Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Sự tồn tại và phát triển của con ngời do rất nhiều nhân tố quyết định trong đó
không thể không kể đến hệ thống an sinh xã hội với nòng cốt là chính sách
Bảo hiểm Xã hội (BHXH ). BHXH là chính sách xã hội đợc nhiều quốc gia coi
trọng nhằm đảm bảo về mặt thu nhập cho ngời lao động khi họ tạm thời hoặc
vĩnh viễn mất khả năng lao động. BHXH ở việt Nam đã đợc Đảng và Nhà nớc
ta quan tâm ngay từ khi mới thành lập nớc và nó đã đóng góp lớn cho sự phát
triển của đất nớc.
Hoạt động của BHXH ngày càng hiệu quả hơn đặc biệt là sau năm 1995 khi
mà quỹ BHXH dợc hình thành độc lập ngoài ngân sách nhà nớc. Quỹ BHXH
là sơng sống của bất kỳ một hệ thống BHXH nào vì các chế độ BHXH đều
nhằm mục đích bảo đảm an toàn về thu nhập cho ngời lao động, muốn vậy thì
cơ quan BHXH phải có một lợng tiền nhất định.
Trong những năm qua quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH của cơ
quan BHXH huyện Yên Sơn( Tuyên Quang )đã thu đợc nhiều thành tựu nh:
phí thu đợc ngày càng nhiều, chi trả đúng đối tợng...Tuy nhiên trong quá trình
trên chúng ta vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập nh: Cha khai thác hết lực lợng lao
động, vẫn tồn tại tình trạng trục lợi BHXH. Điều này đã làm cho hiệu quả hoạt
động của quỹ BHXH cha cao và còn nhờ nhiều vào ngân sách Nhà Nớc. Nh
vậy vấn đề thu chi có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của chế độ BHXH Việt
Nam cũng nh BHXH các tỉnh, huyện trong cả nớc trong đó có BHXH Huyện
Yên Sơn nhng vẫn còn nhiều tồn tại cần phải đợc xem xét và bàn luận trên
nhiều khía cạnh khác nhau. Chính vì vậy em đã chọn đề tài:
Công tác thu, chi và quản lý quỹ BHXH Huyện Yên Sơn(Tuyên Quang )
thời gian qua
Mục đích của chuyên đề :
1. Làm rõ thu, chi BHXH là gì ?
2. Đánh giá thực trạng công tác thu chi quỹ BHXH tại BHXH Huyện Yên Sơn
trong thời gian qua.
1
lao động, cho sự ổn định hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức và các công
ty. Có thể thấy rằng sự xuất hiện của BHXH là nhu cầu tất yếu khách quan và
là nhu cầu của cuộc sống của ngời lao động.
Xét từ phía ngời lao động: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngời lao động
luôn gặp phải những rủi ro mang tính khách quan nh: ốm đau, tai nạn lao động
hoặc mắc các bệnh nghề nghiệp gây ra làm cho hị mất khả năng lao động tạm
thời hoặc vĩnh viễn, dẫn đến nguồn thu nhập của họ bị giảm đi hoặc không còn
nữa; hoặc ngời lao động bị chết trong khi con cái đang tuổi vị thành niên, bố
mẹ già không nơi nơng tựa; hoặc về già không còn khả năng lao động để có
thu nhập từ tiền lơng, tiền công, hơn thế nữa bệnh tật ốm đau lại xảy ra thờng
xuyên hơn gây nhiều khó khăn cho ngời lao động. Những rủi ro này không chỉ
làm giảm thu nhập của ngời lao động mà còn làm giảm nguồn lực tài chính
của họ và gia đình do các chi phí mới phát sinh nh: chi phí khám chữa bệnh,
chi phí chăm sóc, phục hồi sức khỏe, chi phí mai táng. Do đó cuộc sống của
ngời lao động trong hoàn cảnh này là rất khó khăn và giúp đỡ về mặt tài chính
là rất cần thiết, có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Xét từ phía doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trờng mối quan hệ giữa giới
chủ và thợ là mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc nhau bởi quyền lợi và trách
nhiệm của mỗi bên. Các doanh nghiệp vừa phải tạo điều kiện làm việc tốt cho
ngời lao động, phải trả công cho họ vừa phải có trách nhiệm giúp đỡ khi họ
không may gặp phải rủi ro trong quá trình lao động nh: tai nạn lao động, ốm
đau. Chính các chi phí phát sinh này làm ảnh hởng đến tình hình tài chính của
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
doanh nghiệp đặc biệt là những đợt dịch bệnh, trờng hợp tích tụ rủi ro, rủi ro
mang tính thảm họa. Điều này ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh
để trang trải cho các chi phí đó.
