Luận văn: Xuất khẩu điều sang thị trường Mỹ - Pdf 12


1
Luận văn
Xuất khẩu điều sang thị trường
Mỹ

2
Lời nói đầu **** *** *** *** *** *** ***
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước Việt
Nam trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay. Đây là một
trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước. Để hoàn thành được nhiệm vụ đó cũng như giúp Việt Nam bắt kịp
được với tiến trình toàn cầu hoá và hội nhập, chúng ta cần phải tăng cường mở
rộng thị trường, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và tiếp tục phát huy các
mặt hàng thế mạnh.

Hiện nay Mỹ đã và đang là đối tác quan trọng, một thị trường lớn có khả
năng tiêu thụ nhiều hàng hoá, sản phẩm của Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam cũng chính là những mặt hàng mà thị trường này có nhu
cầu nhập khẩu hàng năm với khối lượng như giầy dép, thuỷ hải sản, nông sản…
Trong đó điều là một trong những mặt hàng nông sản quan trọng nhất được bán
rộng rãi, chiếm thị phần cao trên thị trường Mỹ. Vì vậy đẩy mạnh xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là
hoạt động đầu tiên của thương mại quốc tế. Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như trên toàn thế
giới:
2.1. Xuất khẩu tạo ra nguồn thu ngoại tệ
Ngoại tệ sử dụng làm phương tiện thanh toán trong khi đó xuất khẩu góp
phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia. Đặc biệt với các nước đang
phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được
nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về cung cấp
ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
2.2. Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo
làn lạc hậu chận phát triển. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có
một lượng vốn lớn để nhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến. Xuất khẩu
là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan trọng nhất, tạo tiền đề cho
nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô tốc độ tăng trưởng của hoạt động
nhập khẩu. Ở một số nước một trong những nguyên nhân chủ yếu của
tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về vốn do đó họ cho
nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và
viện trợ của nước ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay
thấy được khả năng sản xuất và xuất khẩu – nguồn vốn duy nhất để trả
nợ thành hiện thực.
2.3. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH
Thứ nhất: Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành khác cùng có cơ hội phát triển.
Điều này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất
khẩu, các ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện
phát triển.

khẩu cà fê, gạo đứng thứ 2 thế giới, cao su đứng thứ 4, chè đứng thứ 5
thì xuất khẩu nhân điều và hạt tiêu đen của Việt Nam thường xuyên giữ
ở vị trí số một.
2.1.1 Về nguồn cung điều xuất khẩu Việt Nam
Nguyên liệu điều của Việt Nam chủ yếu được nhập khẩu từ các nước
Châu Phi chiếm khoảng 40 % , trong đó sản lượng điều trong nước chỉ
có thể đáp ứng được 60% nhu cầu (theo ước tính của Vinacas năm 2009)
Điều thô được cung cấp từ trong nước đáp ứng khoảng 60% nhu cầu,
được cho là đứng vị trí số 1, hương vị thơm ngon, màu sắc tự nhiên,
không nhiễm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chất lượng hơn hẳn nhân
điều của Ấn Độ, Brazil hay Tanzania.
Theo hiệp hội điều Việt Nam( Vinacas), Việt Nam hiện có khoảng
400.000 héc ta hạt điều, trồng chủ yếu ở các tỉnh phía nam, với năng
suất 1,06 tấn/héc ta. Đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu điều là tỉnh
Bình Phước. Với diện tích hơn 150 ngàn ha, chiếm 45% diện tích điều

5

cả nước; năng suất cao từ 1,1 – 1,5 tấn/ha và có trên 200 cơ sở chế biến
hạt điều, Bình Phước là thủ phủ điều cả nước và ngành điều trở thành
ngành nông sản chủ lực của tỉnh.
Bảng 1: Diện tích, sản lượng, kim ngạch xuất khẩu điều ước tính năm 2010 so
với 2009.

ước tính 2010 2009
Diện tích (hécta) Không có số liệu

398.100
Sản lượng (tấn) 400.000-450.000


chuyền của một nhà máy chế biến điều đều được tự động hóa, và đều
được chế tạo trong nước.

