Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
176
ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐỐI KHÁNG VI KHUẨN Vibrio spp. VÀ NGHIÊN CỨU
NÂNG CAO TỶ LỆ SỐNG ẤU TRÙNG CÁ CHẼM (Lates calcarifer) BẰNG
CÁC CHỦNG VI KHUẨN PHÂN HỦY N-HEXANOYL HOMOSERINE
LACTONE
Phạm Minh Nhựt
(1)
, Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh
(2)
(1)
Khoa Môi trường và Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Tp.HCM, Việt
Nam;
(2)
Phòng Sinh học Thực nghiệm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy Sản II.
ABSTRACT
Twenty nine isolates from sea bass (Lates calcarifer) and black tiger shrimp
(Penaeus monodon) were tested to evaluate ability to degrade HHL, for Vibrio spp.
antogonism in vitro, safety and protection of sea bass larvae against Vibrio spp.
infection in in vivo condition within 48 hours, and survival rate improvability of sea
bass larvae in pilot hatchery scale. Among 29 tested isolates, fifteen were able to
degrade HHL at medium to high level, and/or to antagonise Vibrio spp. These fifteen
isolates were tested for the safety to sea bass larvae. Only nine isolates (six from sea
bass and three from black tiger shrimp) were safe toward sea bass larvae during of 48
hours. However, these nine isolates did not have ability to protect sea bass larvae in
Vibrio spp. experimental infection. In pilot scale hatchery condition, three isolates from
black tiger shrimp could not improve survival rate of sea bass larvae. In contrast, five
hiệu ―quorum sensing‖ (các phân tử do vi khuẩn tiết ra dùng trong quá trình giao tiếp và có liên
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
177
quan đến độc lực của vi khuẩn gây bệnh). Vì vậy, việc phân lập các chủng vi khuẩn có các đặc tính
nói trên và sử dụng trong quá trình nuôi trồng thủy sản, đặc biệt trong công tác sản xuất giống sẽ có
ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát các vi khuẩn gây bệnh và nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng
cá biển.
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
Các gốc vi khuẩn thí nghiệm
Các chủng vi khuẩn sử dụng trong thí nghiệm đƣợc phân lập từ đƣờng ruột của cá chẽm, tôm
sú thƣơng phẩm và tôm post larvae khỏe mạnh. Và chúng đƣợc phân lập dựa trên khả năng phân
hủy phân tử tín hiệu AHL
Đánh giá khả năng phân hủy HHL của các gốc vi khuẩn
Các gốc vi khuẩn đƣợc nuôi cấy trong các bình bình tam giác có chứa 10 ml môi trƣờng LB
có bổ sung HHL với nồng độ 5 ppm. Mật độ vi khuẩn khảo sát sử dụng lần lƣợt là 10
5
, 10
6
cfu/ml.
Mỗi gốc vi khuẩn đƣợc thực hiện lặp lại 3 lần tƣơng ứng với mỗi nồng độ. Các bình tam giác ủ lắc
với tốc độ 120 vòng/phút. Tốc độ phân hủy HHL của các gốc vi khuẩn đƣợc đánh giá ở các thời
điểm 0, 3, 6, 9 và 12 giờ sau khi nuôi cấy.
Tại mỗi thời điểm thu mẫu, hút 1 ml dịch vi khuẩn từ mỗi bình tam giác cho vào 1 eppendorf
vô trùng. Tiến hành ly tâm 5000 vòng/phút trong 10 phút để loại bỏ sinh khối vi khuẩn.
Sau đó, lấy 10 μl dịch lọc này cho vào giữa đĩa môi trƣờng LB agar đã tráng sẵn 50 l vi
khuẩn C. violaceum với mật độ 10
6
cfu/ml và tiến hành ủ trong 24 giờ. Tiến hành đo đƣờng kính
vi khuẩn sử dụng là 10
6
cfu/ml. Mỗi nghiệm thức đƣợc lặp lại 3 lần. Mật độ Vibrio spp. sử dụng lần
lƣợt là 10
5
cfu/ml.
