1
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ thuộc đồng bằng Bắc bộ, được tách ra từ
tỉnh Hà Bắc cũ với diện tích tự nhiên: 803,9 km
2
, dân số: 998.300 người.
Sau những năm tái lập tỉnh, Bắc Ninh cùng với cả nước bước vào quá
trình đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ năm 2000 đến nay, kinh tế
tăng trưởng với nhịp độ cao, tương đối toàn diện, cơ cấu chuyển dịch nhanh theo
hướng tích cực trong từng khu vực, từng địa phương và các thành phần kinh
tế. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng bình quân hàng năm 13,9%, tỷ trọng
GDP của khu vực công nghiệp xây dựng tăng nhanh từ 25,6% năm 2000 lên
47,2% năm 2005, khu vực nông - lâm - thủy sản giảm từ 38% xuống còn 25%
năm 2005. Tuy nhiên, Bắc Ninh vẫn còn mang nặng dấu ấn của một tỉnh nông
nghiệp, lao động nông nghiệp ở nông thôn Bắc Ninh hiện nay vẫn đang chiếm
82,71% lao động xã hội và một trong những thách thức lớn nhất trong khu
vực này là tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của người lao động đang có xu
hướng gia tăng. Điều đó, trong chừng mực nhất định đang cản trở bước tiến
của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của tỉnh.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ 17 (nhiệm kỳ 2006 - 2010)
đã chỉ rõ: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông
thôn, tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu và nâng cao hiệu quả sản xuất
nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đổi mới quan hệ sản xuất, phát huy mạnh
mẽ các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới"
[53].
Để thực hiện chủ trương trên, một trong những vấn đề quan trọng là
phẩm nghiên cứu mà tác giả được biết đó là:
- Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến
sĩ của Trần Kim Hải.
- Vai trò Nhà nước trong tạo tiền đề nguồn nhân lực cho công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Quý Tình.
- Đề án chiến lược về lao động và phát triển nguồn nhân lực nông
nghiệp và nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1999 - 2020) của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1999.
- Chương trình khoa học cấp nhà nước KX 04-04(1995): "Luận cứ
khoa học cho giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần".
- PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc "Vấn đề giải quyết việc làm và dạy nghề
cho nông dân", Tạp chí Con số và Sự kiện, 8/1999.
- Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ
Chí Minh, Luận văn thạc sĩ kinh tế của Trần Kim Long, 2005.
- TS Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (chủ biên): "Về chính
sách giải quyết việc làm ở Việt Nam" Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
Các công trình trên được các tác giả nghiên cứu ở tầm vĩ mô trong
phạm vi cả nước hoặc từng vùng tiêu biểu. Tuy nhiên, một đề tài riêng về
nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở
tỉnh Bắc Ninh thì còn ít tác giả nghiên cứu một cách tổng thể dưới góc độ
kinh tế chính trị. Vì vậy, đề tài luận văn này là cần thiết và có ý nghĩa lý luận
- thực tiễn đối với tỉnh Bắc Ninh.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu:
5
Phân tích và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh và đề xuất
các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực,
thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
và chính sách, pháp luật của Nhà nước; kế thừa có chọn lọc các công trình
nghiên cứu khoa học có nội dung gần gũi với đề tài.
- Về phương pháp nghiên cứu: vận dụng phương pháp chung của kinh
tế chính trị như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc với lịch
sử, kết hợp lý luận với thực tiễn; đồng thời khảo sát thực tế, phân tích, tổng
hợp, so sánh, khái quát hóa vấn đề, rút ra kết luận.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh đạo, hoạch định
chính sách, chỉ đạo thực tiễn, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh, đồng thời có thể dùng
làm tài liệu tham khảo, phục vụ công tác giảng dạy ở Trường Chính trị tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.
7
Chương 1 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP
NÔNG THÔN VÀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN NƯỚC
TA
1.1. BẢN CHẤT VÀ NỘI DUNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
1.1.1. Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và
nông thôn
Sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước đã được Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo từ Đại hội lần thứ III (năm 1960). Đến Đại hội lần thứ VII và VIII,
Đảng ta nhấn mạnh thêm nội dung hiện đại hóa và coi công nghiệp hóa, hiện
đại hóa là con đường tất yếu của sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta từ một nước
nông nghiệp là chủ yếu thành một nước công nghiệp. Đó cũng là con đường
cơ bản để thực hiện mục tiêu: "Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ và văn minh". Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt
Cũng theo các tác giả trên thì phạm vi, tính chất của công nghiệp hóa
nông thôn sâu rộng hơn nhiều, thể hiện qua ba điểm:
Thứ nhất, nó là quá trình biến đổi không phải trong từng ngành sản
xuất hay từng lĩnh vực xã hội đơn lẻ, mà là một quá trình biến đổi toàn diện
trong một khu vực xã hội rộng lớn là nông thôn, bao quát mọi hoạt động kinh
tế, xã hội, văn hóa, chính trị tại đó.
