hơn gây nhiều khó khăn cho ngời lao động. Những rủi ro này không chỉ
làm giảm thu nhập của ngời lao động mà còn làm giảm nguồn lực tài chính
của họ và gia đình do các chi phí mới phát sinh nh: chi phí khám chữa bệnh,
chi phí chăm sóc, phục hồi sức khỏe, chi phí mai táng. Do đó cuộc sống của
ngời lao động trong hoàn cảnh này là rất khó khăn và giúp đỡ về mặt tài chính
là rất cần thiết, có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Xét từ phía doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trờng mối quan hệ giữa giới
chủ và thợ là mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc nhau bởi quyền lợi và trách
nhiệm của mỗi bên. Các doanh nghiệp vừa phải tạo điều kiện làm việc tốt cho
ngời lao động, phải trả công cho họ vừa phải có trách nhiệm giúp đỡ khi họ
không may gặp phải rủi ro trong quá trình lao động nh: tai nạn lao động, ốm
đau. Chính các chi phí phát sinh này làm ảnh hởng đến tình hình tài chính của
3
doanh nghiệp đặc biệt là những đợt dịch bệnh, trờng hợp tích tụ rủi ro, rủi ro
mang tính thảm họa. Điều này ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh
để trang trải cho các chi phí đó.
Xét từ phía xã hội: Sự vận động của các quy luật nội tại trong nền kinh
tế thị trờng, đặc biệt là quy luật cạnh tranh, trong nhiều trờng hợp đã đẩy một
số doanh nghiệp vào tình trạng bất ổn, thậm chí là phá sản dẫn đến hàng loạt
ngời lao động bị mất việc làm, không đảm bảo đợc cuộc sống và tạo ra nhiều
vấn đề phức tạp. Vì thế, để đảm bảo nền Kinh tế xã hội phát triển bình thờng,
xét từ phía trách nhiệm của xã hội, Nhà nớc buộc phải tiến hành phân phối lại
qua ngân sách Nhà nớc hoặc buộc các doanh nghiệp phải tự tạo quỹ tài chính
nhất định để chi trả cho các nhu cầu thiết yếu cũng nh các nhu cầu mới phát
sinh. Còn ngời lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tợng tham gia, vừa là
đối tợng đợc bảo hiểm, họ cũng là đối tợng đợc hởng quyền lợi BHXH (chiếm
phần lớn trong các trờng hợp phát sinh trách nhiệm BHXH). Đối tợng tham gia
BHXH không chỉ có ngời lao động mà còn có cả ngời sử dụng lao động và
Nhà nớc. Sở dĩ ngời sử dụng lao động tham gia vào BHXH là vì phàn họ thấy
đợc lợi ích thiết thực khi đã tham gia BHXH, một phần là do sự ép buộc của
nhà nớc thông qua các văn bản qui phạm pháp luật. đối với nhà nớc thì lại
khác, họ tham gia BHXH với hai t cách là chủ sử dụng lao động đối vơi tất cả
công nhân viên chức và những ngời hởng lơng từ Ngân sách Nhà nớc: t cách
thứ hai là ngời bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể là bảo hộ giá trị cho quỹ
BHXH, bảo hộ cho sự tăng trởng của quĩ nhằm tạo sự ổn định cho quĩ và sự ổn
định về mặt xã hội.
Đối tợng đợc bảo hiểm trong quan hệ BHXH ngoài ngời lao động còn
có ngời sử dụng lao động. Bởi vì, khi ngời lao động gặp rủi ro thì ngời sử dụng
lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ. Điều này có nghĩa là họ phải bỏ ra một
khoản chi phí cho ngời lao động, nhng thực tế chi phí này nhanh chóng đợc cơ
quan BHXH hoàn trả lại.
Đối tợng đợc hởng quyền lợi BHXH là ngời lao động trong trờng hợp
họ rủi ro nh: ốm đau, thai sản, TNLĐ và BNN, hu trí. Nhng trong trờng hợp
5
ngời lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối tợng hởng thụ quyền lợi BHXH
lại là thân nhân của ngời lao động nhự: bố, mẹ, con, vợ(chồng).
