Tiểu luận: Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng doc - Pdf 12

Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

Page1


Trường ĐH Nông Lâm tp Hồ Chí Minh
Bộ môn Công Nghệ Sinh Học
o0o

CHỦ ĐỀ SEMINAR:

SẢN XUẤT VÀ THU NHẬN
KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HẢI NGUYỄN VŨ BẢO
MSSV:06126009
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 10/2009
Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

Page2
Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

Page3


C/TỔNG QUAN:

C.I/Khái quát về kháng thể đơn dòng:

C.I.1/Kháng thể (antibody) :

Kháng thể là những phân tử
protein được sản xuất bởi những những
tế bào lympho B khi có sự kích ứng
đáp ứng miễn dịch bởi kháng nguyên
trên cơ thể vật chủ .

Có hai loại kháng thể :
- Kháng thể đa dòng: Tập hợp các kháng thể đặc
hiệu với các epitope khác nhau trên một kháng nguyên
cho trước . Trong đáp ứng miễn dịch, cơ thể tổng hợp
nhiều kháng thể tương ứng v
ới các epitope của cùng một
kháng nguyên :đáp ứng như vậy gọi là đa dòng.

- Kháng thể đơn dòng : chỉ nhận biết một epitope trên

n các tế bào sản xuất kháng thể từ lách của
nó và dung hợp các tế bào này với tế bào ung thư (như từ các tế bào u tủy myeloma
) để làm cho chúng trở nên bất tử giống như đặc điểm của các tế bào u tủy, điều
này có nghĩa là chúng sẽ phát triển và phân chia vô hạn định. Một khối các tế bào
hợp nhất được gọi là khối tế bào lai (hybridoma), và các tế bào này sản xuất ra
mAb. Sự phát triể
n của hybridoma bất tử đòi hỏi việc sử dụng động vật. Việc thay
thế không dùng động vật không được phổ biến. Một nhà nghiên cứu, người muốn
nghiên cứu một protein đặc biệt hoặc những phân tử khác, đã chọn một dòng tế bào
hybridoma để sản xuất mAb mà phản ứng một cách mạnh mẽ với protein hoặc
phân tử đó. Các tế bào phải phát triển và nhân lên
để tạo thành một dòng tế bào mà
sẽ sản xuất ra mAb mong muốn . Có hai phương pháp để phát triển các tế bào này:
tiêm chúng vào khoang màng bụng của một con chuột hoặc dùng trong kỹ thuật
nuôi cấy tế bào in vitro. Khi tiêm vào một con chuột, các tế bào hybridoma sẽ nhân
lên và sản xuất ra dịch lỏng (bệnh cổ trướng) ở bụng của nó. Dịch lỏng này có
chứa một nồng độ cao kháng thể. Sản xuất kháng thể bằng phương pháp dịch tràn

bụng ở chuột thì rẻ tiền, dễ thực hiện, và quen thuộc . Tuy nhiên, nếu tích tụ quá
nhiều dịch lỏng hoặc nếu hybridoma là một bệnh ung thư độc, chuột sẽ trải qua đau
đớn hoặc nguy hiểm. Nếu một quy trình sản xuất gây đau đớn hoặc nguy hiểm với
động vật, thì nên điều chỉnh để tìm kiếm các lựa chọn thay thế. Một trong những
gi
ải pháp thay thế là gia tăng số lượng những tế bào hybridoma trong môi trường
nuôi cấy tế bào. Kĩ thuật này yêu cầu một số kiến thức chuyên môn, những phương
tiện, thiết bị đặc biệt, có thể tốn kém về mặt tiền bạc và mất nhiều thời gian . Hiện
Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

