TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
KHOA TÀI CHÍNH-KẾ TOÁN
ĐỀ TÀI:
ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT, TỶ GIÁ
ĐẾN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
GVHD: ths Nguyễn Thị Ngọc Tú
DANH SÁCH NHÓM:
1. Hoàng Thảo Anh
2. Nguyễn Thị Thu Bích
3. Nguyễn Thị Kim Chi
4. Phạm Linh Chi
5. Lê Thị Thu Giang
6. Trần Thị Diệu Hiền
7. Nguyễn Thị Ngọc Hiền
8. Nguyễn Trần Ngọc Hảo
9. Lê Thị Đài Trang
A-Tỷ giá
I. Khái quát
1. Khái niệm:
Có thể định nghĩa tỷ giá hối đoái theo nhiều cách sau đây:
Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ chuyển đổi từ đơn vị tiền tệ nước này sang đơn vị tiền tệ
nước khác
Tỷ giá hối đoái là quan hệ tỷ lệ so sánh giữa đồng tiền nước này với đồng tiền
nước khác trên cơ sở hàm lượng vàng hoặc söùc mua của các đồng tiền đó
Tỷ giá hối đoái là giá cả của 1đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng bao
nhiêu đơn vị tiền tệ nước khác
Tỷ giá hối đoái là giá cả mua bán của 1 đồng tiền trong quan hệ so sánh với các
đồng tiền khác
Tỷ giá hối đoái là giá cả để mua bán trao đổi ngoại tệ
2. Vai trò
- Tỷ giá hối đoái tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua các nhân tố của sản xuất
Hạn chế việc nhập khẩu những mặt hàng xa xỉ bởi khi giá tăng cao người mua
sẽ phải cân nhắc hơn, như vậy sẽ cải thiện cán cân thương mai.
Tỷ giá tăng
Cải thiện cán cân thương mại . Đồng nội tệ giảm giá sẽ làm cho các doanh
nghiệp xuất khẩu thuận lợi hơn khi hàng hóa sản xuất có sức cạnh tranh hơn,
trong khi đó nhập khẩu sẽ giảm đi và cán cân thương mại được cải thiện.
Tuy vậy, cần lưu ý rằng tỷ giá chỉ là một trong những nhân tố gây thâm hụt
thương mại cao tại Việt Nam. Yếu tố chính vẫn là các dòng tiền từ bên ngoài đổ
vào Việt Nam như FDI, FPI, ODA, kiều hối và các chính sách thương mại khác.
Minh bạch thị trường ngoại hối : Việc điều chỉnh tỷ giá sẽ giúp cho thị trường
ngoại tệ phản ứng một cách linh hoạt hơn theo cơ chế thị trường, giúp thu hẹp
chênh lệch giữa tỷ giá niêm yết và giao dịch thực tế
b/ Tiêu cực
• Các quyết định liên quan đến ngoại tệ này sẽ có những tác động tiêu cực đến
các công ty có các khoản nợ bằng ngoại tệ và các công ty có hoạt động sản xuất
phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu nhập khẩu.
3. Thị trường chứng khoán
a/ Tích cực:
Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được hưởng lợi vì chi phí giảm, tăng khả năng cạnh
tranh trên thị trường, đồng thời giá cổ phiếu tăng.
Trong ngắn hạn, ngay sau mỗi lần điều chỉnh giảm giá VND, sẽ có tác động tích
cực đến việc thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế cả trực tiếp lẫn gián tiếp nếu những
lần điều chỉnh đó mang tính chủ động và trong tầm kiểm soát của NHNN.
“Tôi tin sau khi tăng tỷ giá các dòng vốn mới đổ vào thị trường chứng khoán
Việt Nam trong quý 1/2011 sẽ tăng mạnh hơn so với cùng kỳ 2010". - Ông Lê
Anh Thi, P.TGĐ Cty Chứng khoán Âu Việt – AVS
b/ Tiêu cực
Tuy nhiên, nếu việc điều chỉnh tỷ giá mang tính bị động, thì các nhà đầu tư nước
ngoài sẽ lo ngại về những bất ổn kinh tế vĩ mô, nhất là đối với các khoản đầu tư
trung và dài hạn. Vì ở vị trí của một nhà đầu tư, họ sẽ phải tính đến cả thời điểm rút
hoặc chỉ cao hơn trong giới hạn mà việc dùng USD nhập lậu vàng
IV. Liên hệ thực tế:
Từ 1989-1992: nền kinh tế chịu tác động của chính sách thả nổi tỷ giá.