III/ chức năng của BHXH.
BHXH có một số chức năng chủ yếu sau:
+ Thay thế và bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động khi họ bị
giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, bị mất việc
làm. sự đẩm bảo chắc chắn sẽ xẩy ra vì suy cho cùng mọi ngời rồi sẽ mất kha
năng lao động khi họ hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của
BHXH. đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH vì nó quyết định nhiệm vụ,
IV/ Tính chất của bảo hiểm xã hội.
Sự ra đời của BHXH gắn liền với đời sống của ngời lao động do đó
BHXH có một số tính chất cơ bản sau:
+ Mang tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội.
+ BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian
và không gian. Những rủi ro trong BHXH đã hình thành nên tính chất ngẫu
nhiên của nó. Bởi lẽ các rủi ro đợc áp dụng các BHXH đều không thể lờng trớc
đợc, các rủi ro này xảy ra một cách bất thờng. Chính vì vậy mà không phải tất
cả ngời lao động của một tổ chức hay là tất cả các tổ chức đều phải chịu chung
một hay nhiều rủi ro cùng một lúc.
+ BHXH vừa mang tính kinh tế, vừa có tính xã hội và cả tính dịch vụ.
Tính kinh tế của BHXH đợc thể hiện thông qua cơ chế tạo lập và sử dụng quỹ
BHXH. Quỹ BHXH muốn đợc hình thành, bảo toàn và tăng trởng thì nhất thiết
7
phải có sự đóng góp tài chính của tất cả các bên liên quan. Mức đóng góp của
các bên đợc xác định rất cụ thể dựa trên nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã
hội là lấy số đông bù số ít, do thực chất mức đóng góp của mỗi ngời lao động
là không đáng kể so với mức họ đợc hởng. Xét dới góc độ kinh tế thì ngời sử
dụng lao động cũng đợc lợi rất nhiều trong quan hệ BHXH khi tham gia
BHXH họ sẽ không phải chi trả các chi phí cho ngời lao động bị giảm hoặc
mất khả năng lao động. Còn về phía Nhà nớc thì hoạt động tạo lập quỹ BHXH
đã làm giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN đồng thời nó góp phần đầu t cho nền
kinh tế. Nh vậy cơ chế tạo lập và sử dụng quỹ BHXH đã đem lại rất nhiều lợi
ích cho NLĐ, NSDLĐ và Nhà nớc.
BHXH là một bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội vì tính chất
xã hội của nó đợc thể hiện rất rõ nét về lâu dài mọi NLĐ trong xã hội đều có
quyền tham gia BHXH. Và ngợc lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho
mọi ngời lao động và gia đình họ, kể cả họ đang còn trong độ tuổi lao động.
Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế
xã hội ngày càng phát triển thì tính chất dịch vụ và tính chất xã hội hóa của
- Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng ngày càng đợc thể hiện
thông qua các mục tiêu, mục đích của nó là chi trả cho các chế độ
BHXH. Nhng mặt khác nó lại mang tính dự trữ vì thông thờng, khi
ngời lao động đống góp vào quỹ BHXH thì họ không đợc quỹ này
chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có thời gian dự bị.
- Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế
độ tiết kiệm bắt buộc của xã hội và ngời lao động dành cho ốm đau,
hu trí. Đó cũng là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và
cộng đồng.
3. Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH đợc hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:
+Sự đóng góp của ngời lao động
9
+Sự đóng góp của ngời sử dụng lao động
+Sự đóng góp và hỗ trợ của Nhà nớc
+Thu từ các nguồn khác
Đối với phần lớn các nớc trên thế giới thì quỹ BHXH đều đợc hình
thành từ các nguồn trên. Tuy nhiên tùy từng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của
từng quốc gia mà tỉ lệ đóng góp giữa các bên, mức độ đóng góp của từng bên,
mức độ can thiệp của Nhà nớc, hay phơng thức đóng góp sẽ khác nhau.