Các gốc vi khuẩn khảo sát đƣợc nuôi trong môi trƣờng TSB bổ sung NaCl trên tủ ấm lắc trong
24 giờ. Sau đó, xác định mật độ và tiến hành pha loãng để có đƣợc mật độ 10
6
cfu/ml. Cấy chuyển
50 l vào bình tam giác chứa môi trƣờng TSB bổ sung NaCl và nuôi cấy trong tủ ấm lắc nhiệt độ
30
0
C trong 24 giờ.
Đối với các chủng Vibrio spp., tiến hành cấy chuyển sang môi trƣờng TSB bổ sung NaCl và
nuôi cấy trong tủ ấm lắc nhiệt độ 30
0
C trong 24 giờ.
Sau 24 giờ nuôi cấy, hút 1 ml dịch vi khuẩn cho vào eppendorf vô trùng đem ly tâm 5000 vòng/phút
trong 10 phút để loại bỏ sinh khối vi khuẩn và lấy dịch nổi.
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
178
Đối với các chủng Vibrio spp. sau khi xác định mật độ, tiến hành cấy trải 50 l trên môi
trƣờng TSA bổ sung NaCl. Chờ cho đĩa khô, dùng một ống trụ đƣờng kính 5 mm đục 3 lỗ trên mỗi
đĩa thạch.
Hút 100 l dịch nổi sau khi ly tâm cho vào các lỗ thạch sau khi đục. Sau đó, đem ủ ở nhiệt độ
30
0
C trong 24 giờ. Sau 24 giờ đo các vòng kháng khuẩn xung quanh lỗ thạch.
Tiến hành theo dõi tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm sau 24 giờ và 48 giờ sau khi bổ sung vi
khuẩn và tiến hành đánh giá tỷ lệ sống sót của ấu trùng cá chẽm tại các thời điểm.
Đánh giá hiệu quả nâng cao tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm của các gốc vi khuẩn khảo sát ở điều
kiện bể ƣơng.
Kết thúc các thí nghiệm in vitro và in vivo, chúng tôi đã chọn lọc đƣợc 9 gốc vi khuẩn Ch101,
Ch102, Ch104, Ch201, Ch501, Ch601, T207, T401 và T402 phân lập từ cá chẽm và tôm sú. Tuy
nhiên, do khối lƣợng công việc khá lớn và điều kiện thí nghiệm hạn chế nên thí nghiệm không đƣợc
tiến hành trong 1 đợt và phải đƣợc tiến hành trong 3 đợt thí nghiệm, mỗi đợt đƣợc tiến hành với 3
gốc vi khuẩn.
Ở mỗi đợt, vi khuẩn khảo sát đƣợc bổ sung trực tiếp vào trong nƣớc trƣớc khi cho trứng vào
ấp và hai ngày một lần trực tiếp vào nƣớc nuôi với mật độ vi khuẩn là 10
5
cfu/ml. Song song đó, vi
khuẩn khảo sát cũng đƣợc làm giàu qua thức ăn tự nhiên (rotifer và artemia) với mật độ vi khuẩn
10
5
cfu/ml trƣớc khi cho cá ăn.
Không bổ sung vi khuẩn ở nghiệm thức đối chứng. Sử dụng một gốc vi khuẩn cho mỗi
nghiệm thức và ở mỗi đợt nghiệm thức 5 là hỗn hợp của 3 gốc vi khuẩn khảo sát ở mỗi đợt. Mỗi
nghiệm thức đƣợc bố trí ngẫu nhiên và đƣợc lặp lại 3 lần.
Thí nghiệm đƣợc bố trí trong các bể composite 0,5 m
3
trên ấu trùng cá chẽm mới nở với mật
độ là 30 con/lít. Nƣớc biển phải đƣợc xử lý trƣớc khi sử dụng. Chế độ chăm sóc, quản lý và cho ăn
đƣợc áp dụng theo đúng quy trình ƣơng cá chẽm của Trung tâm Quốc gia Giống Hải sản Nam Bộ.