Xét từ phía xã hội: Sự vận động của các quy luật nội tại trong nền kinh
tế thị trờng, đặc biệt là quy luật cạnh tranh, trong nhiều trờng hợp đã đẩy một
số doanh nghiệp vào tình trạng bất ổn, thậm chí là phá sản dẫn đến hàng loạt
có nhiều ngời nhầm lẫn giữa đối tợng và đối tợng tham gia BHXH , họ cho
rằng đối tợng của BHXH là ngời lao động. Thực ra, trong BHXH thì đối tợng
của nó chính là thu nhập của ngời lao động. Bởi lẽ, khi ngời lao động gặp sự
cố hoặc rủi ro thì họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động dẫn đến thu nhập bị
giảm hoặc mất hẳn, do đó, tại thời điểm ấy họ mong muốn có một khoản tiền
nhất định để chi trả cho các nhu cầu thiết yếu cũng nh các nhu cầu mới phát
sinh. Còn ngời lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tợng tham gia, vừa là
đối tợng đợc bảo hiểm, họ cũng là đối tợng đợc hởng quyền lợi BHXH (chiếm
phần lớn trong các trờng hợp phát sinh trách nhiệm BHXH). Đối tợng tham gia
BHXH không chỉ có ngời lao động mà còn có cả ngời sử dụng lao động và
Nhà nớc. Sở dĩ ngời sử dụng lao động tham gia vào BHXH là vì phàn họ thấy
đợc lợi ích thiết thực khi đã tham gia BHXH, một phần là do sự ép buộc của
nhà nớc thông qua các văn bản qui phạm pháp luật. đối với nhà nớc thì lại
khác, họ tham gia BHXH với hai t cách là chủ sử dụng lao động đối vơi tất cả
công nhân viên chức và những ngời hởng lơng từ Ngân sách Nhà nớc: t cách
thứ hai là ngời bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể là bảo hộ giá trị cho quỹ
BHXH, bảo hộ cho sự tăng trởng của quĩ nhằm tạo sự ổn định cho quĩ và sự ổn
định về mặt xã hội.
Đối tợng đợc bảo hiểm trong quan hệ BHXH ngoài ngời lao động còn
có ngời sử dụng lao động. Bởi vì, khi ngời lao động gặp rủi ro thì ngời sử dụng
lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ. Điều này có nghĩa là họ phải bỏ ra một
khoản chi phí cho ngời lao động, nhng thực tế chi phí này nhanh chóng đợc cơ
quan BHXH hoàn trả lại.
Đối tợng đợc hởng quyền lợi BHXH là ngời lao động trong trờng hợp
họ rủi ro nh: ốm đau, thai sản, TNLĐ và BNN, hu trí. Nhng trong trờng hợp
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngời lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối tợng hởng thụ quyền lợi BHXH
lại là thân nhân của ngời lao động nhự: bố, mẹ, con, vợ(chồng).
III/ chức năng của BHXH.
nh mâu thuẫn về tiền lơng, thời gian lao động ...sẽ đợc điều hòa và giải quyết.