Về phơng thức đóng góp vào quỹ BHXH của ngời lao động và ngời sử
dụng lao động hiện nay còn có hai quan điểm.Việc xác định mức đóng góp
phải căn cứ vào mức lơng cá nhân và quỹ lơng của cơ quan, doanh nghiệp là
nội dung của quan điểm thứ nhất. Còn quan điểm thứ hai thì cho rằngphair căn
cứ vào thu nhập cơ bản của ngời lao động đợc cân đối chung trong toàn bộ nền
kinh tế quốc dân để xác định nên mức đóng góp.
Việc lựa chọn quan điểm nào là tùy thuộc vào mỗi quốc gia nhng phải
đảm bảo rằng mức đóng góp của mỗi bên phải đủ để cân đối thu,chi của quỹ
BHXH. Trong thực tế việc xác định mức đóng góp của các bên ( thực chất là
xác định phí BHXH ) đợc tính toán một cách rất khoa học. Việc xác định phí
các đơn vị vi phạm điều lệ BHXH; sự hỗ trợ, sự viện trợ của các tổ chức trong
và ngoài nớc, lãi từ hoạt động đầu t phần quỹ BHXH nhàn rỗi..
4.Mục đích sử dụng quỹ BHXH .
Nh đã trình bày ở phần trên, phí BHXH bao gồm 3 bộ phận: phí thuần,
phí dự trữ, phí quản lý. Nh vậy, rõ ràngquỹ BHXH đợc dùng cho 3 mục đích:
chi trả cho các chế độ BHXH, chi cho việc quản lý hệ thống BHXH , chi trích
lập quỹ dự trữ cho những trờng hợptônr thất lớn.
Trong cơ cấu chi BHXH thì cho các chế độ BHXH là rất lớn và chiếm
phần lớn nguồn quỹ này vì đây là mục tiêu cơ bản nhất của BHXH :đẩm bảo
ổn định cuộc sống cho ngời lao động, đảm bảo ổn dịnh hoạt động của các đơn
vị, tổ chức. Thực tế cho thấy, việc chi trả cho các chế độ BHXH diễn ra thờng
xuyên và liên tục với số lợng lớn trên phạm vi rộng lớn. Một trong những
khoản chi thờng xuyên là chi lơng hu cho những ngời đã nghỉ công tác; và chi
trả trợ cấp hàng tháng cho thân nhân của ngời lao động khi họ qua đời.
Nguồn chi thứ hai trong BHXH là chi cho việc quản lý nghiệp vụ
BHXH. Đây là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi BHXH nhng nó cũng là
một khoản chi ngày càng lớn. Bởi vì các chế độ BHXH ngày càng rộng rãi để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngời lao động, do đó đội ngũ phục vụ
BHXH ngày càng nhiều dẫn đến chi lơng cán bộ ngày càng lớn. Mặt khác, xã
hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về điều kiện làm việc ngày càng ra tăng.
Vì vậy, chi phí choviệc xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, trang thiết bị văn
phòng ngày càng tăng lên.
Mục đích chi thứ 3 của quỹ BHXH là chi dự trữ. Thực chất đây là quá
trình tích lũy trong quá trình sử dụng quỹ BHXH. Định kỳ hàng tháng (quý,
năm )cơ quan BHXH giữ lại một phần quỹ của mình để thành lập nên quỹ dự
11
trữ BHXH. Quỹ này chỉ đợc sử dụng trong trờng hợp nhu cầu chi trả lớn dẫn
đến thâm hụt quỹ BHXH hoặc trong lúc đồng tiền mất giá.
5.Tính đặc thù của nghiệp vụ thu BHXH .