Giai đoạn từ 1992 đến 7-1997(khủng hoảng tài chính Đông Nam Á): Chính phủ
thay đổi cơ chế điều hành như quy định biên độ giao dịch. Áp dụng tỷ giá chính
thức do NHNN công bố. Đẩy mạnh hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ.
Với những biện pháp trên cung cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái được ổn định.
Từ 7-1997 đến ngày 26-2-1999: cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan lan
rộng dẫn đến việc NHNN quyết định tăng biên độ giao dịch.
Từ 1999-2006: kết quả của việc tăng tỷ giá là giảm nhập siêu, tuy nhiên làm
tăng gánh nặng nợ nước ngoài.
Từ 11-2006 đến nay: tăng tỉ giá mạnh tay giúp cải thiện cán cân thanh toán,
giảm nhập siêu.
Ngày 11/02/2011, NHNN công bố điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm
9.3% từ 18,932 VND/USD lên mức 20,693 VND/USD và thu hẹp biên độ giao dịch từ
+/- 3% xuống +/- 1%. Đây là mức độ điều chỉnh mạnh nhất kể từ cuộc khủng hoảng
tài chính châu Á năm 1997-1998.
Quyết định điều chỉnh tỷ giá hối đoái sẽ có tác động như thế nào tới thị trường
chứng khoán?
Ý kiến của Công ty Chứng khoán Dầu khí (PSI)
“Hai quyết định của Ngân hàng Nhà nước được đánh giá là khá mạnh tay sau lần nâng
tỷ giá gần đây nhất vào tháng 12/2009, tỷ giá đã được nâng nhằm cải thiện tình hình
căng thẳng về cung - cầu ngoại tệ trên thị trường.
Thực tế đang cho thấy thanh khoản của các ngân hàng nói riêng và thị trường tài
chính nói chung vẫn đang là vấn đề khó giải quyết và nó cũng đã có tác động
mạnh đến thị trường chứng khoán trong suốt hơn 3 tháng qua.
Việc thay đổi tỷ giá trong những gần đây:
17-08-2010: tăng 2,1%
11-2-2011: tăng 9,3%
29-04-2011-> ổn định
- Căn cứ vào tiêu thức biến động của giá trị tiền tệ: Lãi suất danh nghĩa, lãi suất
thực.
4.Vai trò:
- Công cụ điều tiết vĩ mô¬ chính sách tiền tệ quốc gia, điều chỉnh cơ cấu, điều
tiết tăng trưởng thông qua điều tiết tổng đầu tư.
- Điều kiện tồn tại và phát triển ngân hàng, các hoạt động tiền tệ¬ tín dụng.
- Đòn bẩy kinh tế củng cố và tăng cường hạch toán kinh tế và hiệu quả của sản
xuất kinh doanh.
- Thu hút ngoại tệ và đầu tư nước ngoài
- Phát triển thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái và thị trường chứng khoán.
II-Tác động:
Lãi suất thị trường luôn là vấn đề được bất cứ nhà đầu tư nào quan tâm, bởi nó
sẽ quyết định lợi nhuận của họ, lãi suất cao hay thấp sẽ ảnh hưởng nhiều đến hoạt
động đầu tư của các cá nhân, cũng như ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của
nhiều doanh nghiệp.
1.Thị trường tiền tệ:
- Tiêu cực:
Năm 2008, dưới sức ép của tình trạng lạm phát tăng cao và tác động từ các giải
pháp chống lạm phát của Chính phủ, mặt bằng lãi suất cho vay của các NHTM trên thị
trường đã có những biến động bất thường và gây ra nhiều xáo trộn trong nền kinh tế,
trong đó khu vực DN là nơi chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Có lẽ mãi sau này người ta
không thể quên được cảnh tượng “dòng người” xếp hàng để rút tiền từ nơi lãi suất
thấp sang nơi lãi suất cao vì lãi suất tiền gửi được đẩy lên liên tục, cao nhất là 19-
20%/năm.