Đặc biệt là cả hai giới này đều thấy đợc nhờ có BHXH mà mình có lợi và đợc
bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau và gắn bó lợi ích với nhau. Còn đối với
Nhà nớc và xã hội thì chi cho BHXH là khoản chi rất nhỏ (vì chỉ mang tính
chất hỗ trợ), nhng lại đem lại hiệu quả rất cao trong đảm bảo ổn định trong đời
sống của ngời lao động và gia đình họ, góp phần ổn định sản xuất và kinh tế
xã hội.
IV/ Tính chất của bảo hiểm xã hội.
Sự ra đời của BHXH gắn liền với đời sống của ngời lao động do đó
BHXH có một số tính chất cơ bản sau:
+ Mang tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội.
+ BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian
và không gian. Những rủi ro trong BHXH đã hình thành nên tính chất ngẫu
nhiên của nó. Bởi lẽ các rủi ro đợc áp dụng các BHXH đều không thể lờng trớc
đợc, các rủi ro này xảy ra một cách bất thờng. Chính vì vậy mà không phải tất
cả ngời lao động của một tổ chức hay là tất cả các tổ chức đều phải chịu chung
một hay nhiều rủi ro cùng một lúc.
+ BHXH vừa mang tính kinh tế, vừa có tính xã hội và cả tính dịch vụ.
Tính kinh tế của BHXH đợc thể hiện thông qua cơ chế tạo lập và sử dụng quỹ
BHXH. Quỹ BHXH muốn đợc hình thành, bảo toàn và tăng trởng thì nhất thiết
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phải có sự đóng góp tài chính của tất cả các bên liên quan. Mức đóng góp của
các bên đợc xác định rất cụ thể dựa trên nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã
hội là lấy số đông bù số ít, do thực chất mức đóng góp của mỗi ngời lao động
là không đáng kể so với mức họ đợc hởng. Xét dới góc độ kinh tế thì ngời sử
dụng lao động cũng đợc lợi rất nhiều trong quan hệ BHXH khi tham gia
BHXH họ sẽ không phải chi trả các chi phí cho ngời lao động bị giảm hoặc
mất khả năng lao động. Còn về phía Nhà nớc thì hoạt động tạo lập quỹ BHXH
đã làm giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN đồng thời nó góp phần đầu t cho nền
có của Nhà nớc là vì quyền lợi của ngời lao động chứ không vì mục
đích kiếm lời, đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế, xã hội và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ của mỗi quốc
gia. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì càng có nhiều chế độ
BHXH đợc thực hiện, và bản thân từng chế độ cũng đợc áp dụng
rộng rãi hơn, nhu cầu thỏa mãn về BHXH của ngời lao động càng đ-
ợc nâng cao. Mặt khác, khi nền kinh tế phát triển thì mức thu nhập
của ngời lao động càng cao và họ càng có khả năng tham gia vào
nhiều chế độ BHXH.
- Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng ngày càng đợc thể hiện
thông qua các mục tiêu, mục đích của nó là chi trả cho các chế độ
BHXH. Nhng mặt khác nó lại mang tính dự trữ vì thông thờng, khi
ngời lao động đống góp vào quỹ BHXH thì họ không đợc quỹ này
chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có thời gian dự bị.
- Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế
độ tiết kiệm bắt buộc của xã hội và ngời lao động dành cho ốm đau,
hu trí. Đó cũng là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và
cộng đồng.
3. Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH đợc hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:
+Sự đóng góp của ngời lao động
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+Sự đóng góp của ngời sử dụng lao động
+Sự đóng góp và hỗ trợ của Nhà nớc
+Thu từ các nguồn khác
Đối với phần lớn các nớc trên thế giới thì quỹ BHXH đều đợc hình
thành từ các nguồn trên. Tuy nhiên tùy từng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của
từng quốc gia mà tỉ lệ đóng góp giữa các bên, mức độ đóng góp của từng bên,
mức độ can thiệp của Nhà nớc, hay phơng thức đóng góp sẽ khác nhau.
: là phí dự trữ
Phí thuần của BHXH là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của phí
BHXH. Phí thuần đợc xác định để đảm bảo chi trả cho tất cả các chế độ
BHXH. Chính vì vậy,việc xác định phí BHXH là rất phức tạp, nó phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố khác nhau: cơ cấu lao động theo độ tuổi, đặc điểm cấu tạo
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sinh học của ngời trong một nớc, kết cấu giới tính trong lực lợng lao động, tuổi
thọ bình quân của ngời dân, điều kiện làm việc chung của ngời lao động...
Ngoài sự đóng góp của ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà n-
ớc, quỹ BHXH còn đợc hình thành từ các nguồn khác nh : tiền sử phạt đối với
các đơn vị vi phạm điều lệ BHXH; sự hỗ trợ, sự viện trợ của các tổ chức trong
và ngoài nớc, lãi từ hoạt động đầu t phần quỹ BHXH nhàn rỗi..
4.Mục đích sử dụng quỹ BHXH .
Nh đã trình bày ở phần trên, phí BHXH bao gồm 3 bộ phận: phí thuần,
phí dự trữ, phí quản lý. Nh vậy, rõ ràngquỹ BHXH đợc dùng cho 3 mục đích:
chi trả cho các chế độ BHXH, chi cho việc quản lý hệ thống BHXH , chi trích
lập quỹ dự trữ cho những trờng hợptônr thất lớn.
Trong cơ cấu chi BHXH thì cho các chế độ BHXH là rất lớn và chiếm
phần lớn nguồn quỹ này vì đây là mục tiêu cơ bản nhất của BHXH :đẩm bảo
ổn định cuộc sống cho ngời lao động, đảm bảo ổn dịnh hoạt động của các đơn
vị, tổ chức. Thực tế cho thấy, việc chi trả cho các chế độ BHXH diễn ra thờng
xuyên và liên tục với số lợng lớn trên phạm vi rộng lớn. Một trong những
khoản chi thờng xuyên là chi lơng hu cho những ngời đã nghỉ công tác; và chi
trả trợ cấp hàng tháng cho thân nhân của ngời lao động khi họ qua đời.
Nguồn chi thứ hai trong BHXH là chi cho việc quản lý nghiệp vụ
BHXH. Đây là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi BHXH nhng nó cũng là
một khoản chi ngày càng lớn. Bởi vì các chế độ BHXH ngày càng rộng rãi để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngời lao động, do đó đội ngũ phục vụ
BHXH ngày càng nhiều dẫn đến chi lơng cán bộ ngày càng lớn. Mặt khác, xã
đăng ký đóng BHXH của từng cơ quan, đơn vị cùng sổ BHXH của từng ngời
mà việc quản lý theo dõi phải đợc thực hiện ở ba cấp là: BHXH tỉnh quản lý
danh sách, lao động, tiền lơng đơn vị, cơ quan đăng ký đóng BHXH cơ bản
tăng, giảm hàng tháng để ghi nhận kế quả đóng lập thành hồ sơ gốc. BHXH
huyện làm nhiệm vụ đôn đốc và đối chiếu kêt quả đóng của cơ quan, đơn vị
theo địa bàn quản lý, từ đó hớng dẫn cơ quan đơn vị ghi kết quả đóng BHXH
vào sổ BHXH của từng ngời. Đây là căn cứ để giải quyết chế độ hởng BHXH.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chính vì những đặc thù trền mà hoạt động thu BHXH đòi hỏi phải đợc
tập trung thống nhất, có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dới, đảm bảo an
toàn tuyệt đối về tài chính tiền tệ, đảm bảo đọ chính xác trong việc ghi chép
kết quả đóng BHXH của từng cơ quan, đơn vị đến từng lao động theo tiền l-
ơng, lấy đó làm căn cứ đóng BHXH từng tháng trong nhiều năm, kể cả trờng
hợp liên tục cũng nh gián đoạn, làm việc một nơi hay nhiều nợi ...Nh vậy quá
trình theo dõi ghi kết quả thu BHXH đòi hỏi liên tục trong nhiều năm, kể cả
thời gian ngừng đóng BHXH vẫn phải lu giữ đẻ đảm bảo khi ngời lao động
tiếp tục đóng hoặc yêu cầu giải quyết chế độ đều đợc thực hiện ngay. Hoạt
động thu của BHXH là hoạt động của cả đời ngời, có tính kế thừa, cho nên
nghiệp vụ quản lý thu, lu giữ sổ biểu là không có giới hạn về thời gian.
6. Tính đặc thù của nghiệp vụ chi BHXH.
Thực chất của hoạt động BHXH nh là hoạt động của các quỹ tiền tệ,
quỹ tín dụng khác thông qua cơ chế đóng góp trớc hởng thụ sau. Tuy nhiên
mục đích của hoạt động BHXH là mang tính nhân văn chứ không phải là
mang tính kinh doanh. Do đó mà quá trình chi trả của hoạt động BHXH mang
những đặc trng riêng:
Thứ nhất: Quá trình chi trả trợ cấp cho các đối tợng đợc bảo hiểm vừa
đợc xác định trớc vừa không đợc xác định trớc. chúng ta chỉ có thể xác định tr-
ớc các khoản trợ cấp sẽ phải chi cho chế độ hu trí và trong chế độ tử tuất khi
ngời lao động đã qua đời. Còn với các chế độ khác nh ốm đau, thai san, tai nạn
quỹ BHXH.
- Sự giống nhau giữa NSNN và quỹ BHXH
+ Việc tạo lập và sử dụng mỗi nguồn quỹ đều biểu hiện dới hình thái
tiền tệ. Quá trình này cũng đều đợc thực thi theo các quy định của pháp
luật và việc quản lý đợc tiến hành theo nguyên tắc cân bằng thu chi.
+ Quỹ BHXH và NSNN là những khâu tài chính độc lập trong hệ
thống tài chính quốc gia, chức năng của NSNN mang tính rộng rãi hơn
so với quỹ BHXH.
+ Hoạt động của cả quỹ BHXH và NSNN đều không phải là nhằm
mục đích kinh doanh kiếm lời mà hoạt động của chúng mang đậm tính
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chất xã hội, tính cộng đồng và trong nhiều trơng hợp hoạt động của hai
quỹ này mang tính nhân văn cao cả.
- Sự khác nhau giữa NSNN và quỹ BHXH
+ Điều kiện tồn tại ra đời và phát triển của NSNN gắn liền với sự ra
đời,tồn tại và phát triển của Nhà nớc và quá trình thực hiện các chức năng kinh
tế xã hội của Nhà nớc. Còn sự ra đời, tồn tại và phát triển của quỹ BHXH gắn
liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa với quan hệ thuê mớn nhân
công. Khi nền kinh tế càng phát triển, thu nhập của ngời lao động càng cao thì
phạm vi các chế độ BHXH càng mở rộng, mức độ thỏa mãn của NLĐ khi
tham gia BHXH càng cao.
+ Tính chất pháp lý của NSNN cao hơn của quỹ BHXH. Quá trình phân
phối của NSNN chủ yếu dựa vào quyền lực kinh tế,chính trị của Nhà nớc . Nhà
nớc ban hành các luật để thực hiện việc thu chi quỹ NSNN và quá trình này đ-
ợc sự giám sát và quản lý chặt chẽ của Quốc hội. Còn đối với quỹ BHXH thì
hoạt động thu, chi quỹ cũng đợc thực hiện dựa vào các văn bản pháp luật nhng
chủ yếu dựa vào quan hệ kinh tế,quan hệ lợi ích của những ngời tham gia theo
nguyên tắc có đóng mới có hởng và ngợc lại.