Đánh giá tỷ lệ sống ở các nghiệm thức vào ngày thứ 30. Theo dõi hoạt động cá hằng ngày và
biểu hiện bệnh (nếu có).
Theo dõi chỉ tiêu vi sinh: Vibrio tổng số trong nƣớc.
Theo dõi các chỉ tiêu môi trƣờng: nhiệt độ, pH, NH
3
6
cfu/ml
1
Ch101
+++
+
2
Ch102
+++
++
3
Ch103
+
+
4
Ch104
+
+
5
Ch201
+++
++
6
Ch301
+
+
7
Ch305
+
+
+
+
16
Pl303
+
+
17
Pl606
+++
+
18
T101
+
+
19
T102
+
+
20
T201
++
+
21
T204
++
++
22
T207
+
+
giờ)
(+): các gốc vi khuẩn phân hủy HHL yếu (nồng độ HHL lớn hơn 1 ppm tại thời điểm 12 giờ)
Dựa vào kết quả phân hủy HHL của các gốc vi khuẩn khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng tất cả
các gốc vi khuẩn khảo sát đều có khả năng phân hủy HHL theo thời gian, tuy nhiên, khả năng phân
hủy HHL của chúng rất khác nhau. Nhìn chung, mức độ phân hủy HHL ở mật độ vi khuẩn ban đầu
10
5
cfu/ml là cao hơn so với mật độ vi khuẩn ban đầu là 10
6
cfu/ml. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng
khả năng phân hủy HHL của các gốc vi khuẩn ở mật độ vi khuẩn 10
5
cfu/ml và 10
6
cfu/ml có sự
khác biệt có ý nghĩa về phƣơng diện thống kê học (P < 0,05). Điều này là do trong cùng một thể
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
180
tích thí nghiệm, mật độ vi khuẩn càng cao thì càng dễ xảy ra khả năng ức chế lẫn nhau, chính vì thế
khả năng phân hủy HHL của các gốc vi khuẩn ở mật độ 10
6
cfu/ml không thể mạnh bằng ở mật độ
10
5
cfu/ml.
Tinh và ctv. (2007
b
) đã nghiên cứu các gốc vi khuẩn EC đƣợc phân lập từ tôm thẻ chân trắng
Pl101
+
–
–
T207
++
–
–
T401
++
–
–
T402
++
+
+
Đối chứng
–
–
–
Trong đó (++): các gốc vi khuẩn đối kháng với Vibrio spp. mạnh (đƣờng vòng kháng khuẩn lớn hơn hoặc
bằng 15 mm).
(+): các gốc vi khuẩn đối kháng với Vibrio spp. yếu (đƣờng kính vòng kháng khuẩn nhỏ hơn 15
mm và lớn hơn 5 mm).
(-): các gốc vi khuẩn không đối kháng với Vibrio spp. (không tạo vòng kháng khuẩn)
Từ Bảng 2, chúng tôi nhận thấy rằng trong số các gốc vi khuẩn khảo sát thì chỉ có 7 gốc vi
khuẩn (Ch102, Ch104, Ch201, Pl101, T207, T401 và T402) có đặc tính đối kháng với Vibrio spp.
Cả 7 gốc này đều có đặc tính kháng lại V. alginolyticus qua việc hình thành vòng tròn kháng khuẩn
xung quanh lỗ thạch. Tuy nhiên, trong số các gốc vi khuẩn này, thì chỉ có gốc vi khuẩn T402 hình
nổi của hai gốc vi khuẩn Ch104 và Ch201 có khả năng ức chế sự phát triển của V. alginolyticus
nhƣng không có khả năng ức chế sự phát triển của V. parahaemolyticus và V. harveyi BB120. Tuy
nhiên, mức độ ức chế của dịch nổi sau khi ly tâm vi khuẩn không cao do vòng kháng khuẩn hình
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
181
thành không rõ ràng. Điều này chứng tỏ rằng hai gốc vi khuẩn Ch104 và Ch201 có thể tiết ra một số
hợp chất có khả năng ức chế sự phát triển của V. alginolyticus, ngay cả khi không có sự hiện diện
của vi khuẩn trong môi trƣờng.