Thứ hai, nó phải phát triển một nền nông nghiệp dồi dào làm nền tảng,
một nền sản xuất công nghiệp ngày càng tiên tiến, một hệ thống dịch vụ đầy
đủ và hữu hiệu.
9
Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cùng
với các ngành kinh tế phát triển, một hệ thống hạ tầng cơ sở kinh tế và xã hội
dần dần được hoàn chỉnh theo hướng hiện đại hóa, các lĩnh vực hoạt động văn
hóa, giáo dục, y tế được nâng cấp, các quan hệ xã hội được hoàn thiện, tạo ra
một lối sống công nghiệp năng động, cởi mở, văn minh [47, tr. 26-27].
Nhóm các nhà nghiên cứu khác, về cơ bản tán đồng với quan điểm
trên và nhấn mạnh trong ba mặt biểu hiện (đặc trưng điển hình) của công
nghiệp hóa nông thôn nêu dưới đây đã bao hàm cả yếu tố hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn:
Công nghiệp hóa nông thôn phản ánh sự biến đổi toàn diện
trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của một vùng
xã hội nông thôn. Nó khác với công nghiệp hóa nông nghiệp ở chỗ
công nghiệp hóa nông nghiệp phản ánh sự biến đổi chỉ đối với một
ngành cụ thể - ngành nông nghiệp (bao gồm cả nông - lâm - thủy
sản). Tất nhiên nói như vậy cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi lẻ
khi nông nghiệp được công nghiệp hóa chắc chắn sẽ động tới các
mặt khác của xã hội nông thôn.
Công nghiệp hóa nông thôn phản ánh sự thay đổi một cách
căn bản kết cấu kinh tế - xã hội nông thôn. Kết cấu kinh tế của một
vùng nông thôn được công nghiệp hóa phản ánh một cơ cấu ngành
nhập của dân cư cũng có kết quả tương tự.
Hiện đại hóa nông nghiệp bao gồm tất cả những hoạt động có liên quan
đến việc ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản
xuất kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng
suất, chất lượng và hiệu quả của chúng, đồng thời thỏa mãn tốt hơn các nhu
cầu của xã hội, của thị trường về các sản phẩm nông nghiệp. Đặc trưng nổi
bật của hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình không ngừng nâng cao trình độ
11
khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông
nghiệp. Đây cũng là quá trình cần được thực hiện một cách liên tục vì luôn có
những tiến bộ kỹ thuật mới xuất hiện và được ứng dụng trong sản xuất.
Hiện đại hóa nông thôn là quá trình liên tục nâng cao trình độ khoa
học - kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất và đời sống ở nông thôn, tạo ra một
nền sản xuất trình độ ngày càng cao, cuộc sống ngày càng văn minh và tiến
bộ. Hiện đại hóa nông thôn không chỉ bao gồm công nghiệp hóa, nâng cao
trình độ kỹ thuật công nghệ và tổ chức trong các lĩnh vực khác trong sản xuất
vật chất ở nông thôn mà còn bao gồm cả việc không ngừng nâng cao đời sống
văn hóa - tinh thần, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội: Hệ thống giáo
dục đào tạo, y tế và các dịch vụ phục vụ đời sống nông thôn. Về bản chất,
hiện đại hóa là quá trình phát triển toàn diện có kế thừa ở nông thôn. Hiện đại
hóa hoàn toàn không có nghĩa là xóa bỏ toàn bộ những gì đã tạo dựng trong
quá khứ, càng không có nghĩa là phải đưa toàn bộ công nghệ, thiết bị tiên tiến
và hiện đại vào nông thôn ngay một lúc mà là tận dụng, cải tiến, hoàn thiện,
từng bước nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ và tổ chức quản
lý nền sản xuất và đời sống xã hội ở nông thôn lên ngang tầm với trình độ thế
giới.
