Đọc hiểu Tì bà hành - văn mẫu - Pdf 12

I - Gợi dẫn
1. Tác giả
Bạch Cư Dị (772 – 846) tên chữ là Lạc Thiên, người tỉnh Thiểm Tây, là nhà thơ nổi tiếng nhất đời Trung
Đường, cũng là nhà thơ sáng tác nhiều nhất đời Đường (hiện còn trên 3000 bài). Ông tự chia tác phẩm
của mình thành bốn loại, trong đó có giá trị nhất là thơ phúng dụ và thơ cảm thương. Thơ phúng dụ
thường nặng về phê phán các tệ nạn xã hội và các chính sách của triều đình, thơ cảm thương thường thiên
về bộc lộ cảm xúc trước những cảnh đời thương tâm ; tuy nhiên ranh giới này chỉ là tương đối vì trong
thực tiễn sáng tác của nhà thơ, hai yếu tố này thường xuyên thâm nhập vào nhau. Sinh ra vào thời buổi
loạn li, cuộc đời quan trường gặp rất nhiều trắc trở, những điều đó đã để lại dấu ấn trong sáng tác của
Bạch Cư Dị.
2. Tác phẩm
Tì bà hành là bài thơ thuộc loại thơ cảm thương với một đề tài rất quen thuộc trong thơ ca xưa, đó là cảm
thương những thân phận “tài hoa bạc mệnh”. Bài thơ như một bản đàn đầy tính nhân văn. Qua tiếng đàn
tài hoa và số phận lận đận của người ca nữ, nhà thơ đã bộc lộ tâm sự về cuộc đời, về nhân sinh. Thành
công xuất sắc của bài thơ là nghệ thuật miêu tả tiếng đàn. Bằng ngôn ngữ, nhà thơ đã tạo nên một khúc
nhạc đầy gợi cảm, đầy tâm trạng. Nhà thơ sáng tác bài thơ khi bị giáng chức làm quan Tư mã ở một vùng
đất hẻo lánh, đang rơi vào tâm trạng bi quan. Bài thơ là tiếng lòng cảm thương đậm chất nhân văn của nhà
thơ đối với tài năng bị cuộc đời vô tình lãng quên.
3. Cách đọc
Đọc kĩ các chú thích, nắm được nghĩa các từ khó trong bài.
Bản dịch thơ theo thể song thất lục bát, do vậy khi đọc, chú ý bắt vần chân của câu thất thứ nhất với vần
lưng trong câu thất thứ hai, vần chân của câu thất thứ hai với vần chân của câu lục, hai câu cuối trong một
khổ thơ bắt vần theo luật thơ lục bát. Lên giọng khi mở đầu và xuống giọng khi hết khổ thơ.
Giọng đọc tha thiết, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc và niềm tri âm của nhà thơ đối với cảnh ngộ của người
ca nữ trên bến Tầm Dương.
II - Kiến thức cơ bản
“Mặc dù bao nhiêu biến cố xảy ra đã huỷ hoại bao nhiêu di sản văn hoá của nhân dân, nhưng cho đến nay
chúng ta vẫn có được hơn 40.000 bài thơ của hơn 2.300 thi sĩ. Chừng ấy bài thơ còn lại với nội dung
phong phú và nghệ thuật trác việt cũng đủ để đánh dấu một thời kì hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Và
làm cho thơ Đường cùng với Kinh Thi, Sở từ được liệt vào hàng thơ ca ưu tú nhất của nhân loại” (Nam
Trân). Trong số 2.300 nhà thơ làm nên sự rực rỡ của thơ ca đời Đường phải kể đến một nhà thơ mà sức

thơ trong bài thơ này còn là một sự đồng cảm của người cùng cảnh ngộ. Trước thân phận nàng Tiểu
Thanh, đại thi hào Nguyễn Du từng thể hiện niềm cảm thương và sự đồng cảm của mình :
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư
(Những mối hận cổ kim khó mà hỏi trời được
Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã)
(Độc Tiểu Thanh kí)
Họ đều là những người tài hoa nhưng gặp nhiều trắc trở trong cuộc đời, bởi trong những chế độ xã hội
thiếu nhân quyền thì “Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Với nhà thơ Bạch Cư Dị, niềm cảm thương sâu
sắc với thân phận “tài hoa bạc mệnh” đã giúp ông hiểu tiếng đàn của người kĩ nữ trên bến Tầm Dương.
Bài thơ đã tái hiện một quá trình đồng cảm giữa hai người cùng chung số phận “tài hoa bạc mệnh”. Họ
đều là những “khách phong lưu” luôn mang trong mình những niềm trắc ẩn. Sự đồng cảm được thể hiện
qua tiếng đàn của người ca nữ và tấm lòng của người thưởng thức. Sự đồng cảm của tâm hồn không bao
giờ là kết quả của những cuộc tiếp xúc thoảng qua, mà đó là kết quả sự cộng hưởng tâm tư và cảm xúc
giữa những người cùng có tấm lòng, cùng đa sầu, cùng “tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan”. Hai nghệ
sĩ, hai hình tượng trữ tình trong bài thơ này đã có sự đồng cảm thông qua tiếng đàn. Cuộc gặp gỡ của họ
cũng nhờ tiếng đàn. Nghệ thuật miêu tả tiếng đàn đã đạt đến độ điêu luyện. Lần thứ nhất, tiếng đàn xuất
hiện thoáng qua trong hoàn cảnh một cuộc chia tay :
Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Đàn ai nghe vẳng ven sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
Âm thanh tiếng đàn không được trực tiếp miêu tả, nhưng vẫn có thể biết đó là một tiếng đàn hay và lạ.
Tiếng đàn lạ bởi nó xuất hiện giữa chốn hoang vu và hay bởi chỉ thoảng qua nhưng âm thanh ấy đã níu
chân người nghe.
Lần thứ hai, tiếng đàn được miêu tả rất tỉ mỉ, từ hành động dạo đàn đến từng cung bậc âm thanh. Đoạn
thơ này của Bạch Cư Dị đã đạt đến chuẩn mực “thi trung hữu nhạc” của thơ ca cổ điển. Nhà thơ đã đặc
biệt thành công trong việc tạo nên một bản đàn bằng nghệ thuật ngôn từ. Nghệ thuật âm thanh vốn rất tinh
vi đã được nhà thơ chuyển thể thành nghệ thuật ngôn từ mà vẫn giữ được khả năng gợi cảm và lay động
lòng người của âm nhạc. Bạch Cư Dị vốn nổi tiếng là nhà thơ có khả năng bình dân hoá ngôn ngữ thơ

Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt,
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ.
Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay.
Sau phút giây đột ngột lắng xuống ấy, tiếng đàn lại vút lên, dồn dập và sôi nổi hơn. Nhưng đây không
phải là sự sôi nổi của tâm trạng hưng phấn bởi niềm vui, mà đây là âm thanh được phát ra từ nỗi lòng
chứa chất nỗi đau :
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao.
Nhịp âm chuyển động nhanh, thanh âm thì chao chát và bất thường, như có không khí của chiến trận, của
sự xô xát. Ngay sau đó lại là khúc thanh tao, tưởng chừng sẽ trong và vút cao nhưng thật đột ngột khi đó
lại là âm thanh thật gắt :
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.
Tác giả thật tinh tế và sắc sảo khi lựa chọn những hình ảnh so sánh đầy sức gợi hình và khả năng thể hiện
âm thanh. Âm cao thì được so sánh với “tiếng mưa rào”, với tiếng “bình bạc vỡ”, tiếng ngựa, tiếng đao xô
xát, còn những âm thấp và trầm lại được so sánh với tiếng rì rầm tâm sự, tiếng suối chảy… Tác giả đã tạo
nên một phức âm thật phong phú và đa dạng. Những hình ảnh so sánh được lựa chọn không chỉ miêu tả
chính xác âm thanh mà còn thể hiện được những biến động tâm lí của người chơi đàn. Tiếng đàn vừa thể
hiện sự tài hoa vừa giãi bày tâm sự của người đàn. Sau những giây phút nghe tiếng đàn, cả chủ khách đã
có sự đồng cảm, tấm lòng đã cởi mở hơn. Tiếng đàn đã khiến họ trở thành những người tri âm, tri kỉ.
Người kĩ nữ giãi bày nỗi lòng, kể về số phận và cảnh ngộ của mình. Nàng là một người tài hoa nhưng
phận bạc. Tài năng đứng vào hàng bậc nhất thiên hạ :
- Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên.
- Gã thiện tài sợ phen dừng khúc,
ả thu nương ghen lúc điểm tô.
Thuở thanh xuân đã từng được sống cuộc sống vui vẻ nhưng rồi sự phũ phàng của thời gian và sự đen bạc
của cuộc đời đã đẩy con người tài năng ấy đến cô đơn nơi bến vắng đìu hiu. Khi nhan sắc không còn thì
tiếng đàn dù có tài hoa đến đâu cũng bị lãng quên :
Buồn em trảy lại lo dì thác,

Trong đó người xúc động nhất là Tư mã Giang Châu, người có cùng cảnh ngộ và có tấm lòng nhân ái,
biết trân trọng và tiếc thương những tài năng bị lãng quên một cách phũ phàng. Thời xưa, cầm, kì, thi, hoạ
là những tiêu chuẩn để đo tài năng của con người, vậy mà một kĩ nữ với tiếng đàn từng xếp hàng đệ nhất
thiên hạ lại bị vùi dập nơi lau lách đìu hiu. Cả người chồng của người kĩ nữ, vì kiếm tiền mà “Mải buôn
chè sớm tếch nguồn khơi”, bỏ mặc người vợ tài hoa sống trong cảnh cô đơn. Tài năng bị lãng quên không
chỉ là bi kịch của một con người mà còn là bi kịch của cả một thời đại, Bạch Cư Dị với tấm lòng nhân đạo
cao cả của mình đã nối tiếp rất thành công nguồn cảm hứng đầy tính nhân văn này.
Với nghệ thuật kết hợp tài hoa giữa tả cảnh và tả tình, giữa trữ tình và tự sự, giữa thơ và nhạc, Bạch Cư
Dị đã sáng tạo nên một kiệt tác nghệ thuật, đã làm sống dậy một bản đàn bạc mệnh thật ấn tượng. Sự
đồng cảm sâu sắc của nhà thơ đối với số phận người ca nữ đã thể hiện tấm lòng nhân ái bao la của người
nghệ sĩ, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp, đó là sự trân trọng tài năng.
III - Liên hệ
Đọc thêm bài Sông thu tiễn khách của Bạch Cư Dị :
Thu giang tống khách
Thu hồng thứ đệ quá,
Ai viên triêu tịch văn
Thị nhật cô chu khách,
Thử địa diệc ly quần,
Mông mông nhuận y vũ,
Mịch mịch mạo phàm vân.
Bất tuý Tầm Dương tửu,
Yên ba sầu sát nhân.
Dịch nghĩa:
Sông Thu Tiễn Khách
Mùa thu, chim hồng lần lượt bay qua,
Vượn hôm mai kêu thảm thiết,
Ngày ấy, khách trên thuyền trơ trọi,
Nơi đây cũng là nơi chia đàn.
Mưa ướt át thấm vào áo,
Mây man mác chắn cánh buồm.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status