Quá trình thu BHXH có những đặc thù sau:
ơng, lấy đó làm căn cứ đóng BHXH từng tháng trong nhiều năm, kể cả trờng
hợp liên tục cũng nh gián đoạn, làm việc một nơi hay nhiều nợi ...Nh vậy quá
trình theo dõi ghi kết quả thu BHXH đòi hỏi liên tục trong nhiều năm, kể cả
thời gian ngừng đóng BHXH vẫn phải lu giữ đẻ đảm bảo khi ngời lao động
tiếp tục đóng hoặc yêu cầu giải quyết chế độ đều đợc thực hiện ngay. Hoạt
động thu của BHXH là hoạt động của cả đời ngời, có tính kế thừa, cho nên
nghiệp vụ quản lý thu, lu giữ sổ biểu là không có giới hạn về thời gian.
6. Tính đặc thù của nghiệp vụ chi BHXH.
Thực chất của hoạt động BHXH nh là hoạt động của các quỹ tiền tệ,
quỹ tín dụng khác thông qua cơ chế đóng góp trớc hởng thụ sau. Tuy nhiên
mục đích của hoạt động BHXH là mang tính nhân văn chứ không phải là
mang tính kinh doanh. Do đó mà quá trình chi trả của hoạt động BHXH mang
những đặc trng riêng:
Thứ nhất: Quá trình chi trả trợ cấp cho các đối tợng đợc bảo hiểm vừa
đợc xác định trớc vừa không đợc xác định trớc. chúng ta chỉ có thể xác định tr-
ớc các khoản trợ cấp sẽ phải chi cho chế độ hu trí và trong chế độ tử tuất khi
ngời lao động đã qua đời. Còn với các chế độ khác nh ốm đau, thai san, tai nạn
lao động...Thì chúng ta không thể xác định trớc đợc số tiền phải chi trả cũng
nh khi nào chúng ta phải chi trả số tiền đó. Bởi vì các rủi ro nói trên xảy ra
một cách bất thờng và hậu quả để lại là không lờng trớc đợc. Chúng ta không
thể nào biết đợc khi nào ngời lao động bị tai nạn lao động, khi nào họ bị ốm
đau và mức độ thơng tật là bao nhiêu, thời gian nghỉ ốm là bao nhiêu. Chính vì
vậy mà việc cân đối nguồn quỹ BHXH là một điều rất khó thực hiện chính
xác. Thông thờng ngời ta thờng xác định các khoản chi theo phơng pháp xác
suất thông qua kết quả điều tra thống kê trên quy mô lớn.
13
Thứ hai: cũng giống nh nghiệp vụ thu BHXH nghiệp vụ chi BHXH cho
chế độ hu trí, mất sức lao động, chế độ tử tuất hàng tháng đòi hỏi phải chi trả
trong một thời gian dài, liên tục. Mặt khác số lợng ngời nghỉ hu ngày càng
tăng lên. Do đó việc chi trả các chế độ này rất phức tạp. Nó đòi hỏi một đội
+ Điều kiện tồn tại ra đời và phát triển của NSNN gắn liền với sự ra
đời,tồn tại và phát triển của Nhà nớc và quá trình thực hiện các chức năng kinh
tế xã hội của Nhà nớc. Còn sự ra đời, tồn tại và phát triển của quỹ BHXH gắn
liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa với quan hệ thuê mớn nhân
công. Khi nền kinh tế càng phát triển, thu nhập của ngời lao động càng cao thì
phạm vi các chế độ BHXH càng mở rộng, mức độ thỏa mãn của NLĐ khi
tham gia BHXH càng cao.
+ Tính chất pháp lý của NSNN cao hơn của quỹ BHXH. Quá trình phân
phối của NSNN chủ yếu dựa vào quyền lực kinh tế,chính trị của Nhà nớc . Nhà
nớc ban hành các luật để thực hiện việc thu chi quỹ NSNN và quá trình này đ-
ợc sự giám sát và quản lý chặt chẽ của Quốc hội. Còn đối với quỹ BHXH thì
hoạt động thu, chi quỹ cũng đợc thực hiện dựa vào các văn bản pháp luật nhng
chủ yếu dựa vào quan hệ kinh tế,quan hệ lợi ích của những ngời tham gia theo
nguyên tắc có đóng mới có hởng và ngợc lại.