2.1.3 Lợi thế sản xuất và xuất khẩu điều của Việt Nam
Theo lý thuyết về lợi thế so sánh của Ricardo các mặt hàng nông sản
Việt Nam có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
Với nguồn lao động sẵn có và chi phí chế biến rẻ là một yếu tố quan
trọng trong việc tạo ra lợi thế so sánh trong xuất khẩu, đây cũng là một
trong những đặc điểm của các quốc gia đang phát triển. Ngành điều hiện
nay thu hút khá lớn nguồn lao động tham gia chế biến xuất khẩu, hơn
nữa lại chủ yếu là lao động phổ thổng nên mức lương lại giữ ở mức

6

thấp. Việc nguồn lao động, chi phí rẻ và có khả năng đáp ứng tạo ra lợi
thế lớn cho Việt Nam trong việc xuất khẩu nhân điều ra thế giới.
Bên cạnh đó, hiện nay ở Việt Nam đã có công nghệ chế biến điều
riêng thay vì nhập khẩu máy móc rất đắt từ nước ngoài. Với năng suất
cao, tỷ lệ hạt bể vỡ thấp hơn nữa giá thành lại rẻ, đây là một trong những
yếu tố góp phần đưa Việt Nam trở thành nước đứng đầu thế giới về xuất
khẩu nhân điều kể từ năm 2008. Theo đánh giá của Bộ công thương thì:
“Công nghệ chế biến hạt điều Việt Nam chính là báu vật, bí kíp vì đã
góp phần vào sự thành công của ngành điều trong nước trong vòng 20
năm trở lại đây”.
2.1.4 Các nhà máy chế biến điều ở Việt Nam và tiêu chuẩn áp dụng khi xuất
khẩu
Với mục tiêu tiếp tục phát huy thế mạnh và giữ vững vị trí xuất khẩu
nhân điều trên thế giới, hiện nay ngành điều đang tích cực các khâu chế
biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu và thực hiện tốt
vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thứ nhất: Mỹ là một thị trường khổng lồ. Dung lượng thị trường Mỹ rất lớn do
Mỹ có dân số đông, thu nhập bình quân đầu người cao. Sức mua của
người Mỹ lớn vì họ chi tiêu mua sắm nhiều. Theo thống kê, trong 15
năm qua, tỷ lệ tiết kiệm của người Mỹ đã từ 6% giảm xuống còn 1%.
Hàng hoá mà người Mỹ tiêu dùng hầu hết được nhập khẩu từ bên ngoài.
Có thể đánh giá rằng Mỹ là một xã hội tiêu thụ.
Thứ hai: Cơ cấu thị trường và mặt hàng tiêu thụ ở Mỹ rất đa dạng, nhu cầu hàng
hoá ở từng vùng không giống nhau. Hàng hoá dù có chất lượng cao hay
vừa đều có thể bán trên thị trường Mỹ vì ở đây có nhiều tầng lớp dân cư
với mức sống khác nhau. Tuy nhiên, đòi hỏi của người tiêu dùng Mỹ đối
với sản phẩm cũng rất khắt khe, sản phẩm không chỉ chất lượng tốt mà
giá cả phải hợp lý và dịch vụ đảm bảo
Thứ ba: Với sức hấp dẫn của mình, Mỹ là một thị trường cạnh tranh gay gắt.
Hàng hoá của một nước vào thị trường Mỹ phải cạnh tranh với các mặt
hàng tương tự từ nhiều nước khác và hàng sản xuất trong nước. Mấu
chốt để cạnh tranh trên thị trường Mỹ là giá cả, chất lượng và dịch vụ.
Đôi khi đòi hỏi về giá cả lại lớn hơn đòi hỏi về chất lượng. Do người
tiêu dùng Mỹ thích thay đổi, họ muốn mua những hàng hoá rẻ, chất
lượng vừa phải hơn những mặt hàng bền mà giá lại đắt. Vì nguyên nhân
này mà các hàng hoá của Trung Quốc rất thành công trên thị trường Mỹ.
Một điều nữa cần lưu ý là khi bán hàng trên thị trường Mỹ, công tác
marketing đóng vai trò hết sức quan trọng.
Thứ tư: Thị trường Mỹ được quản lý trên cơ sở pháp luật. Trong thương mại,
các văn bản luật bao gồm luật điều chỉnh chung, luật điều chỉnh từng
nhóm các mặt hàng và thậm chí một số mặt hàng có luật điều chỉnh
riêng. Các luật này rất chặt chẽ và đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt. Hệ
thống luật này khá phức tạp và làm cho các nhà xuất khẩu nước ngoài
gặp khó khăn nếu không nắm vững.
2.2.2 Những khó khăn khi xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ
Thứ nhất: Hàng hóa Việt Nam vào Mỹ gặp nhiều rào cản. Người Mỹ đã gắn