-Quan hệ phân phối của NSNN chủ yếu là phân phối lại và không mang
* chăm sóc y tế: Chế độ này nhằm cung cấp các khoản viện phí, chi phí
thuốc chữa bệnh cho ngời lao động khi họ bị ốm đau phải nằm viện.Hiện nay
ở nớc ta chế độ này không đợc đa vào chế độ này không đợc đa vào hệ thống
các chế độ BHXH nhng đợc tổ chức thành bảo hiểm y tế vơí đầy đủ các phòng
ban chuyên môn.
*Trợ cấp thất nghiệp:
Là loại trợ cấp nhằm đem lại cho ngời lao động những khoản thu nhập
định kỳ để họ đủ khả năng duy trì cuộc sống ổn định khi ngời lao động bị rơi
vào tình trạng thất nghiệp. Đối với Việt Nam chế độ này đang đợc xem xét để
đa vào loại hình bảo hiểm thất nghiệp.
* Trợ cấp gia đình: Loại hình trợ cấp này mang đậm tính tơng trợ. Bởi vì
nó sẽ cung cấp tài chính cho các gia đình trở nên khó khăn, vất vả nh: thiên
tai, lụt lội, dịch bệnh ...
* Trợ cấp khi tàn phế:
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong trờng hợp ngời lao động không may bị mất khả năng lao động
vĩnh viễn hay bị coi là tàn phế thì họ sẽ đợc nhận trợ cấp định kỳ hàng tháng
(quí, năm) từ quỹ BHXH. Điều này làm cuộc sống của ngời lao động bớt khó
khăn hơn.
Trên đây là 4 trong sô 9 chế độ BHXH đợc ILO nêu nêu ra mà Việt
Nam hoặc là không thực hiện hoặc là xây dựng thành một hệ thống BHXH
riêng. 5 chế độ BHXH còn lại đã đợc nớc ta tiếp nhận và thực hiện hoàn chỉnh
theo ND 12 CHI PHí ngày 26 tháng 1 năm 1995:
*/chế độ trợ cấp ốm đau:
Mục đích của chế độ này là giúp cho NLĐ có đợc khoản trợ cấp thay
thé thu nhập bị mất do không làm việc khi họ ốm đau. Một số mức hởng và
điều kiện hởng của chế độ này đợc qui định nh sau:
- Đối với ngời lao động làm việc trong điều kiện bình thờng:
+ 30 ngày trong 1 năm, nếu đã đóng BHXH dới 15 năm
5 tháng đối với ngời làm các nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc
hại, làm việc theo chế độ 3 ca, làm việc nơi có hệ số phụ cấp khu vực
là 0,5 và 0,7.
6 tháng đối với ngời làm việc ở nơi có hệ số phụ cấp là 1 ; ngời
làm nghề hoặc công việc đặc biệt.
* chế độ trợ cấp TNLĐ và BNN.
Đây là chế độ nhằm góp phần đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống
cho ngời lao động không may bị tai nạn trong quá trình làm việc hoặc mắc các
bệnh nghề nghiệp. Chế độ này qui định rõ trách nhiệm của NSDLĐ đối với
các trờng hợp TNLĐ hoặc các BNN. Mức trợ cấp của chế độ này dựa trên cơ
sở tỷ lệ suy giảm khả năng lao động .
+Bị suy giảm từ 5- 10%: trợ cấp bằng 4 tháng tiền lơng tối thiểu
+Từ 11-20%: trợ cấp bằng 8 tháng tiền lơng tối thiểu
+Từ 21-30%: trợ cấp bằng 12 tháng tiền lơng tối thiểu
- Bị suy giảm từ 31% trở lên sẽ đợc trợ cấp bằng 0,4 tháng tiền lơng
tối thiểu dối với ngời bị suy giảm từ 31-40%. Cứ suy giảm thêm
10% tiếp theo thì đợc hởng thêm 0,2 tiền lơng tối thieủ.