Lãi suất cho vay tăng cao, cùng với nguồn cung tín dụng bị hạn chế dẫn đến tình
trạng hiệu quả SXKD của hầu hết các DN đã bị giảm sút, thua lỗ, khả năng trả nợ bị
suy giảm. DN buộc phải cơ cấu lại hoạt động SXKD, cắt giảm việc đầu tư, thu hẹp
quy mô và phạm vi hoạt động. Nhiều DN có quy mô nhỏ, vốn ít, không chịu đựng
được mức lãi suất cao, không có khả năng huy động vốn để duy trì hoạt động SXKD
đã phải ngừng hoạt động, giải thể và phá sản.
cố và cải thiện rất tích cực và đặc biệt là thị trường ngoại hối cũng như kỳ vọng tỷ giá
cũng được neo giữ ở mức ổn định.
2. Thị trường chứng khoán:
- Tích cực:
Hiên nay, VN hạ lãi suất huy động vốn, điều đầu tiên nghĩ đến là kênh đầu tư khác
ngoài gửi tiền sẽ được hưởng lợi, do người gửi tiền muốn tìm một kênh sinh lời khác
tốt hơn. Ngoài ra, lãi suất giảm sẽ tạo kỳ vọng phục hồi kinh tế và thị trường chứng
khoán. Do đó, thị giá cổ phiếu có thể tăng do cầu kéo.
Như vậy, việc hạ lãi suất về mặt lý thuyết sẽ có tác động kép, vừa giúp tăng niềm
tin vào đà tăng của chứng khoán khiến đầu tư chứng khoán sinh lời tốt hơn trong
tương quan với các kênh đầu tư khác, vừa khiến người gửi tiền giảm tỷ trọng gửi ngân
hàng và tăng tỷ trọng đầu tư.
- Tiêu cực:
Lãi suất tăng sẽ làm giảm giá cổ phiếu và trái phiếu và ảnh hưởng xấu đến tài sản
của người dân, từ đó dẫn đến tiêu dùng giảm sút và cuối cùng là tác động tiêu cực đến
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kể từ sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, để cứu vãn thị trường cổ phiếu và thị
trường công trái, Alan Greenspan đã giảm lãi suất đồng đô-la từ 6% xuống còn 1%,
bất chấp hậu quả mà nó gây ra, khiến cho đồng đô-la Mỹ tràn ngập trên toàn thế giới.
những người năm giữ những đồng đô-la Mỹ trên toàn thế giới hầu như cùng dốc vốn
vào các loại tài sản quí như bất động sản, dầu mỏ, vàng bạc hay hàng hoá chủ lực. hậu
quả là giá dầu thô tăng từ 22 đô-la Mỹ/thùng lên 60 đô-la Mỹ/thùng, giá vàng bạc,
bạch kim, niken, đậu tương, đường, cà phê,… tăng từ 120% đến 300% so với giá năm
2002.
Nhận xét: Mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên thị trường cũng đều ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả SXKD hay nói cách khác là tác động trực tiếp đến lợi nhuận
của DN và qua đó điều chỉnh các hành vi của họ thông qua các hoạt động kinh tế.
Nhận định thêm _ Định hướng và giải pháp cụ thể khi xử lý vấn đề lãi suất:
a/ Đối với cá NHTM:
- Phân tích và đánh giá chính xác mức sinh lời của DN để xác định lãi suất cho vay
- Điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt, kịp thời, duy trì mặt bằng lãi suất
ổn định, phù hợp cơ chế thị trường trên cơ sở xử lý tốt mối quan hệ về lợi ích của
người gửi tiền, các Ngân hàng và người vay tiền.
- Hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất, làm biến dạng sự
vận động của lãi suất để đảm bảo lãi suất trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị
trường, giúp cho các chủ thể tham gia thị trường có thể dự báo, đưa ra các giải pháp
đối phó phù hợp.
- Tăng cường năng lực dự báo kinh tế và sớm đưa ra các giải pháp điều tiết mang tính
đón đầu để tránh các cú sốc về lãi suất, gây tổn thương cho các chủ thể trong nền kinh
tế.