Do đó, khả năng ức chế Vibrio spp. của các gốc vi khuẩn hiệu quả hơn khi sử dụng sinh khối
của chúng so với sử dụng dịch môi trƣờng nuôi cấy. Điều này có nghĩa là ở đa số các gốc vi khuẩn
khảo sát, chúng chỉ tiết ra các hợp chất có hoạt tính ức chế sự phát triển của Vibrio spp. khi có sự
hiện diện của sinh khối vi khuẩn trong môi trƣờng.
Từ kết quả khảo sát đặc tính phân hủy HHL của các gốc vi khuẩn và khả năng đối kháng
Vibrio spp. ở điều kiện in vitro chúng tôi nhận thấy rằng không có sự tƣơng quan giữa khả năng
phân hủy HHL và ức chế sự phát triển của Vibrio spp. AHL là phân tử tín hiệu quorum sensing đã
đƣợc tìm thấy ở V. harveyi và V. parahaemolyticus, và sự tiết ra phân tử tín hiệu này điều khiển quá
trình hình thành độc lực ở các gốc vi khuẩn này (Defoirdt và ctv, 2004). Việc bất hoạt phân tử tín
hiệu quorum sensing ở vi khuẩn gây bệnh có thể làm giảm đáng kể sự biểu hiện của các yếu tố độc
lực, và ngƣời ta đã chứng minh đƣợc rằng nhiều loại vi khuẩn có khả năng phân hủy AHL nếu các
phân tử này hiện diện trong môi trƣờng ở nồng độ từ M đến mM (Defoirdt và ctv, 2004). Những
gốc vi khuẩn thí nghiệm đều đƣợc phân lập từ dựa trên khả năng phân hủy AHL nên chúng đều có
thể phân hủy đƣợc HHL. Tuy nhiên, trong thời gian 12 giờ theo dõi thí nghiệm, chúng tôi nhận thấy
rằng các gốc vi khuẩn khảo sát đều có khả năng phân hủy HHL ở các mức độ khác nhau với nồng
độ HHL ban đầu là 5 ppm. Sự phân hủy HHL của các gốc vi khuẩn có thể là do chúng có thể tạo ra
lactonase và acyclase (Dong và ctv, 2000; Molina và ctv, 2008). Tốc độ phân hủy HHL của các gốc
vi khuẩn này nhanh hay chậm có thể do mức độ thích nghi với môi trƣờng của chúng, khả năng tiếp
xúc với HHL đồng thời có thể do khả năng tạo ra enzyme.
Vì các vi khuẩn gây bệnh sử dụng các phân tử tín hiệu AHL để điều khiển các yếu tố độc
lực, do đó sự phân hủy các phân tử tín hiệu này làm giảm khả năng gây bệnh của vi khuẩn trên vật
90 ± 10,95
cd
Ch201
93,33 ± 10,33
cd
Ch501
96,67 ± 8,16
d
Ch601
90 ± 10,95
cd
Pl101
20 ± 30,98
a
Pl606
20 ± 30,98
a
T207
90 ± 10,95
cd
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
182
khuẩn khảo sát so với đối chứng. Xét trên phƣơng diện thống kê học tại thời điểm 48 giờ, tỷ lệ sống
giữa các nghiệm thức có sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05). Điều này chứng tỏ sự bổ sung vi khuẩn
ảnh hƣởng đến tỷ lệ sống khác nhau của ấu trùng cá chẽm. Đối với các chủng Ch101, Ch102,
Ch104, Ch201, Ch501 và Ch601, tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê so với đối chứng nên các chủng này không gây hại đến ấu trùng cá chẽm. Trong khi đó,
đối với các chủng vi khuẩn phân lập từ tôm sú khi xét về phƣơng diện thống kê học tại thời điểm 48
giờ, tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm khi bổ sung các chủng Pl101, Pl606, T602, T302, T303 và
T501 có mức độ an toàn thấp một cách có ý nghĩa so với đối chứng. Điều này chứng tỏ rằng các
chủng vi khuẩn Pl606, T602, T302, T303 và T501 không an toàn cho ấu trùng cá chẽm, do đó
chủng này không đƣợc sử dụng cho thí nghiệm tiếp theo.
Nhƣ vậy, chín chủng vi khuẩn Ch101, Ch102, Ch104, Ch201, Ch501, Ch601 T207, T401 và
T402 này sẽ tiếp tục đƣợc sử dụng cho thí nghiệm khảo sát hiệu quả nâng cao tỷ lệ sống của ấu
trùng cá chẽm trong điều kiện in vivo.
Đánh giá tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm khi gây nhiễm với Vibrio spp. khi có sự hiện diện của
các chủng vi khuẩn khảo sát
Thí nghiệm này đƣợc thực hiện nhằm đánh giá khả năng nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá
chẽm gây nhiễm với Vibrio spp. khi có sự hiện diện của các gốc vi khuẩn đã chọn lọc đƣợc ở thí
nghiệm 4.1, 4.2 và 4.3.
Bảng 4: Tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm khi gây nhiễm với Vibrio spp. khi có sƣ hiện diện của các gốc vi
khuẩn khảo sát
Chủng vi khuẩn
Tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm khi gây nhiễm (%)
V. parahaemolyticus
V. alginolyticus
Ch101
0
0
Ch102
0
0
spp. các gốc vi khuẩn khảo sát còn tƣơng tác với vật chủ. Chính điều này có thể làm cho khả năng
phân hủy phân tử tín hiệu AHL và/hay hoạt tính ức chế đối với sự phát triển của Vibrio spp. bị giảm
xuống, từ đó làm cho khả năng bảo vệ ấu trùng cá chẽm của các gốc vi khuẩn không đạt hiệu quả,
đặc biệt đối với gốc T402. Đây là một gốc vi khuẩn khá đặc biệt vì ngoài khả năng phân hủy HHL
(mặc dù tƣơng đối yếu), nó còn thể hiện khả năng ức chế cả ba chủng Vibrio thí nghiệm trong đó
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
183
mức độ ức chế V. alginolyticus là mạnh nhất. Trong thí nghiệm in vivo, gốc này cũng thể hiện khả
năng bảo vệ ấu trùng cá chẽm khi gây nhiễm với V. alginolyticus và V. parahaemolyticus khá tốt ở
thời điểm 24 giờ.
Tuy tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm có sự hiện diện của các gốc vi khuẩn khảo sát khi gây
nhiễm với Vibrio spp. khá thấp nhƣng điều này không có nghĩa là các gốc vi khuẩn này hoàn toàn
không có tác dụng nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm. Một số gốc vi khuẩn khảo sát đã giúp
nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm mặc dù chƣa đạt đến mức độ bảo hộ cho ấu trùng cá chẽm
so với đối chứng nhƣ gốc vi khuẩn Ch104, Ch201, Ch601, T207, T402.
Hiệu quả nâng cao tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm của các gốc vi khuẩn trong điều kiện ƣơng
Từ kết quả các thí nghiệm in vitro và thử nghiệm tính đối kháng của các gốc vi khuẩn khảo
sát đối với Vibrio spp. trên ấu trùng cá chẽm, chúng tôi đã chọn lọc đƣợc một số gốc vi khuẩn với
những đặc tính có lợi để tiến hành thí nghiệm đánh giá ảnh hƣởng của các gốc vi khuẩn này đến tỷ
lệ sống của ấu trùng cá chẽm. Các gốc vi khuẩn đƣợc sử dụng trong thí nghiệm này là: T207, T401,
T402, Ch102, Ch104, Ch201, Ch101, Ch501, Ch601 đƣợc chia thành 3 đợt thí nghiệm.
Bảng 5: Tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm ở đợt thí nghiệm 1
Nghiệm thức
Tỷ lệ sống (%)
Đối chứng
84,33 ± 5,24
b
T207
Ch102
11,48 ± 3,24
bc
Ch104
10,23 ± 3,64
bc
Ch201
1,34 ± 0,64
a
Hỗn hợp
14,34 ± 0,67
cDựa vào bảng 6, chúng tôi nhận thấy rằng tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm ở ngày thứ 30 là khá
thấp. Tỷ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức hỗn hợp cũng chỉ đạt 14,34 %. Nguyên nhân là do chất
lƣợng trứng sử dụng trong đợt này không tốt nên ảnh hƣởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm.
Khi xét về phƣơng diện thống kê học với trắc nghiệm Duncan, tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm
giữa các nghiệm thức có sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05). Tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm ở
nghiệm thức bổ sung Ch201 là thấp nhất (1,34 %) và tỷ lệ sống ở nghiệm thức bổ sung hỗn hợp vi
khuẩn là cao nhất (14,34%) và cao hơn nghiệm thức đối chứng một cách có ý nghĩa về phƣơng diện
thống kê học (p < 0,05), trong khi tỷ lệ sống ở các nghiệm thức Ch102 và Ch104 không có sự khác
biệt có ý nghĩa so với đối chứng khi đánh giá bằng trắc nghiệm Duncan (p > 0,05). Điều này chứng
tỏ rằng việc bổ sung vi khuẩn đã có hiệu quả trong việc nâng cao tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm. Việc
sử dụng hỗn hợp của ba chủng vi khuẩn cho tỷ lệ sống cao hơn so với việc sử dụng từng chủng
riêng lẻ và cao hơn đối chứng, chứng tỏ hỗn hợp vi khuẩn có tác dụng bổ trợ nhau trong việc nâng
Tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm ở đợt 3 đƣợc thể hiện ở bảng 7. Chúng tôi nhận thấy rằng,
tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm ở đợt này khá cao và cao hơn rất nhiều so với đợt trƣớc ngay cả ở
nghiệm thức đối chứng. Điều này có thể do nguồn trứng cá thụ tinh sử dụng cho đợt này tốt hơn khá
nhiều so với đợt trƣớc. Và tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm ở các nghiệm thức cũng có sự khác nhau
khá rõ rệt. Khi đánh giá sự khác biệt của từng nghiệm thức với nhau bằng trắc nghiệm Duncan,
chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm giữa nghiệm thức
Ch501 và hỗn hợp so với nghiệm thức đối chứng, trong khi đó tỷ lệ sống ở 2 nghiệm thức bổ sung
Ch101 hoặc Ch601 lại không có sự khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng. Qua đợt này, một lần nữa
cho phép kết luận việc bổ sung vi khuẩn có hiệu quả trong việc nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá
chẽm so với không bổ sung vi khuẩn và việc sử dụng hỗn hợp các vi khuẩn cho hiệu quả cao hơn
hẳn so với sử dụng từng chủng riêng rẽ.
Tóm lại, các chủng vi khuẩn khảo sát có tác dụng nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm và
các chủng vi khuẩn này khác nhau theo nguồn gốc phân lập, có nghĩa là chỉ có các chủng vi khuẩn
phân lập từ cá chẽm mới thể hiện hiệu quả trong việc nâng cao tỷ lệ sống và phát triển của ấu trùng
cá chẽm. Trong ba đợt, đợt 1 với ba chủng phân lập từ tôm sú thƣơng phẩm có tỷ lệ sống của ấu
trùng rất thấp so với đối chứng, điều này chứng tỏ các chủng này không phù hợp với hệ vi sinh
đƣờng ruột của ấu trùng cá chẽm nên không có khả năng nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng mà ngƣợc
lại còn có khả năng gây chết ấu trùng. Mặc dù những chủng này đã đƣợc kiểm tra khả năng an toàn
đối với ấu trùng cá chẽm nhƣng đợt này chỉ tiến hành theo dõi trong 48 h, đây là thời gian khá ngắn
nên không thể đánh giá hết mức độ an toàn. Trong khi đó, các chủng vi khuẩn phân lập từ ấu trùng
cá chẽm hoàn toàn không gây hại đến ấu trùng cá chẽm trong suốt thí nghiệm. Do đó, những chủng
vi khuẩn phân lập từ đối tƣợng nào nên sử dụng cho đối tƣợng đó sẽ cho kết quả tốt nhất. Từ kết
quả thí nghiệm đã chứng minh rằng các chủng vi khuẩn đã phân lập có tính đặc hiệu theo loài.
Do chất lƣợng trứng đã thụ tinh ở hai đợt 2 và 3 không đồng đều nhau nên chúng tôi không thể
đánh giá các chủng vi khuẩn ở đợt 3 hiệu quả hơn trong việc nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá
chẽm so với các chủng sử dụng ở đợt 2. Nhìn chung, sự bổ sung vi khuẩn có hiệu quả trong việc
nâng cao tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm ở cả hai đợt, ngoại trừ chủng Ch201 ở đợt 2. Ngoài khả năng
nâng cao tỷ lệ sống, chúng còn có khả năng kìm hãm sự phát triển của Vibrio trong nƣớc, là một tác
nhân có thể gây chết ấu trùng cá chẽm. Hiệu quả nâng cao tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm của các
chủng vi khuẩn có đặc tính probiotic đều có khả năng nâng cao tỷ lệ sống của động vật thí nghiệm.
Đây là một tín hiệu rất đáng khả quan, vì trong tình hình các tác nhân gây bệnh trên động vật thủy
sản ngày càng nhiều, và việc lạm dụng kháng sinh đã dẫn đến tình trạng kháng thuốc của các vi
khuẩn gây bệnh thì probiotic là một giải pháp khả thi để nâng cao chất lƣợng con giống cũng nhƣ
chất lƣợng tôm hay cá nuôi thƣơng phẩm.
KẾT LUẬN
Tất cả các chủng vi khuẩn khảo sát đều có khả năng phân hủy phân tử AHL (phân tử tín hiệu
quorum sensing của vi khuẩn gram âm) trong thời gian 12 h nhƣng mức độ phân hủy của chúng
không giống nhau và phụ thuộc vào thời gian khảo sát.
Khả năng phân hủy AHL có mối tƣơng quan với khả năng ức chế độc lực ở vi khuẩn gây bệnh,
tuy nhiên không nhất thiết phải có mối tƣơng quan với khả năng ức chế sự tăng trƣởng của Vibrio
spp. trong điều kiện in vitro. Một số chủng phân hủy AHL yếu nhƣng lại có khả năng đối kháng
mạnh với Vibrio spp. (nhƣ chủng T402), và ngƣợc lại một số chủng phân hủy AHL mạnh lại không
ức chế sự phát triển Vibrio spp. (nhƣ chủng Ch101).
Khả năng bảo vệ ấu trùng cá chẽm của các chủng vi khuẩn có khả năng phân hủy AHL hoặc/và
ức chế Vibrio spp. trong điều kiện in vitro phụ thuộc vào sự hiện diện của ấu trùng cá chẽm. Không
có chủng vi khuẩn nào có khả năng bảo vệ ấu trùng cá chẽm khi gây nhiễm với V.
parahaemolyticus và V. alginolyticus (RPS < 60 %).
Đa số các chủng vi khuẩn đều an toàn đối với ấu trùng cá chẽm trừ một số chủng vi khuẩn
T302, T303, T501, T602, Pl101 và Pl606 sau 48 h khảo sát khi tiến hành đánh giá mức độ vô hại
của các chủng vi khuẩn.
Các chủng vi khuẩn đã phân lập có tính đặc hiệu loài theo nguồn gốc phân lập khi tiến hành
đánh giá khả năng nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm, chỉ có các chủng vi khuẩn phân lập từ
cá chẽm có khả năng nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm ở ngày thứ 30, còn các chủng vi
khuẩn phân lập từ tôm sú thƣơng phẩm lại gây hại đến ấu trùng cá chẽm.
Các chủng vi khuẩn phân lập cá chẽm đều có khả năng nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá
chẽm ngoại trừ chủng Ch201. Việc sử dụng hỗn hợp các chủng vi khuẩn nâng cao tỷ lệ sống của ấu
trùng cá chẽm hiệu quả hơn so với việc sử dụng các chủng vi khuẩn riêng lẻ, và có sự sai biệt có ý
nghĩa so với nghiệm thức đối chứng.
rd
edition, Wiley,
Weinheim, Germany, 420 pages.
Grisez L. and Tan Z., 2005. Vaccine development for Asian aquaculture. In Disease in Asian
Aquaculture V (Eds. P. Walker, R. Lester and M. G. Bondad-Reantaso). Fish Health Section,
Asian Fisheries Society, Manilla, pp. 483 – 494.
Gullian M., Thompson F. and Rodriguez J., 2004. Selection of probiotic bacteria and study of their
immunostimulation effect in Penaeus vannamei. Aquaculture 233: 1 – 14.
Johnson S. C., Treasurer J. W., Bravo S., Nagasawa K. and Kabata Z., 2004. A review of the impact
of the parasitic copepods on marine aquaculture. Zoological studies 43 (2): 229 – 243.
Lio-Po G. D., Leano E. M., Penaranda M. D., Villa-Franco A. U., Sombito C. D. and Guanzon N.
G., 2005. Anti-luminous Vibrio factors associated with the ―green water‖ grow-out culture of the
tiger shrimp Penaeus monodon. Aquaculture 250: 1 – 7.
Ljungh A. and Wadstrom T., 2000. Lactic Acid Bacteria as Probiotics. Current Issues Intestinal
Microbiol 7: 73 – 90.
Lupp C. and Ruby E. G., 2005. Vibro fischeri uses two quorum sensing system for the regulation of
early and late colonization factors. Journal of Bacteriology 187 (11): 3620 – 3629.
Moriaty D. J. W., 1999. Disease Control in Shrim Aquaculture with priobiotics bacteria. Microbial
Interactions in Aquaculture.
Muller – Feuga A., 2000. The role of microalgae in aquaculture: situation and trends. Journal of
Applied Phycology 12: 527 – 534.
Parsek M. R., Val D. L., Hanzelka B. L., Cronan J. E. and Greenberg E. P., 1999. Acyl-homoserine
lactone quorum sensing signal generation. Proc. Natl. Acad. Sci. USA 96: 4360 – 4365.
Ringo E., 1999. Enhanced resistance of rainbow trout, Oncorhynchus mykiss (Walbaum), against
Yersinia ruckeri challenge following oral administration of Bacillus subtilis and B. licheniformis
(BioPlus2B). Aquaculture Research 30: 229 – 232.
Swiderska A., Berndtson A. K., Cha M. R., Li L., Beaudoin G. M. J., Zhu J. and Fuqua C., 2001.
Inhibition of Agrobacterium tumefaciens TraR quorum sensing regulator. The Journal of
Biological Chemistry 276 (52): 49449 – 49458.
Tinh N. T. N., Dierckens K., Sogerloos P. and Bossier P., 2007. A review of the fuctionality of