điều kiện để đợc hởng trợ cấp là NLĐ bị tai nạn trong các trờng hợp:
trong giờ làm việc, trên tuyến đờng đi và về từ nhà đến nơi làm việc...
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nh vậy, bản chất kinh tế xã hội của 3 chế độ trên(các chế độ ngắn hạn)
phản ánh mối quan hệ kinh tế xã hội giữa NLĐ, ngời SDLĐ và Nhà nớc
thông qua việc tạo lập và sử dụng quỹ BHXH nhằm ổn định cuộc sống
cho ngời lao động , ổn định sản xuất kinh doanh của ngời SDLĐ và ổn
định xã hội.
*Chế độ tử tuất
đây là chế độ mang tính nhân đạo nhất trong các chế độ của BHXH.
Chế độ này sẽ trợ cấp cho thân nhân ngời lao động một số tiền nhất
định để bù đắp những thiếu hụt vè thu nhập của gia đìnhtrong trờng hợp
tế(quan hệ lợi ích) giữa NLĐ, NSDLĐ và Nhà nớc.
VII.Cơ chế tạo lập quĩ BHXH ở một số n ớc
trên thế giới
1. ở nớc cộng hòa Pháp.
Nguồn tài trợ cho quỹ BHXH đợc xác định theo một cơ chế hết
sức phức tạp: quĩ BHXH đợc tách ra làm 2 loại là quĩ bảo hiểm y
tế, thai sản, thơng tật, chết và quĩ trợ cấp hu trí, góa bụa, trợ cấp
gia đình. Đối với loại quĩ thứ nhất ngời ta lại tách ra làm 2 nguồn:
+ Đóng góp cho rủi ro nghề nghiệp: nguồn tài trợ chính là các
khoản đóng góp trên lơng với cơ cấu ngời lao động đóng 6,8%;
NSDLĐ đóng 12,8%
+Đóng góp cho rủi ro phi nghề nghiệp: khoản đóng góp đợc thu
toàn bộ từ phía NSDLĐ. Tỉ lệ đóng góp đợc xác định tùy thuộc
theo số lợng lao động trong mỗi doanh nghiệp.Ngoài ra, luật pháp
quy định quĩ này cũng đợc thu 15%phí bảo hiểm xe cỏ giới từ các
hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới của các công ty bảo hiểm để đảm
bảo cho các tai nạn giao thông và một phần thu từ thuế rợu,thuốc
lá.
Đối với quĩ thứ hai thì ngời ta cũng chia ra rấtcuj thể:
+Đối với trợ cấp hu trí: NLĐ đóng 6,55%tiền lơng ,NSDLĐ
đóng 9,8%.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+Đối với trợ cấp gia đình: NSDLĐ đóng toàn bộ với tỷ lệ 5,4%.
+Đối với trợ cấp góa bụa: NLĐ đóng 0,1%
2.ở nớc Mỹ
Hệ thống BHXH bao gồm các chế độ sau: hu trí, tử tuất, y tế và
thơng tật. Nguồn tài trợ là từ thuế phúc lợi xã hội mà chính quyền
liên bang thu và sự đóng góp của NLĐ là 7,65% và NSDLĐ là
13,65%. Để đợc hởng trợ cấp thì ngời lao động phải nộp đến một
3.Chi trợ cấp thai sản
- ở Pháp : Lao động nữ đợc hởng trợ cấp 100% chi phí sinh đẻ và 4
tháng chi phí y tế trớc khi nghỉ đẻ. Khi sinh, lao động nữ đợc trợ cấp
thu nhập 16 tuần nghỉ(10 tuần sau và 6 tuần trớc khi đẻ).
- ở Philipin: Lao động nữ đợc nghỉ 45 ngày giữ nguyên lơng khi sinh
con.
4.Chi trợ cấp TNLĐ và BNN.
Hầu hết các nớc trên thế giới đều quy định mức trợ cấp tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp phụ thuộc vào mức độ thơng tật, tỷ lệ suy giảm khả năng
lao động nhng với điều kiện là không có sai phạm trong quá trình lao động
hoặc không bỏ việc hay đình công. Mức trợ cấp này có thể là một lần và cũng
có thể là nhiều lần.
- ở Anh: NLĐ bị TNLĐ tạm thời đợc hởng 8 tuần nh trợ cấp ốm đau.
Kể từ tuần thứ 8 trở đi đợc hởng 25 bảng 1 tuần cộng với 14,45 bảng
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cho vợ ; 0,3 bảng cho con. Đối với trợ cấp dài hạn tối đa là 53,6
bảng/tuần cho mức thơng tật là 100%.
- ở Pháp: NLĐ bị tai nạn dẫn đến thơng tật đợc trợ cấp dài hạn. Nếu
NLĐ không thể tự kiếm sống thì đợc trợ cấp bằng 50% lơng bình
quân của 10 năm có lơng cao nhất.
Phần 2
Công tác thu, chi và quản lý quỹ BHXH tại BHXH
huyện Yên sơn(tuyên quang) trong thời gian qua
I/Cơ chế tạo lập và quản lý nguồn quỹ BHXH
Có thu mới có chi là nguyên tắc hoạt động của các cơ quan BHXH
nhằm đảm bảo quyền lợi cho ngời lao động. Chính vì vậy mà công tác thu
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
BHXH và quản lý nguồn thu có vai trò quan trọng trong hoạt động của ngành
BHXH hoặc di chuyển nơi làm việc.
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Báo cáo kết quả thu BHXH về BHXH Việt Nam theo quy định:
Báo cáo 10 ngày/ lần.
Báo cáo tháng vào ngày 05 tháng sau.
Báo cáo quý vào ngày 15 tháng đầu quý sau.
Báo cáo năm vào ngày 20 tháng đầu năm sau.
2/ Đối với cán bộ chuyên thu BHXH của BHXH huyện Yên Sơn.
- Phát hiện thêm các đối tợng phải tham gia BHXH trên địa bàn quản
lý của mình. Đây là công việc có vị trí quan trọng đối với sự tồn tại
và phát triển của BHXH nói trung và BHXH các tỉnh, huyện nói
riêng. Bởi vì có phát hiện thêm các cơ sở, đơn vị tham gia BHXH thì
số lợng ngời lao động sẽ tăng lên và nguyên tắc số đông bù số ít
trong hoạt động BHXH càng thực hiện đợc tốt hơn, tính chất xã hội,
nhân văn của BHXH càng đợc thể hiện rõ. Bên cạnh đó công việc
này còn làm tăng trởng nguồn quỹ BHXH, làm cho quỹ BHXH thoát
ra khỏi sự nâng đỡ, trợ giúp của ngân sách Nhà nớc.
- Tiếp xúc với cơ quan đơn vị sử dụng lao động.
Để tạo điều kiện cho cán bộ chuyên quản lý BHXH tiếp xúc và làm
việc với các đơn vị sử dụng lao động đợc dễ dàng, thuận lợi. Giám đốc BHXH
các quận huyện nên có các cuộc tiếp xúc trớc với lãnh đạo đơn vị sử dụng lao
động, đặt mối quan hệ ngay từ ban đầu giữa ngời tham gia BHXH với các đon
vị BHXH.
Sau đó cán bộ chuyên quản lý BHXH đợc phân công phụ trách đơn vị
sử dụng lao động nào sẽ trực tiếp gặp gỡ cán bộ phụ trách công tác BHXH đơn
vị đó để thực hiện theo công văn số 480/LĐ- TBXH ngày 24/3/1999 của Bộ
lao động - Thơng binh và Xã hội về việc bố trí cán bộ làm công việc sau:
Tuyên truyền, giải thích các chế độ chính sách về BHXH,
quyền lời và nghĩa vụ của ngời lao động và ngời sử dụng lao