-Quan hệ phân phối của NSNN chủ yếu là phân phối lại và không mang
tính chất hoàn trả, chủ thể đóng góp và hởng thụ NSNN thông thờng là tách
rời nhau. Còn quan hệ phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa
mang tính chất không hoàn trả. Việc hoàn trả là không biết trớc chính xác về
quy mô, thời gian và không gian.
- Quan hệ phân phối của NSNN phản ánh quan hệ lợi ích của xã hội,
lợi ích quốc gia và chi phối các quan hệ lợi ích bộ phận, lợi ích cá
nhân nhằm đảm bảo cho sự ổn định của nền kinh tế xã hội. Quan hệ
phân phối của quỹ BHXH thì ngợc lại, trớc hết vì lợi ích của từng cá
nhân sau đó là lợi ích của đơn vị và cuối cùng là lợi ích xã hội.
VI/.Các chế độ BHXH .
15
Theo khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế (ILO) tại công ớc 102
tháng 6 năm 1952 ở Giơnevơ thì mỗi quốc gia nên xây dựng hệ thống BHXH
của mình với 9 chế độ trợ cấp. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện kinh tế, xã hội của
từng nớc mà mức độ tham gia vào công ớc 102 là khác nhau. Nhng để đợc coi
vĩnh viễn hay bị coi là tàn phế thì họ sẽ đợc nhận trợ cấp định kỳ hàng tháng
(quí, năm) từ quỹ BHXH. Điều này làm cuộc sống của ngời lao động bớt khó
khăn hơn.
Trên đây là 4 trong sô 9 chế độ BHXH đợc ILO nêu nêu ra mà Việt
Nam hoặc là không thực hiện hoặc là xây dựng thành một hệ thống BHXH
riêng. 5 chế độ BHXH còn lại đã đợc nớc ta tiếp nhận và thực hiện hoàn chỉnh
theo ND 12 CHI PHí ngày 26 tháng 1 năm 1995:
*/chế độ trợ cấp ốm đau:
Mục đích của chế độ này là giúp cho NLĐ có đợc khoản trợ cấp thay
thé thu nhập bị mất do không làm việc khi họ ốm đau. Một số mức hởng và
điều kiện hởng của chế độ này đợc qui định nh sau:
- Đối với ngời lao động làm việc trong điều kiện bình thờng:
+ 30 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH dới 15 năm
+40 ngày trong năm, nếu đã đóng BHXH từ 15 năm đến 30 năm
+ 50 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH trên 30 năm
- Đối với ngời lao động làm việc nặng nhọc, độc hại, ở nơi có trợ cấp
khu vực hệ số từ 0,7 trở lên:
+ 40 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH dới 15 năm
+ 50 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH từ 15 năm đến 30
năm
+ 60 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH trên 30 năm
Mức trợ cấp ốm đau là bằng 75% của tiền lơng tháng làm căn cứ
đóng BHXH trớc khi nghỉ ốm.
- Trong trờng hợp NLĐ bị mắc các bệnh cần điều trị dài ngày thì đợc
hởng trợ cấp tối đa là 180 ngày trong 1 năm không phân biệt thời
gian đong BHXH nhiều hay ít.Nếu sau 180 ngày mà vẫn phải điều
trị tiếp thì mức trợ cấp chỉ bằng 70% nếu đã đóng BHXH trên 30
năm và 65% cho trờng hợp ngợc lại.
*chế độ thai sản.
17
trong giờ làm việc, trên tuyến đờng đi và về từ nhà đến nơi làm việc...
18
Nh vậy, bản chất kinh tế xã hội của 3 chế độ trên(các chế độ ngắn hạn)
phản ánh mối quan hệ kinh tế xã hội giữa NLĐ, ngời SDLĐ và Nhà nớc
thông qua việc tạo lập và sử dụng quỹ BHXH nhằm ổn định cuộc sống
cho ngời lao động , ổn định sản xuất kinh doanh của ngời SDLĐ và ổn
định xã hội.
*Chế độ tử tuất
đây là chế độ mang tính nhân đạo nhất trong các chế độ của BHXH.
Chế độ này sẽ trợ cấp cho thân nhân ngời lao động một số tiền nhất
định để bù đắp những thiếu hụt vè thu nhập của gia đìnhtrong trờng hợp
ngời lao động bị tử vong. Điều kiện qui định đợc hởng và mức hởng nh
sau:
- Ngời lao động đang làm việc ; NLĐ đang nghỉ hu; NLĐ đang nhận
trợ cấp h trí, TNLĐ, BNN... khi chết thì ngời lo mai táng nhận đợc
tiền mai táng bằng 8 tháng tiền lơng tối thiểu
- Ngoài ra, nếu họ đã đóng BHXH đủ 15 năm trở lên thì những thân
nhân do họ trực tiếp nuôi dỡng sau đây sẽ nhận đợc tiền tuất hàng
tháng:
con cha đủ 15 tuổi, nếu còn đang đi học thị đợc trợ cấp cho
đến khi 18 tuổi
Bố, mẹ,vợ hoặc chồng;ngời nuôi dỡng hợp pháp đẫ hết tuổi lao
động. Mức trợ cấp hàng tháng là 40% tiền lơng tối thiểu và
70% trong trờng hợp thân nhân không có nguồn thu nhập nào
khác và không có ngời thân trực tiếp nuôi dỡng
* chế độ hu trí
Đây là loại trợ cấp nhằm cung cấp một khoản thu nhập hàng tháng
thay thế cho phần thu nhập không nhận đợc nữa từ nghề nghiệp do
nghỉ công tác. Điều kiện hởng của chế độ này là: nam đủ 60 tuổi,
nữ đủ 55 tuổi có ít nhất 20 năm đóng BHXH hoặc giảm 5 tuổi cho
đóng 9,8%.
20
+Đối với trợ cấp gia đình: NSDLĐ đóng toàn bộ với tỷ lệ 5,4%.
+Đối với trợ cấp góa bụa: NLĐ đóng 0,1%
2.ở nớc Mỹ
Hệ thống BHXH bao gồm các chế độ sau: hu trí, tử tuất, y tế và
thơng tật. Nguồn tài trợ là từ thuế phúc lợi xã hội mà chính quyền
liên bang thu và sự đóng góp của NLĐ là 7,65% và NSDLĐ là
13,65%. Để đợc hởng trợ cấp thì ngời lao động phải nộp đến một
mức nào đó. Kêr từ năm 1993, nếu một ngời đóngBHXH đợc 590
USD thì dợc một điểm thụ hởng. Mỗi ngời phải có đủ 40 điểm
trong 10 năm trớc khi nghỉ hu. Nh vậy cơ chế thu BHXH ở Mỹ là
vừa theo tỷ lệ trích nộp vừa phải thu đến một mức nhất định.
VIII.Cơ chế chi BHXH ở các n ớc
1. Chi trợ cấp hu trí
Có nhiều phơng thức chi trợ cấp hu trí ở các nớc. Một vài nớc
xác định mức đồng nhất, coi là mức tối thiểu thích hợp với mặt
bằng chung của quốc gia. Một số nớc lại định mức trợ cấp theo
thu nhập đã từng có của ngời lao động trớc khi nghỉ hu. Các nớc
khác thì kết hợp cả hai cách: trong phần trợ cấp có hai phần cơ
bản là một mức đồng nhất cộng thêm phần tỷ lệ theo mức thu
nhập. Mức trợ cấp h trí ở một số nớc nh sau:
- ở Mỹ: mức trợ cấp hu trí đồng nhất tối thiểu là 122 USD/tháng, tính
trên thu nhập đợc bảo hiểm cho tới khi nghỉ hu.