Từ những phân tích trên, ta thấy vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn liên quan đến 4 khía cạnh có nội dung khác nhau, có
liên quan chặt chẽ với nhau, đó là: công nghiệp hóa nông nghiệp, công nghiệp
hóa nông thôn, hiện đại hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn. Bốn
nghiệp, nông thôn, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
đã ban hành nghị quyết về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010. Nghị quyết đã nêu lên những nội dung
tổng quát, quan điểm, mục tiêu phát triển, những chủ trương và giải pháp lớn
13
để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Về quan
điểm cần quán triệt để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 là:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là
một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn
bó chặt chẽ, hỗ trợ đặc lực và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
- Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy
nguồn lực con người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công
nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế
của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hóa quy mô lớn với
chất lượng và hiệu quả cao, bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế
và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững.
- Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các
nguồn lực bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế
tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc; phát triển mạnh mẽ
kinh tế hộ sản xuất hàng hóa, các loại hình doanh nghiệp, nhất là
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn.
- Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm
giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội và phát
triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của người dân
nông thôn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa;
Đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là
nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn
định chính trị, kinh tế, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sau 5 năm thực hiện, nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn đã được cụ thể hóa từng bước. Văn kiện Đại hội lần thứ IX
của Đảng nêu rõ:
Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ,
nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới hóa,
điện khí hóa; quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây
trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích; giải quyết
tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hóa. Đầu tư nhiều hơn cho phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công
nghiệp, dịch vụ các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế
biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ
phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và
dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn [39, tr. 92-
93].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX đã xác định nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.
- Về nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, Nghị
quyết chỉ rõ:
16
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ
trọt và chăn nuôi tập trung, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ
gắn với hình thành các ngành nghề, làng nghề, hợp tác xã, trang
trại, tạo ra những sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao.
Thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển rừng; đổi
mới chính sách giao đất, giao rừng, bảo đảm cho người làm nghề
rừng có cuộc sống ổn định và được cải thiện. Phát triển rừng
nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến lâm sản có công nghệ
hiện đại.
Phát triển đồng bộ và có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến
và bỏa vệ nguồn lợi thủy sản. Coi trọng khâu sản xuất và cung cấp giống
tốt, bảo vệ môi trường, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.
Tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến công,
khuyến lâm, khuyến ngư, công tác thú y bảo vệ thực vật và các dịch
vụ kỹ thuật khác ở nông thôn. Chuyển giao nhanh và ứng dụng
khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất nông
nghiệp; chú trọng các khâu giống, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng,
công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến.
Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn.
Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các
làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành
mạnh. Hình thành các khu dân cư, đô thị hóa với kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội đồng bộ như: Thủy lợi, giao thông, điện, nước sạch,
cụm công nghiệp, trường học, trạm y tế, bưu điện, chợ. Phát huy
18
dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng
cao trình độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan;
đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước
hết ở các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công
nghiệp, dịch vụ, giao thông, các khu đô thị mới. Chuyển dịch cơ cấu
* Nâng cao chất lượng nhân lực, kể cả nhân lực quản lý và đặc biệt là
người lao động sản xuất nông nghiệp có trình độ cao.
* Từng bước hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông nghiệp
và nông thôn, nâng cao trình độ văn minh của xã hội nông thôn, chuyển mạnh
lối sống ở nông thôn sang lối sống công nghiệp.
Đây là những điểm căn bản nhất phản ánh nội dung của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trong đó có điểm phản ánh quá
trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có điểm phản ánh quá trình
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (hiện đại hóa không chỉ về phương diện
kỹ thuật và công nghệ, mà cả về phương diện quản lý kinh doanh) và có
những điểm phản ánh các điều kiện kinh tế - xã hội để thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
1.2. TÁC ĐỘNG VÀ YÊU CẦU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1.2.1. Khái niệm về nguồn nhân lực
Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực. Do cách
tiếp cận khác nhau, nên có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực:
Thứ nhất, theo thuyết lao động xã hội thì nghĩa rộng của nguồn nhân
lực, có thể hiểu là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội. Theo
20
nghĩa hẹp, là khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong
độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội. Theo quan điểm của Tổ
chức Lao động thế giới (IL0): Lực lượng lao động là một bộ phận dân số
trong độ tuổi quy định, thực tế có việc làm và những và những người thất
nghiệp. Hiện nay ở Việt Nam tuổi lao động được quy định là từ 15 - 60 (đối
với nam) và từ 15 - 55 (đối với nữ). Trên thực tế khi tính toán, thống kê lực
lượng lao động, người ta thường quy định: Lực lượng lao động là những
người trong độ tuổi lao động có việc làm và những người ngoài tuổi lao động
vẫn tham gia làm việc (thường tính cho những người trên tuổi lao động). Như
vậy, ở đây lực lượng lao động cũng đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế.
như nguồn lực con người (Human Resonsrces), được huy động, quản lý cùng
với các nguồn lực khác (tài chính, tài nguyên ) để thực hiện những mục tiêu
phát triển đã định.
Thứ tư, theo định nghĩa của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là: "Trình
độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện
có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng".
Thứ năm, theo một số nhà khoa học Việt Nam, nguồn nhân lực được
hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí
tuệ và sức khỏe, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc
Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, nguồn nhân lực là tổng
thể những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong tổng số lực lượng lao
động của xã hội, đang và sẽ được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất ra
của cải vật chất để phục vụ cho nhu cầu xã hội.
• Nguồn nhân lực trước hết phản ánh qua số lượng lao động trong độ
tuổi lao động và chất lượng của nó. Chất lượng nguồn nhân lực là trình độ,
khả năng của năng lực thể chất và tinh thần cấu thành nguồn nhân lực của xã
hội. Có nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Đó là: (1) Trí lực
của nguồn nhân lực; (2) Chỉ số phát triển con người (HDI); (3) Thể lực nguồn
nhân lực; (4) Phẩm chất, đạo đức, nhân cách, truyền thống văn hóa nguồn
nhân lực.
• Những nhân tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực:
Một là, trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Đây là cơ sở nền tảng để
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của
một quốc gia đóng vai trò quyết định đến trình độ phát triển nguồn nhân lực
của nước đó, vì tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ đưa đến kết quả là nâng
cao mức sống, cải thiện tình hình sức khỏe của dân cư, sẽ tăng vốn đầu tư cho
phát triển giáo dục - đào tạo, do đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân
22
lực. Hơn nữa, trình độ phát triển kinh tế sẽ quyết định mức độ hiện đại hóa
nền kinh tế, mức độ áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại
khả năng về sức sản xuất của thể lực, trí lực của người lao động. Khả năng
này được phản ánh qua trình độ văn hóa, trình độ khoa học kỹ thuật, năng
suất lao động, kinh nghiệm sản xuất cũng như hành vi và giá trị của người lao
động. Chất lượng của nguồn lao động là nhân tố có tính quyết định đóng góp
cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một nước. Chất lượng nguồn lao
động nông thôn nói riêng và nguồn lao động xã hội nói chung tất yếu sẽ biến
đổi theo xu hướng không ngừng tăng lên do sự phát triển của khoa học kỹ
thuật và vì vậy năng suất lao động ngày càng nâng cao. Mặt khác, khi nền
kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện chăm sóc tốt hơn sức khỏe con người, nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Chất lượng nguồn nhân
lực sẽ được nâng cao thông qua sự đầu tư và các chính sách phát triển của
Nhà nước vào các lĩnh vực y tế, giáo dục và văn hóa.
Những đặc trưng của nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn:
Một là, nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng rất lớn
trong nguồn nhân lực xã hội.
Nước ta là một nước nông nghiệp, có khoảng 78% dân số sinh sống ở
các vùng nông thôn và đại bộ phận dân cư và lao động làm ăn sinh sống bằng
nghề nông. Dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tỷ lệ tăng tự nhiên đã giảm khá
nhanh từ 2,2 năm 1990 xuống còn 1,43% năm 2000, tuy nhiên lao động trong
khu vực nông nghiệp nông thôn năm 2005 vẫn chiếm tới 66,0% lao động xã hội.
Hai là, lao động nông nghiệp mang tính thời vụ cao.
Một trong những nguyên nhân khiến cho việc trồng lúa nước cũng
như các cây rau màu khác cần một lực lượng lao động lớn là do tính thời vụ
cao (gieo trồng, thu hoạch). Những công việc cần nhiều lao động như vậy lại
24
chỉ diễn ra trong một số tháng trong năm. Tính chất thời vụ của việc canh tác
lúa nước đã dẫn đến tình trạng nông nhàn cao trong nông nghiệp. Tính chất
đặc thù của sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến lượng "cầu" về lao động nông
nghiệp có biên độ dao động rất lớn giữa các kỳ thu hoạch. Kết quả là một
lượng lao động làm nông nghiệp trở nên nhàn rỗi trong những tháng mùa khô