Page5


thay đổi nhiều về mặt di truyền của kháng thể đơn dòng chuột sản xuất với trình tự
gen người, giảm tính sinh miễn dịch của kháng thể đơn dòng đã định trước cho
việc điều trị bệnh trên ng
ười. Trước khi đến phương pháp hybridoma, các nhà
nghiên cứu chỉ có thể sản xuất huyết thanh kháng thể đa dòng. Một số lương lớn
những nhu cầu về động vật được chủng ngừa và không làm bất tử tế bào sản xuất
kháng thể, vì vậy nó yêu cầu phải lặp đi lặp lại trên động vật dùng để thu được
nhiều kháng thể hơn. Phát triển kỹ thuật tế bào lai hybridoma làm giả
m một số
lượng lớn động vật (chuột, thỏ, …) cần thiết để sản suất kháng thể.
Bước 1:
gây miễn dịch trên chuột và lựa chọn những con chuột hiến để sản
xuất tế bào lai hybridoma
Chuột được gây miễn dịch với một kháng nguyên đã được chuẩn bị cho việc
tiêm hoặc nhũ hóa kháng nguyên với tá chất Freund hoặc những tá chất khác hoặc
bằng một miếng mỏng dạng gel đồng nhất có chứa kháng nguyên. Những tế bào
nguyên vẹn, bao gồm cả màng và những vi sinh vật thì thường
được dùng như là
những kháng nguyên. Ở hầu hết tất cả các phòng thí nghiệm, chuột được sử dụng
để sản xuất kháng thể mong muốn. Thường thì, chuột được gây miễn dịch 2-3 tuần
một lần nhưng phương pháp gây miễn dịch biến đổi giữa các nhà nghiên cứu. Khi
hàm lượng kháng thể tạo ra đủ lớn. Chuột đã có đáp ứng miễn dịch mạnh sẽ được
gây mê và thu lấ
y lách để chọn lọc dòng tế bào lympho chuyên biệt dùng cho việc
lai với tế bào ung thư myeloma.
Bước 2:
sự lựa chọn chuột để sản xuất kháng thể
Sau một vài tuần gây miễn dịch, mẫu máu thu được từ chuột để đo lượng
kháng thể huyết thanh. Một vài kỹ thuật nhân đạo được phát triển để thu tập một
thể tích nhỏ máu từ chuột (Loeb and Quimby 1999). Độ chuẩn của kháng thể huyết

Sự hợp nhất giữa tế bào ung thư tủy xương myeloma với tế bào lách
của chuột đã được gây miễn dịch:
những tế bào lách đơn từ chuột đã gây miễn dịch được hợp nhất với các tế
bào ung thư tủy xương myeloma đã được chuẩn bị trước đây.
Sự dung hợp được hoàn thành bởi polyethylene glycol, là chất có khả năng
làm tan màng tế bào, tạo
điều kiện cho tế bào lympho sản xuất kháng thể với tế bào
myolema có thể kết hợp lại với nhau và tạo thành tế bào lai hybridoma bất tử. Một
chú ý trong bước thứ 3 này là chỉ có những tế bào dung hợp mới phát triển được
trong môi trường chọn lọc đặc biệt. Những tế bào này sau đó được phân phối tới
đĩa có 96 giếng chứa đựng những tế bào tiếp liệu thu được từ vi
ệc rửa màng bụng
chuột trong nước muối . Tế bào tiếp liệu được tin rằng để cung cấp các yếu tố phát
triển để đẩy mạnh sự phát triển của tế bào lai hybridoma (Quinlan and Kennedy
1994). Việc chuẩn bị thương mại là kết quả từ việc thu gom môi trường giúp cho
phát triển trong nuôi cấy tế bào và chứa đựng các yếu tố phát triển có sẵn để có thể
sử dụng thay cho các tế bào tiếp li
ệu thu được từ chuột. Nó cũng có thể được sử
dụng cho đại thực bào xuất phát từ tủy xương chuột như những tế bào tiếp liệu
(Hoffman and others 1996).
Bước 5:
Tạo dòng dòng tế bào lai hybridoma bằng “pha loãng có giới hạn”
hoặc phát triển và ổn định dòng bằng sản xuất dịch tràn ổ bụng.
Điểm mới ở bước này, một nhóm nhỏ các tế bào lai hybridoma từ đĩa 96
giếng có thể phát triển trong nuôi cấy mô theo sau bởi sự lựa chọn cho việc gắn kết
kháng nguyên hoặc phát triển bằng phương pháp dịch tràn ổ bụng ở chuột với việc
tạ
o dòng ở thời gian trễ hơn. Tạo dòng bằng “ pha loãng có giới hạn” ở thời điểm
đảm bảo phần lớn mỗi giếng chứa tối đa một dòng đơn. Phần lớn các đánh giá là
cần thiết ở giai đoạn này lựa chọn tế bào lai hybridoma có khả năng phát triển


Page9

C.II.2/ Sản xuất kháng thể đơn dòng bằng phương pháp in vitro:
Một thuận lợi chính trong việc sử dụng kháng thể đơn dòng hơn là huyết
thanh miễn dịch đa dòng là những tiềm năng sẵn có gồm: hầu hết số lượng lớn các
kháng thể đơn dòng đặc hiệu đối với một epitope riêng biệt (một phần của phân tử
antigen mà có nhiệm vụ tương tác đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể).
Thông thường, kháng thể đơn dòng được tìm thấy trong môi trườ
ng phát triển của
nuôi cấy tế bào lai hybridoma bằng phương pháp in vitro hoặc trong dịch tràn ổ
bụng từ chuột được tiêm tế bào lai hybridoma. Kháng thể đơn dòng có thể được
làm tinh khiết từ cả hai nguồn trên nhưng thường sử dụng trong môi trường hoặc
trong dịch tràn ổ bụng. Trong phương pháp in vitro nên sử dụng cho mục đích sản
xuất kháng thể đơn dòng khi việc này là có lý do và thiết thực. Nhiều dụng cụ sẵn
có trên th
ị trường làm phát triển cho sự nuôi cấy in vitro. Những dụng cụ này cần
thiết phải thay đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của chúng, một số
lượng những người trực tiếp sử dụng máy cần thiết phải được đào tạo, sự phức tạp
trong quy trình hoạt động, nồng độ cuối cùng của kháng thể đạt
được, chi phí, sự
điều tiết thể tích dịch. Chi phí của trang thiết bị nên được xem xét trong giá thành
của phương pháp sản xuất in vitro.
Mỗi dòng tế bào lai hybridoma phản ứng khác nhau đối với môi trường sản
xuất in vitro. Trong phần này mô tả phương pháp sản xuất in vitro có sẵn và thảo
luận về lợi ích và sự hạn chế của mỗi phương pháp .
Sơ đồ tóm tắt các bước trong sản xuất kháng thể đơn dòng b
ằng phương
pháp in vitro:
Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

đề cập trên đây là sản xuất kháng thể đơn dòng ở nồng độ đặc thù là dưới 20
µg/ml. Những phương pháp mà làm tăng nồng độ bằng cách loại bỏ oxy trong môi
trường có thể gia tăng khả năng phát triển của tế bào và mật độ phát triển tế bào và
vì vậy gia tăng nồng độ kháng thể đơn dòng (Boraston và cộ
ng tác viên 1984,
Miller và cộng tác viên 1987). Một số phương pháp đó sử dụng spinner flasks và
roller bottles để giữ môi trường nuôi cấy trong lưu thông không đổi và vì vậy cho
phép chất dinh dưỡng và chất khí phân phối đều hơn trong môi trường nuôi cấy thể
tích lớn (Reuveny và cộng sự 1986, Tarleton và Beyer 1991). Túi mà không khí có
thể đi qua được, phát triển khá gần đây, gia tăng độ loại bỏ không khí bằng cách
cho phép không khí đi xuyên qua vách của vật chứa môi trường. Tất cả những
phương pháp này có thể
gia tăng căn bản khả năng sản xuất, nhưng nồng độ kháng
thể vẫn giữ nguyên trong tầm vài micrograms mỗi mililit ( Heidel 1997, Peterson
và Peavey 1998, Vachula và cộng sự 1995). Hầu hết ứng dụng của những nghiên
cứu yêu cầu nồng độ kháng thể đơn dòng từ 0,1-10 mg/ml, cao hơn nhiều so với
nồng độ kháng thể đơn dòng trong môi trường nuôi cấy khối mô (Coligan và cộng
sự). Nếu kháng thể không tinh sạch đủ cho ứng dụ
ng của nghiên cứu, phương pháp
lọc theo ngưỡng trọng lượng phân tử thấp dựa vào sự ly tâm hoặc sự ép của không
khí có thể được dùng để gia tăng nồng độ kháng thể đơn dòng. Như một sự lựa
chọn, nuôi cấy mô nổi bề mặt có thể được tinh khiết bằng cách cho đi qua cột ái
lực protein A và protein G, kháng thể đơn dòng sau đó có thể tách rửa từ cột ở một
nồ
ng độ thích hợp cho hầu hết các ứng dụng (Akerstrom và cộng sự 1985, Peterson
và Peavey 1998). Tuy nhiên, globulin của bò hay những globulin miễn dịch khác
hiện diện trong môi trường nuôi cấy sẽ làm bẩn kháng thể đơn dòng được chuẩn bị.
Cả hai bước cô đặc có thể thực hiện trong một ngày hoặc ít hơn với thời gian thực
hiện tối thiểu. Tóm lại, phương pháp nuôi cấy khối mô là một công nghệ tương đối
đơn giản

hơn trong quá trình nuôi cấy, kết quả là tạo ra một lượng lớn kháng thể đơn dòng
có thể thu được từ môi trường nuôi cấy. việc sử dụng những rào cản, hoặc là
hollow fiber (tạm dịch là màng sợi rỗng) hoặc là một màng với một ngưỡng trọng
lượng phân tử thấp (10.000-30.000 kD), được thự
c hiện trong một vài thiết bị cho
Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

Page13

phép tế bào phát triển ở một mật độ cao (Evans và Miller 1988, Falkenberg và
cộng sự 1995, Jackson và cộng sự 1996). Những thiết bị này được gọi là hệ thống
màng nền bán thấm. Mục đích của những hệ thống này là cô lập các tế bào và
kháng thể đơn dòng trong một ngăn nhỏ phân cách bởi một rào cản từ một ngăn
lớn hơn có chứa môi trường nuôi cấy. Sự nuôi cấy có thể bổ sung nhiề
u yếu tố để
làm tối ưu hóa sự phát triển của tế bào lai hybridoma (Jaspert và cộng sự 1995 ).
Chất dinh dưỡng và phế phẩm của tế bào khuếch tán dễ dàng từ bên này sang bên
kia rào cản và đạt trạng thái cân bằng với một thể tích lớn, nhưng tế bào và kháng
thể đơn dòng được giữ lại trong một thể tích nhỏ hơn (1-15 ml trong hệ thống
màng đặc thù hoặc cuộn sợi rỗng nhỏ (small hollow-fiber cartridge). Việ
c sử dụng
cạn kiệt môi trường trong bể chứa lớn lớn có thể được thay thế mà không làm hư
hại đến những tế bào hoặc kháng thể đơn dòng, cũng như vậy, các tế bào và kháng
thể đơn dòng có thể được thu hoạch độc lập trong môi trường phát triển. Sự phân
tách tế bào thành các ngăn nhỏ phân cách nhau bằng màng khiến cho nó có thể đạt
được nồng độ kháng thể đơn dòng có thể so sánh với nông
độ kháng thể đơn dòng
trong phương pháp dịch tràn ổ bụng ở chuột. Hai hệ thống màng nền bán thấm sẵn
có là: mini- PERM (Unisyn Technologies, Hopkinton, MA) và CELLine (Integra
Bioscience, Ijamsville, MD). Celline có hình dạng và được sử dụng tương tự như


nữa. Việc khởi công kiểu hệ thống này thường tiêu tốn hơn 1200 $. Vì những lý
do đó, bioreactor với hệ thống sợi rỗng (hollow-fiber bioreactor ), chỉ được dùng
nếu người ta cần một số lượng lớn kháng thể đơn dòng. Reactor với hệ sợi rỗng
(The hollow-fiber reactor) được sử dụng thành công trong nhiều phòng thí nghiệm
độc lập ( Jackson và cộng sự 1996, Knazek và cộng sự 1972, Peterson và Peavey
1998). Nếu các nhà nghiên cứu không thể đầu tư thời gian ho
ặc những chi phí lớn,
một vài cơ quan nòng cót về thiết bị chức năng, chính phủ, các phòng thí nghiệm
có hợp đồng thương mại sản xuất kháng thể đơn dòng từ tế bào lai hybridoma. Ví
dụ như: các phòng thí nghiệm có hợp đồng thương mại điển hình tiêu tốn 11$/mg
để sản xuất 1.000 mg với những reactor với hệ sợi rỗng(hollow-fiber reactors)
(Chandler, 1998).
Gần đây, một vài hội thảo, diễn đàn, và m
ột số công bố đã thảo luận về việc
sử dụng của một số phương pháp thay thế để thay thế chuột để sản xuất kháng thể
đơn dòng (Center for Alternatives to Animal
Testing và OPRR/NIH 1997,
Marx và cộng sự 1997, de Geus và Hendriksen, eds 1998). Những kết luận của họ
cho rằng những phương pháp thay thế có thể cung cấp một cách đầy đủ bằng việc
tạo ra hầu hết các kháng thể đơn dòng cần thiế
t bởi những tổ chức nghiên cứu.
Những phương pháp in vitro trong sản xuất kháng thể đơn dòng thích hợp trong
nhiều tình huống, và nó đáp ứng cho các nhà nghiên cứu để đưa ra biện hộ có tính
khoa học cho việc sử dụng phương pháp dịch tràn ổ bụng ở chuột. Nó là cơ sỏ của
IACUC để đánh giá biện hộ của các nhà nghiên cứu và để tán thành hoặc phản đối
việc sử dụng phươ
ng pháp dịch tràn ổ bụng ở chuột.

Trên đây là những hình ảnh về hollow fiber

* Những điều kiện không có huyết thanh hoặc có huyết thanh ở nồng độ
thấp không thể cung cấp đủ lượng kháng thể đơn dòng cho một số mục đích , như
đánh giá những vacxin mới trong việc chống lại những sinh v
ật lây nhiễm.
* Phương pháp nuôi cấy đôi khi mang lại những tập hợp mAb IgG mà được
glycozyl ở những vị trí khác nhau từ những thu hoạch từ dịch tràn ổ bụng ở chuột,
do đó ảnh hưởng đến khả năng kháng nguyên – ràng buộc và các chức năng sinh
học quan trọng.
* Khi những tế bào lai hybridoma sản xuất mAb có chứa các tác nhân lây
nhiễm, như nấm men hay nấm, những tế bào thường phải thông qua con chuột.
C.II.3.2/ S
ản xuất kháng thể đơn dòng bằng phương pháp in vivo:
Để sản xuất kháng thể đơn dòng bằng phương pháp dịch tràn ồ bụng, chuột
sẽ được tiêm dòng tế bào lympho chuyên biệt vào trong cơ thể chúng .
Tuy nhiên, để gia tăng đáp ứng sản xuất kháng thể, chuột được kích hoạt
bằng hai mũi tiêm đầu tiên có chứa pristane vào xoang bụng, cách nhau một tuần .
Pristane có tác dụng gây nên phản ứng viêm hạt và tác động đến quá trình tích dịch
ổ bụng . Liều thích hợp của pristane là khoảng từ 0,1-0,5 ml. Hai tu
ần sau khi
chuột được tiêm pristane, tiếp tục tiêm vào xoang bụng chuột khoảng 10
6
tế bào lai
hybridoma . Việc tiêm tế bào lai hybridoma vào xoang bụng chuột sẽ gây nên các
cục bướu và kích thích tiết dịch tràn ổ bụng làm cho bụng chuột phình to lên . Sau
khi bị tiêm tế bào lai hybridoma, chuột chỉ có thể sống được nhiều nhất là 20 ngày
Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

Page16

. Dịch tràn ổ bụng sẽ thu được bằng phương pháp chọc dò vào khoảng 2 tuần sau


C.III.1.1/Những thuận lợi của phương pháp in vitro:

- Phương pháp in vitro giảm việc sử dụng chuột ở giai đoạn sản xuất kháng
thể (như có thể sử dụng chuột như một nguồn của những tế bào tiếp liệu khi việc
sản xuất kháng thể đang được tiến hành)
- Những phương pháp in vitro thường là những phương pháp được lựa chọn
cho cho sự sản xuất ở quy mô lớn của nghành công nghiệp dượ
c phẩm bởi vì dễ
dàng trong nuôi cấy tạo ra sản phẩm so với việc sử dụng động vật và bởi vì những
cân nhắc về kinh tế.
- Phương pháp in vitro tránh được nhu cầu để trải qua quy trình động vật để
sản xuất kháng thể đơn dòng
- Phương pháp in vitro tránh được hoặc làm giảm sự cần thiết về kinh
nghiệm của nhân viên phòng thí nghiệm trong việc thao tác với động vật.
- Phương pháp in vitro sử
dụng hệ thống màng nền bán thấm sản xuất mAb
có nồng độ thường cao như trong phương pháp dich tràn ổ bụng và tránh được sự
tạp nhiễm từ cơ thể chuột
C.III.1.2/ Khó khăn của phương pháp in vitro:

- Một số tế bào lai hybridoma không phát triển tốt trong môi trường nuôi cấy
hoặc bị mất trong môi trường nuôi cấy.
- Phương pháp in vitro thường yêu cầu việc sử dụng FCS (huyết thanh thai
bê). Việc sử dụng phương pháp in vitro để sản xuất kháng thể đơn dòng thường
yêu cầu sử dụng FCS, là một mối quan tâm từ quan điểm chăm sóc động vật.
- Giảm ái lực miễn dịch, thay đổi chức năng sinh h
ọc của kháng thể.
- Nói chung, nuôi cấy nổi bề mặt chứa đựng ít hơn mAb ( 0,002-0.01) mỗi
mililit của môi trường so với phương pháp dịch tràn ổ bụng ở chuột. Lưu ý rằng hệ


C.III.2.1/ Thuân lợi của phương pháp in vivo:

- Phương pháp dịch tràn ổ bụng ở chuột thường sản xuất mAb ở một nồng
độ rất cao mà thường không yêu cầu các thủ tục cô đặc thêm nữa mà có thể gây
biến tính kháng thể và làm giảm hiệu quả.
- Nồng độ cao của mAb mong muốn trong dịch tràn ổ bụng ở chuột có thể
tránh được những ảnh hưởng của chất gây ô nhiễm trong dịch nuôi cấy in vitro khi
số lượng tươ
ng đương của mAb được sử dụng.
- Phương pháp dịch tràn ổ bụng ở chuột tránh được sự cần thiết phải thuần
hóa kháng thể sản xuất bởi phương pháp nuôi cấy mô.
- Đơn giản, dễ triển khai rộng rãi.
C.III.2.2/ Khó khăn của phương pháp in vivo:

- Phương pháp dịch tràn ổ bụng ở chuột kéo theo việc tiếp tục sử dụng chuột
và yêu cầu phải theo dõi hằng ngày
- mAb sản xuất bằng phương pháp in vivo có thể chứa nhiều protein chuột
và nhựng chất gây ô nhiễm khác mà yêu cầu phải được làm sạch
- Phương pháp dịch tràn ổ bụng ở chuột có thể tốn kém nếu đòi hỏi sử dụng
chuột suy giảm miễn dịch
Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

Page19

- Phương pháp in vivo có thể là nguyên nhân gây đau đớn và nguy hại đến
chuột.
C.IV./ Thu nhận kháng thể đơn dòng:

Việc thu hoạch kháng thể đơn dòng có thể được thực hiện theo nhiều kỹ

*Sản xuất kháng thể đơn dòng cho mục đích chuẩn đoán và điều trị:

Một lượng kháng thể đơn dòng cần thiết và tầm quan trọng của một vài yếu
tố như chi phí, thời gian quay vòng, và tuân thủ các quy định phụ thuộc vào mục
đích này. Nghành công nghiệp chuẩn đoán đầy cạnh tranh liên quan tới chi phí,
thời gian quay vòng, và những yêu cầu về quản lý. Sự sản xuất mAb của nghành
công nghiệp chuẩn đoán thường ở quy mô nhỏ hoặc trung bình và rất hiếm khi ở
quy mô lớn. Nghành công nghiệp
điều trị ít liên quan nhiều hơn nghành công
nghiệp chuẩn đoán với chi phí và thời gian quay vòng, và quy mô sản xuất của nó
là từ trung bình cho tới lớn. Nghành công nghiệp điều trị thì quy định rất cao và
nhạy cảm với cấu trúc quy định và chi phí pháp lý rất cao của một vài thay đổi về
Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

Page20

thủ tục. Nghành công nghiệp công nghệ sinh học mà phát triển các tác nhân trị
bệnh sản xuất mAb ở quy mô nhỏ đến trung bình. Nó ít liên quan với chi phí sản
xuất hơn so với nghành công nghiệp chuẩn đoán và liên quan nhiều hơn đến
nghành công nghiệp điều trị, nhưng thời gian quay vòng là rất quan trọng. Vì vậy,
nó đòi hỏi phải quay vòng nhanh chóng .
Việc sản xuất mAb thương mại yêu cầu nhiều hơn những mẻ nuôi cấy lớ
n
hoặc sản xuất ở một số lượng lớn chuột. Nó đòi hỏi một sự nỗ lực đáng kể ở giai
đoạn chuẩn bị sản xuất để đảm bảo rằng các dòng tế bào được ổn định, có thể sản
xuất thương mại số lượng thích hợp một kháng thể ổn định, và có thể sản xuất một
sả
n phẩm không bị nhiễm bẩn. Sản xuất thương mại cũng bao gồm việc xây dựng
một cơ sở chất lượng cao cho việc sản xuất in vivo và in vitro và chế biến kháng
thể. Có một nhu cầu cho việc kiểm soát chất lượng và các bộ phận đảm bảo chất

E/TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Công nghệ sinh học trong thú y – PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hải – Nhà xuất
bản Nông Nghiệp
Sản xuất và thu nhận kháng thể đơn dòng

Page21

- Công nghệ sinh học trong chăn nuôi gia súc – PGS.TS. Trần Thị Dân –
Nhà xuất bản Nông Nghiệp
- Monoclonal antibody production – A report of the committee on methods
of producing monoclonal antibodies Institute for Laboratory Animal Research
Natinal Research Council
- www.google.com.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status