- ở Pháp: trợ cấp bằng 50% thu nhập bình quân của 10 năm có thu
nhập cao nhất.
21
- ở Philipin: trợ cấp bằng 1,5% lơng bình quân tháng của 120 tháng
cuối cộng với 42-102%tiền lơng bình quân của 10 tháng lơng.
huyện Yên sơn(tuyên quang) trong thời gian qua
I/Cơ chế tạo lập và quản lý nguồn quỹ BHXH
Có thu mới có chi là nguyên tắc hoạt động của các cơ quan BHXH
nhằm đảm bảo quyền lợi cho ngời lao động. Chính vì vậy mà công tác thu
23
BHXH và quản lý nguồn thu có vai trò quan trọng trong hoạt động của ngành
BHXH. Do đó, BHXH Việt Nam đã triển khai thực hiện thu BHXH theo mô
hình 3 cấp từ TW đến thành phố, tỉnh và đến các quận huyện. Hàng năm
BHXH Việt Nam dựa vào kết quả thu BHXH, số lợng lao động trên địa bàn
tỉnh để đề ra kế hoạch nhiệm vụ của ngành trong các năm tiếp theo. Đồng thời
BHXH Việt Nam cũng dựa vào đó để đề ra chỉ tiêu thu BHXH cho các cơ
quan BHXH tỉnh, thành phố. Trên cơ sở các chỉ tiêu này, các cơ quan BHXH
tỉnh, thành phố sẽ xem xét lại quỹ tiền lơng, số lợng lao động, tổ chức đóng
trên địa bàn tỉnh thành phố và các quận huyện để triển khai kế hoạch cụ thể
đến từng cơ quan BHXH các quận huyện. Để có đợc các chỉ tiêu kế hoạch nói
trên thì hàng quý các cơ quan BHXH các quận huyện phải tổng hợp kế hoạch
thu BHXH của các đơn vị do mình chịu trách nhiệm tổ chức thu ghi sổ BHXH
gửi cho cơ quan BHXH tỉnh vào ngày 25 của tháng cuối quý trớc theo biểu 2-
BCT ; các cơ quan BHXH tỉnh, thành phố cũng tổng hợp kế hoạch thu của tất
cả các đơn vị trên địa bàn theo mẫu 3-BCT và gửi đồng thời về BHXHVN vào
ngày 30 của tháng cuối quý trớc.
Sau khi kế hoạch, nhiệm vụ đã đợc triển khai thì các cơ quan BHXH các
tỉnh, thành phố, quận huyện tiến hành hớng dẫn các đơn vị trên địa bàn mình
lập danh sách và quỹ tiền lơng hàng tháng, quý để xác định số tiền BHXH mà
các đơn vị phải đóng. Số tiền này đợc tập trung vào một tài khoản của tỉnh,
thành phố, sau đó chúng lại đợc tập trung vào tài khoản của BHXHVN.
1/ Đối với cán bộ thu của BHXH tỉnh.
- Lập kế hoạch thu BHXH hàng quý năm.
- Hớng dẫn đơn vị lập danh sách lao động, quỹ tiền lơng đóng BHXH
và phiếu điều chỉnh mức lơng đóng BHXH hàng tháng.
sử dụng lao động nào sẽ trực tiếp gặp gỡ cán bộ phụ trách công tác BHXH đơn
vị đó để thực hiện theo công văn số 480/LĐ- TBXH ngày 24/3/1999 của Bộ
lao động - Thơng binh và Xã hội về việc bố trí cán bộ làm công việc sau:
Tuyên truyền, giải thích các chế độ chính sách về BHXH,
quyền lời và nghĩa vụ của ngời lao động và ngời sử dụng lao
động.
Hớng dẫn đơn vị sử dụng lao động lập danh sách lao động và
quỹ tiền lơng tham gia đóng BHXH.
25