- Trong bối cảnh suy giảm kinh tế hiện nay, cần thực hiện triệt để và kiên trì giải pháp
hỗ trợ lãi suất, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi DN có thể tiếp cận được sự hỗ trợ của
Chính phủ nhằm phát huy tốt nhất hiệu ứng từ gói kích cầu này đối với toàn bộ nền
kinh tế
III- Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá:
Lãi suất và tỷ giá hối đoái là hai trong số những công cụ quan trọng để Chính phủ điều
hành nền kinh tế vĩ mô của một nước. Tuy nhiên giữa chúng có mối quan hệ qua lại
mật thiết với nhau. Nghiên cứu một số nguyên lý sau:
a/Qui luật một giá:
Nếu hai nước sản xuất cùng một loại hàng hóa, giá của hàng hóa này phải giống nhau
trên toàn thế giới, không quan trọng nước nào sản xuất ra nó.
VD: Cùng mặt hàng thép: giả sử thép của Mỹ giá 100$/tấn, của Việt Nam là
1.500.000đ/tấn. Theo qui luật trên, tỷ giá của USD/VND phải là 100/1.500.000
=1/15.000, tức là 1USd đổi được 15.000VND
b/ Thuyết ngang bằng sức mua (Purchasing Power Parity-PPP)
Tỷ giá giữa 2 đồng tiền sẽ điều chỉnh để thực hiện mức giá của 2 nước. Thuyết này
dựa trên Qui luật một giá cho mức giá chung của một quốc gia.
Như VD trên, giả sử giá bán thép bằng đồng VND tăng giá 10%( 1.650.000đ/tấn),
theo qui luật một giá tỷ giá phải tăng tương ứng là 16.500d/USD, hay đồng USD tăng
giá 10% so với VND. Thuyết ngang bằng sức mua cho thấy nếu mức giá của một
Nhận xét: Lãi suất và tỷ giá là hai yếu tố nhạy cảm trong nền kinh tế và là các công
cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ. Lãi suất và tỷ giá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và cùng tác động lên các hoạch định của nền kinh tế. Sự
khập khểnh giữa chính sách lãi suất và tỷ giá có thể gây ra những hậu quả bất lợi như:
nội tệ bị mất giá gây nguy cơ lạm phát “chảy máu” ngoại tệ, đầu cơ tiền tệ, hạn chế
nguồn vốn đầu tư nước ngoài…Vì vậy, trong quản lý vĩ mô chính sách lãi suất và tỷ
giá phải được xử lý một cách đồng bộ và phù hợp với thực trạng của nền kinh tế trong
từng thời kỳ nhất định.
Lãi suất và tỷ giá tác động ngược lại nhằm thúc đẩy hoặc kiềm chế sự phát triển của
các yếu tố trên các yếu tố tác động đến quá trình hình thành và lãi suất và tỷ giá là kết
quả hàng loạt quá trình tương tác khác nhau. Vai trò, phương thức, cường độ của từng
yếu tố lại phụ thuộc vào môi trường, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước và thay đổi theo
từng giai đoạn phát triển. Như vậy, sự thay đổi của lãi suất và tỷ giá tùy thuộc rất
nhiều yếu tố, các yếu tố lại thường đan xen vào nhau và tùy thuộc lẫn nhau ở một thời
điểm cụ thể, tình hình cụ thể, sẽ có yếu tố nổi bật là nguyên nhân làm thay đổi lãi suất
và tỷ giá và cũng có yếu tố trở thành hệ quả của sự thay đổi lãi suất và tỷ giá. Chính
mối quan hệ biện chứng này làm cho việc điều hành và xử lý mối quan hệ giữa lãi suất
và tỷ giá trở nên khó khăn, phức tạp. Vai trò của lãi suất và tỷ giá như là những công
cụ tích cực trong phát triển kinh tế, đồng thời là những công cụ kềm hãm của chính sự
phát triển ấy, tùy thuộc vào sự khôn ngoan hay vụng về trong việc sử dụng chúng.
I. Tình hình lãi suất hiện tại:
NHNN vừa cắt giảm các mức lãi suất như sau:
• Lãi suất tái cấp vốn là 11%/năm;
• Lãi suất tái chiết khấu là 9%/năm;
• Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù
đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là
12%/năm.
• Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng
là 2%/năm;
• Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng