I - Gợi dẫn
1. Thâm Tâm (1917 – 1950) tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình, sinh tại thị xã Hải Dương (nay là thành
phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) trong một gia đình nhà giáo nghèo. Khoảng năm 1938, Thâm Tâm cùng
gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng vẽ tranh và bắt đầu làm thơ, viết văn. Thâm Tâm viết không nhiều
nhưng sáng tác nào cũng độc đáo, mang dấu ấn riêng. Thơ Thâm Tâm thường có giọng điệu trầm hùng, bi
tráng. Tống biệt hành là một ví dụ cụ thể.
2. Tống biệt hành là bài thơ duy nhất của Thâm Tâm được hai nhà nghiên cứu Hoài Thanh và Hoài Chân
chọn đưa vào Thi nhân Việt Nam – tuyển tập những tác phẩm tiêu biểu của phong trào thơ mới. Chỉ với
một tác phẩm ấy thôi nhưng người ta không thể không nhắc đến Thâm Tâm khi nói về thơ mới. Bài thơ
không chỉ có một âm điệu lạ, hình ảnh thơ độc đáo và cách thể hiện tâm trạng tinh tế mà còn có giá trị tư
tưởng rất lớn. Giữa lúc lớp thanh niên trí thức đang rơi vào tâm trạng bế tắc, bi quan vì không xác định
được con đường đi của mình thì Thâm Tâm lại xây dựng một hình tượng đẹp về người thanh niên đã tìm
ra lí tưởng và quyết tâm vượt lên những tình cảm mềm yếu để ra đi thực hiện “chí nhớn”.
3. Bài thơ chia làm bốn khổ và có sự xuất hiện hai nhân vật trữ tình : ta – người đưa tiễn và người – người
ra đi. Tư thế và tâm trạng của người ra đi chủ yếu được thể hiện qua cảm nhận của người đưa tiễn. Hình
tượng nghệ thuật xuyên suốt bài thơ là hình tượng người tráng sĩ. Đó là một tráng sĩ vừa có chí lớn với
một quyết tâm ra đi thực hiện chí lớn rất cao, vừa có một tình cảm thương yêu sâu sắc với gia đình và bạn
bè. Đây là hình tượng mang vẻ đẹp lí tưởng của con người : có lí tưởng cao đẹp và tình cảm sâu sắc. Kết
cấu của bài thơ cũng khá đặc biệt theo cảm nhận của chủ thể trữ tình – người đưa tiễn :
- Đoạn 1 : Cảnh và tâm trạng cuộc chia tay.
- Đoạn 2 : Chí nhớn và quyết tâm thực hiện chí nhớn của người ra đi.
- Đoạn 3 : Tâm trạng và tình cảm của người ra đi đối với gia đình, người thân.
Tất cả đều là cảm nhận của người đưa tiễn – bạn tri kỉ của người tráng sĩ ra đi.
4. Đọc chậm diễn tả nội tâm nhân vật trữ tình. Nhấn giọng các điệp từ điệp ngữ. Khổ thơ cuối đọc giọng
thổn thức, chậm hơn và xuống giọng.
II - Kiến thức cơ bản
Viết Tống biệt hành, Thâm Tâm đã tiếp thu thể tài của thơ cổ và thổi vào đó hơi thở nồng nàn của thời
đại. Đề tài “Tống biệt” (chia li và tiễn đưa) và thể hành thường xuất hiện trong văn học xưa. Với những
sáng tạo độc đáo, Thâm Tâm đã tạo nên một giọng thơ rất riêng trong làng thơ mới – giọng thơ “Vừa
trang trọng vừa cổ kính, vừa mới mẻ hiện đại, vừa rắn rỏi gân guốc, vừa mang nỗi niềm bâng khuâng khó
hiểu của một thời đại” như nhà nghiên cứu Hoài Thanh đã nhận xét. Đồng thời qua bài thơ, Thâm Tâm đã
tiếng sóng thật và nghe trong tiếng sóng như thấy cả hơi lạnh của gió sông. Hai câu tiếp theo thể hiện tâm
trạng của cuộc tiễn đưa :
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
Thời gian cũng là thời gian tâm trạng nên vừa như xác định (bóng chiều) vừa như mơ hồ (không thắm
không vàng vọt). Xác định bởi cuộc chia tay diễn ra trong buổi chiều nhưng buổi chiều ấy lại mơ hồ vì
“bóng chiều không thắm không vàng vọt”. Thời gian thiếu sự xác định, thiếu một đường viền cụ thể để
tăng thêm phần bâng khuâng da diết. Nếu chỉ “vàng vọt” thì thật buồn và đó sẽ là cuộc li biệt mà cả hai
đều không muốn xảy ra. Nhưng nếu “thắm” thì lại vui quá. Không phải là không khí chia tay. Nhà thơ đã
diễn tả thật chính xác và tinh tế bản chất của cuộc li biệt này. Người ra đi là tự nguyện, ra đi vì lí tưởng
đúng đắn nên không thể buồn ảo não, phải vui và hi vọng vì đã có được lí tưởng để hướng tới. Nhưng đã
là chia li thì cuộc chia tay nào cũng buồn. Vừa vui, vừa buồn là tâm trạng chung của những cuộc chia tay
có lí do tốt đẹp. Bốn khổ thơ đầu đã thể hiện một cách kín đáo nhưng đầy đủ về tính chất và chân thực về
tâm trạng của cuộc đưa tiễn. Đó là cuộc chia tay giữa hai người bạn chân thành, tri âm tri kỉ.
Đặt cuộc chia tay trong khung cảnh buổi chiều, tác giả vừa tiếp nối truyền thống thơ cổ vừa có những
sáng tạo riêng. Thơ cổ khi viết về cuộc chia tay thường mượn buổi chiều để thể hiện tâm trạng. Lí Bạch
đưa tiễn bạn cũng mượn hình ảnh bóng chiều để bày tỏ nỗi niềm :
Chia tay khác cả mối lòng
Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.
Mượn tứ thơ xưa nhưng không phụ thuộc vào người xưa, Thâm Tâm vẫn có những sáng tạo riêng của
mình. Sáng tạo đó là hình ảnh ẩn dụ “hoàng hôn trong mắt trong”, là cách diễn đạt vừa cụ thể vừa lãng
mạn hoá nỗi buồn chứa đầy trong tâm trạng. Câu thơ có cách sử dụng từ tinh tế, chính xác. ở câu ba tác
giả dùng từ bóng chiều, đến câu thơ thứ tư “bóng chiều” đã thành “hoàng hôn” gợi lên cả sự chuyển biến
của thời gian. Và nếu “bóng chiều” nghiêng về sắc thái thời gian thì “hoàng hôn” lại nghiêng về sắc thái
tâm trạng. Chữ đầy trong câu thơ “Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?” là tính từ đã được động từ hoá
đem lại sự cảm nhận nỗi buồn đã dâng đầy từ trái tim lên ánh mắt để rồi thấm đẫm cả buổi chiều li biệt.
Hình ảnh “đầy hoàng hôn trong mắt trong” gợi dáng vẻ bề ngoài cố làm như thản nhiên nhưng trong tâm
trạng lại đầy uẩn khúc. Hai chữ trong (trong mắt trong) mang hai chức năng ngữ pháp khác nhau, một là
trạng từ (trong mắt), một là tính từ (mắt trong) nhưng đều có tác dụng tạo âm hưởng tha thiết. Bốn câu
thơ với hai câu hỏi tu từ (Sao có ? Sao đầy ?) và một loạt điệp âm (không đưa, không thắm, không vàng
Hình ảnh so sánh “Một chị hai chị cùng như sen – Khuyên nốt em trai dòng lệ sót” trong bài thơ đã gợi
rất nhiều liên tưởng khác nhau. Trước hết nó thể hiện nỗi lo của người ra đi về hai người chị, vừa để nhấn
mạnh sự níu giữ bằng mọi cách của người ruột thịt. Hai từ nốt trong bốn câu thơ như là hi vọng cuối cùng
của người chị đối với người em. Họ muốn người em không ra đi hoàn toàn vì tình yêu thương, bởi lẽ họ
chưa thể hiểu hết lí tưởng của người li khách. Li khách bị níu giữ từ mọi phía : mẹ già, hai chị yếu đuối
tội nghiệp và cả đứa em nhỏ ngây thơ, họ đã can anh đến hết lời, họ đã khóc đến cạn nước mắt. Mẹ già thì
mong nhớ, em nhỏ thì buồn thương. Hình ảnh :
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
như xoáy sâu vào trái tim người ra đi, hình ảnh em nhỏ ngây thơ là sự níu giữ mạnh nhất đối với người ra
đi. Tác giả cố ý tô đậm sự níu giữ của người thân để bộc lộ mâu thuẫn giữa vẻ ngoài và tâm trạng bên
trong của li khách. Tuy mâu thuẫn nhưng nhất quán, nhất quán ở chỗ tác giả vừa tô đậm chí nhớn vừa bộc
lộ tình cảm sâu sắc của li khách, li khách càng bị níu giữ thì vẻ đẹp ý chí càng hiện rõ, li khách càng day
dứt dằn vặt càng chứng tỏ bề sâu của tình cảm. Có thể nói, li khách là hình tượng của văn chương lãng
mạn. Về giọng điệu, nhân vật “ta”- cái tôi trữ tình nhà thơ, người ở lại nói với người ra đi, nó khác hẳn lời
người đi nói với người ở lại như Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu. Tống biệt hành có nhiều câu
thơ là lời trực tiếp của người tiễn đưa. Nhưng lại có nhiều câu thơ chỉ mang tính chất chuyển đổi giữa
người ở lại và người ra đi, khổ thơ cuối cùng cũng có sự chuyển đổi giọng điệu tài tình như vậy :
Người đi ? ừ nhỉ, người đi thực !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
Câu thơ “Người đi ? ừ nhỉ người đi thực” là giọng điệu người đưa tiễn. Cái hay là ở chỗ nó lột tả được
hai mặt của cảm xúc : người đưa tiễn vừa cảm phục, ngưỡng mộ chí nhớn và quyết tâm lên đường của li
khách nhưng mặt khác lại muốn níu kéo bạn ở lại. Chẳng ai muốn có những cuộc chia li. Trong sâu kín
nhất của tình cảm có lẽ người đưa tiễn thầm mong đến phút cuối cùng li khách sẽ thay đổi, sẽ nao núng ý
chí quyết tâm, nhưng sự thật là li khách đã lên đường. Cho dù nhân vật “ta” đã biết rất rõ việc ra đi của
bạn, đã theo dõi những trạng thái cảm xúc và ý chí quyết tâm của li khách “từ chiều hôm trước, sáng hôm
nay” mà li khách lên đường vẫn không tránh khỏi bàng hoàng, hụt hẫng (ừ nhỉ ? Người đi thực).
Hai từ thà coi được lặp lại liên tiếp ở ba câu thơ là hai từ rất nhạy cảm, nó dễ gây ra những phản ứng với
III - liên hệ
1. Trong Tống biệt hành, “cánh bè” cắm chặt trên sông là cuộc sống gia đình quẩn quanh, tù túng. Cuộc
sống này không phải không có chất thơ : cảnh sắc quê nhà cũng như chị gái, em thơ ở lại nhà được miêu
tả bằng những hình ảnh tuyệt vời. Trong bài Lưu biệt, cuộc sống tù túng không thiếu những điều quyến
rũ, níu giữ người ra đi : thơ và nhạc, “giọng đàn lưu luyến” và “tiếng cười”, “cố nhân”, “rượu xuân…
đượm say mùi cũ”… Nhưng người ra đi vẫn quyết giã từ… Đó là ý nghĩa của câu “Một giã gia đình, một
dửng dưng”. Sự “dửng dưng” không thuộc bản tính của người ra đi. Đây chỉ là nỗ lực tâm lí cuối cùng.
Phong cách bài thơ vừa gợi ra hơi hướng lãng mạn vừa tạo dáng cốt cách trượng phu ở nhân vật người ra
đi. Nhưng người ra đi là ai ? Một đấng trượng phu có hơi hướng lãng mạn hay một người lãng mạn có
dáng dấp trượng phu ? Tôi thiên về nhận định sau. Phải nhận rằng trong bài Tống biệt hành có những từ,
những điệu bộ và khẩu khí bị quy định bởi tính chất cổ xưa của điệu hành mà tác giả lựa chọn có ý thức
làm thể loại cho tác phẩm của mình. Thâm Tâm trước sau là con người của phong trào Thơ mới. Người ra
đi là một nhân vật lãng mạn, phần còn lại là văn chương, là cách điệu, là điệu bộ và “trò diễn ngôn từ”.
“Đầy hoàng hôn trong mắt trong” là nét lãng mạn tuyệt vời ở nhân vật này. Mà văn chương lãng mạn Việt
Nam, cả một thời Thơ mới và Tự lực văn đoàn cũng không tạo được một nét nào tuyệt vời hơn cho nhân
vật lãng mạn đương thời.
Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
Tiếng sóng trong lòng ai ? Có thể dễ dàng nhất trí tiếng sóng ở trong lòng người đưa tiễn. Nhưng “đầy
hoàng hôn” trong mắt ai ? Lời trong bài thơ từ đầu chí cuối là lời của người đưa tiễn, dù người ấy thầm
nói với mình hay thầm nói với bạn, thầm nghĩ về mình hay thầm tưởng về bạn… Vậy thì người tiễn chỉ
có thể nhìn thấy “hoàng hôn” trong mắt người đi. Bởi lẽ người tiễn (và bất kì ai cũng vậy) không thể nhìn
thấy mắt của chính mình (trừ phi buổi tiễn đưa, có mang theo một chiếc gương, chốc chốc lại đưa ra soi).
Khổ kết thúc bài thơ :
Người đi ? ừ nhỉ, người đi thực !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.