thủ chính của Việt Nam là Trung Quốc, Bangladesh, Thái Lan,
Philippines cùng với một số
nước thuộc vùng Nam Mỹ, châu Âu.
Thứ ba:
Nhưng khó khăn về vấn đề luật lệ, các quy tắc thương mại khi làm ăn
với Mỹ. Luật pháp chi phối môi trường kinh doanh ở Mỹ, và các doanh
nghiệp thường có thói quen kiện tụng, đưa nhau ra tòa để giải quyết các
tranh chấp thương mại. Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam phải thật
cẩn trọng quan hệ làm ăn. Việc sử dụng luật sư tư vấn để hạn chế những
tranh chấp hay xác định rõ các điều khoản ký trong hợp đồng sẽ giúp
cho phía doanh nghiệp Việt Nam chủ động trong những tranh chấp với
doanh nghiệp Mỹ.
2.3 Xuất khẩu điều sang thị trường Hoa Kỳ
2.3.1. Tình hình xuất khẩu điều của Việt Nam hiện nay
Theo Vinacas- hiệp hội điều Việt Nam, hiện nay Việt Nam đang là nhà
xuất khẩu nhân điều lớn nhất thế giới với 37% thị phần xuất khẩu điều
thế giới. Vị trí này được Việt Nam duy trì liên tục từ năm 2006, năm
2009 Việt Nam xuất khẩu 177.000 tấn nhân điều các loại, đạt kim ngạch
850 triệu USD. Ngoài nguyên liệu trong nước, Việt Nam còn nhập thêm
hạt điều thô về chế biến xuất khẩu; trên 95% lượng điều dành cho xuất
khẩu mỗi năm. Năm 2007, xuất khẩu điều đạt 150 ngàn tấn nhân điều,
giá trị 641 triệu USD, tăng 18,2 % về lượng, 27,2% về giá trị xuất khẩu
so với năm 2006.
Dự kiến năm 2010 xuất khẩu điều sẽ đạt 1,12 tỷ USD với tổng sản
lượng 400.000 tấn tiếp tục dẫn đầu thế giới. chiếm 36% tấn nhân điều
giao dịch.

9

Bảng 2: Sản lượng và giá trị xuất khẩu nhân điều Việt Nam qua các năm

liệu giữa các quốc gia rất quyết liệt khiến giá điều thô tăng lên mực cao
mức giá điều thô bị đẩy tăng 30% so với cùng kỳ năm 2009 (khoảng
1.000USD/tấn).Cùng với việc doanh nghiệp thiếu vốn nghiêm trọng
khiến từ giờ đến cuối năm các doanh nghiệp Việt Nam sẽ thiếu hụt điều
khô nghiêm trọng ước tính khoảng 150.000 tấn điều thô các loại, ảnh
hưởng lớn đến mục tiêu xuất khẩu đề ra.

2.3.2 Thực trạng xuất khẩu điều sang thị trường Hoa Kỳ
Năm 2008, Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ trở thành nước cung cấp
điều lớn nhất sang thị trường Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung.
Nhân điều của Việt Nam được đối tác phía Mỹ đánh giá có chất lượng
tốt nhất. Theo Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas), xuất khẩu hạt điều của
Việt Nam vào Hoa Kỳ chiếm 33,29% tổng kim ngạch nhập khẩu hạt
điều của quốc gia này.

10

Theo thống kê của Bộ công thương Việt Nam, tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu điều của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2008 đạt 25,12% với kim
ngạch 249,57 triệu USD. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế
nên nhu cầu điều giảm xuống khiến mức mức độ tăng trưởng lượng điều
xuất khẩu sang Mỹ giảm so với độ tăng trưởng của năm 2007. Hiện nay
Hoa Kỳ vẫn là thị trường nhập khẩu hạt điều chủ yếu của Việt Nam.
Bốn tháng đầu năm 2010, xuất khẩu hạt điều Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt
71 triệu USD, chiếm 29,8% trong tổng số điều xuất khẩu.
( Theo dõi bảng phụ lục số 1 và 2)
Tuy vậy, xuất khẩu điều của Việt Nam sang Mỹ vẫn vấp phải những hạn
chế sau:

2.3.2.1 Về vấn đề xuất phát từ nội bộ ngành:


11

Thứ hai: Về chất lượng chế biến sản phẩm, nhân điều Việt Nam còn dính nhiều
tạp chất. Mặc dù tỷ lệ tạp chất có trong sản phẩm nhân điều Việt Nam
thấp hơn nhiều so với các nước khác nhưng gần đây đã phát hiện ra
mảnh kim loại, các vụn sạn và cả tóc; vấn đề nữa là sâu bệnh trên hạt,
các chấm sâu làm hạt điều xấu và giảm chất lượng hàng rất nhiều. Bên
cạnh đó, Hội nghị ngành điều do Hiệp hội các ngành công nghiệp thực
phẩm (AFI) tổ chức 2007 tại Mỹ nhận định: Việt Nam nhập nguyên liệu
từ nhiều nguồn và cách chế biến khác nhau, do đó mùi vị, màu sắc
không đồng nhất và sử dụng biện pháp bảo quản bằng khí CO2 thay vì
Nitơ như hiện nay.
Số lượng nhà máy đạt tiêu chuẩn còn rất ít. Một số mới chỉ đạt tiêu
chuẩn Việt Nam đối với hạt điều cho nguyên liệu đầu vào chứ chưa phù
hợp với thành phẩm đầu ra theo tiêu chuẩn quốc tế. Chưa kể, trên thực tế
nhiều doanh nghiệp hiện nay vẫn chưa áp dụng tiêu chuẩn VN cho chế
biến hạt điều một cách chưa thật sự nghiêm túc. Nếu những sự việc này
còn tiếp diễn chăc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến vị thí của nhân
điều Việt Nam trên đất Mỹ.
Thứ ba: Một số doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu điều sang Mỹ thời gian
gần đây còn mất uy tín nghiêm trọng. Trong văn bản của Hiệp hội Công
nghiệp thực phẩm Mỹ (AFI), họ không kiện, mà chỉ thông báo tên DN
Việt Nam chậm giao hàng làm các doanh nghiệp Mỹ gặp rắc rối. Hợp
đồng đã ký từ năm trước, nhưng khi giá điều lên cao, các doanh nghiệp
điều Việt Nam đã không giao hàng mà đem bán đi nơi khác lấy giá cao.
Sau đó giá nguyên liệu điều thô tiếp tục tăng cao, các doanh nghiệp
không đủ sức mua để trả nợ. Doanh nghiệp chế biến điều còn tìm cách
dùng keo 502 để dán hạt điều vỡ. Lô hàng đưa ra nước ngoài, bị nhà
nhập khẩu từ chối nhận hàng, hàng bỏ tại cảng, mất mát, hao hụt

sản…Vì chạy theo tiền lương trước mắt nhiều người lao động tại các
nhà máy thường bỏ về làm cho các cơ sở tư nhân. Các nhà máy càng
ngày càng thiếu vắng lao động.
Xuất hiện mâu thuẫn giữa giá bán ra của cơ sở tư nhân và sức ép tăng
cao doanh số của các nhà máy. Nhờ đầu ra là các nhà buôn và các nhà
máy đang cần tăng doanh số, các cơ sở tư nhân không bao giờ phải lo
lắng về đầu ra. Hiện giờ, không có một nhà máy điều nào ở Việt Nam có
số lượng 2.000 lao động tập trung, chủ yếu chỉ là những nhà máy có từ
100 đến 500 lao động tập trung. Với số lao động đó, chỉ có thể chế biến
5 -7 tấn/ngày, để xuất khẩu 1 công điều loại WW320, những nhà máy đó
cần phải làm liên tục khoảng 50 – 80 ngày. Nhưng trên thực tế thì
khoảng vài chục doanh nghiệp hiện nay vẫn xuất khoảng 10 -20 công
WW320/tháng. Để có được số hàng trên họ phải mua lại từ những cơ sở
nhỏ. Phải chấp nhận với những mức giá đắt rẻ khác nhau vì hợp đồng
đầu ra đã phải ký trước khi làm thủ tục vay vốn theo quy định của Ngân
hàng. Vậy là thêm một điều kiện nữa để cho cơ sở nhỏ tạo ra áp lực lên
các nhà máy lớn.
Thứ năm: Về sức ép lao động và an toàn vệ sinh thực phẩm. Các nhà máy không
chỉ mua lại hàng thành phẩm từ những cơ sở nhỏ, cũng vẫn do động lực
tăng nhanh doanh thu, doanh số, sản lượng , do các cơ sở nhỏ thiếu lao
động, ngại đầu tư thiết bị cơ giới hóa và tự động hóa vì chi phí lớn, các
nhà máy phải đưa hàng, gồm cả hàng tách nhân và hàng bóc vỏ lụa từ
trong khuôn viên nhà máy– nơi có đủ điều kiện kiểm soát an toàn vệ
sinh thực phẩm ra ngoài để làm.
Đã và đang xảy ra cuộc chiến nội bộ giữa các nhà máy nhằm chiếm lĩnh
thị phần lao động từ các cơ sở nhỏ chế biến điều xuất khẩu. Hàng hóa
được giao đến mọi nơi, giao cho mọi loại đối tượng ở các cơ sở nhỏ.
Việc chế biến một cách manh mún hoặc chế biến ở những nơi tập trung
đông người tiềm ẩn vô vàn những nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực
phẩm. Những hoạt động ngoài luồng và không thể kiểm soát được này

được cải thiện khiến bà con chặt bỏ điều chuyển sang trồng các loại cây
trồng mới
Bên cạnh đó, giá thu mua điều tại vườn cũng rất thấp, theo Vinacas ước
tính chỉ khoảng 6.800-7.000 đồng/kg, giảm 3.000- 5.000 đồng/kg so với
thời điểm đầu năm 2009. Vì vậy, ở một số nơi, người dân ồ ạt chặt bỏ
điều để trồng cây khác khiến diện tích điều sụt giảm đáng kể.
Cùng với đó các nước châu Phi đang có kế hoạch chế biến hạt điều để
xuất khẩu thay vì xuất khẩu thô như lâu nay. Điều này ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nguồn cung điều thô trong tương lai khi mà Việt Nam
nhập khá nhiều từ các nước Châu Phi.
2.3.2.2 Vấn đề xuất phát từ khách quan:
Thứ nhất: Do đặc thù kinh doanh, thời gian thanh toán tiền hàng xuất khẩu từ
phía đối tác Mỹ rất chậm, khiến doanh nghiệp không đủ điều kiện đáp
ứng đủ thủ tục để được hoàn thuế. Việc chậm hoàn thuế giá trị gia tăng
khiến ngành điều mất đi cơ hội tái sinh nguồn vốn. Do bán hàng chậm
phải chịu lãi suất kéo dài, áp lực trả nợ ngân hàng cũng rất lớn

14

Thứ hai: Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thiếu vốn nghiêm trọng để mua
nguyên liệu.Vào đầu vụ, doanh nghiệp chế biến điều phải vay vốn thu
mua nguyên liệu để dự trữ sản xuất trong năm. Hiện nay rất nhiều doanh
nghiệp nhỏ ngành điều đang lâm vào tình cảnh thiếu nguyên liệu sản
xuất. Ngoại trừ các doanh nghiệp thuộc tốp 20 doanh nghiệp lớn nhất,
các doanh nghiệp nhỏ hầu như không vay được vốn tạm trữ nguyên liệu.
Tình hình sẽ còn nghiêm trọng hơn vào các quý 4-2010 và quý 1-2011.
Nhu cầu vốn ngân hàng của ngành này khá lớn, theo tính toán số tiền
cần để mua hết lượng điều trong nước và nhập khẩu đủ sản xuất vào
khoảng 6.800 tỉ đồng.


kinh tế lợ nhuận khác. Đó là do chúng ta chưa bảo đảm quyền lợi của
người nông dân. Giá điều thô mà các bà con bán cho nhà lái thu mua là

15

rất thấp. Lợi nhuận thu được không cao trong khi đó những chi phí, giá
cả các mặt hàng khác không ngừng một tăng khiến bà con không thực sự
chú tâm vào cây điều.
- Việc tồn tại nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ quá nhiều hiện nay, cũng
như chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm còn tồn tại nhiều bất ngành
còn do thiếu sự vào cuộc của các cấp các ngành trung ương. Mẫu thuẫn
nảy sinh của các doanh nghiệp ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động
xuất khẩu của ngành điều. Điều này sẽ còn tiếp diễn nếu các cơ quan bộ
ngành không có biện pháp tích cực hạn chế các cơ sở sản xuất nhỏ sẽ
dẫn đến làn tăng nguy cơ của ngành điều Việt Nam. Theo nhận định của
một số chuyên gia là: nếu ngành điều Việt Nam có đầy đủ các giấy phép
chứng nhận chất lượng sản phẩm sẽ giúp giá trị của nhân điều Việt Nam
nâng cao thêm 20%- 40% giá trị ban đầu. Thực trạng chất lượng vệ sinh
an toàn thực phẩm hiện nay do không chỉ đến từ phía doanh nghiệp mà
còn xuất phát từ hình thức chế biến hiện nay khi mà một khối lượng lớn
nhân điều thiếu trong hợp đồng xuất khẩu nhân điều được nhập từ các
cơ sở nhỏ. Chất lượng không đồng nhất do cơ sở, điều kiện chế biến
không đạt chuẩn sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam hiện nay.
2.3.3.2 Về vấn đề xuất phát từ khách quan
Hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập với thế giới ngày càng trở
lên sâu rộng khiến cho không riêng gì ngành điều mà cả nền kinh tế
Việt Nam cũng đang bắt đầu phụ thuộc vào quy luật cung cầu của thị
trường thế giới. Không chỉ cung cầu, mức giá điều đang diễn ra nhiều
thay đổi mà các ngành gạo, cà phê, tiêu cũng đã từng phải trả giá cho

Nam trong tương lai.
- Trong năm tới, theo dự báo của hiệp hội điều Việt Nam, các doanh
nghiệp sẽ tiến hành đầu tư, phát triển nhiều sản phẩm từ hạt điều thô
như cồn khô,nhựa làm từ vỏ điều, thực phẩm… sẽ gia tăng đáng kể. Góp
phần thúc đẩy đưa ngành điều phát triển.
- Cùng với đó số tiền đâu tư cho ngành điều đang được thông qua ước
tính lên đến 1.000 tỉ đồng để phát triển vùng nguyên liệu, hiện đại hóa
và đầu tư nghiên cứu những sản phẩm mới. Đây là một phần trong
Chiến lược phát triển ngành điều Việt Nam giai đoạn 2011-2020 của
Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas) xây dựng. Số tiền này không những
mở rộng diện tích trồng điều mà còn giúp các doanh nghiệp đào tạo
công nhân có tay nghề, nâng cao công nghệ chế biến và đẩy mạnh xúc
tiến thương mại trong và ngoài nước.
- Giữ vững vị trí số 1 về xuất khẩu nhân điều trong nhiều năm, hiện nay
thương hiệu điều Việt Nam đang từng bước được khẳng định. Từ đó tạo
điều kiện phát triển, nâng cao lượng hàng xuất khẩu cũng như giá trị
trong những năm tới.
- Ngày 20/3/2010 tại thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, sàn giao dịch
điều đầu tiên ở Việt Nam được thành lập, đã thu hút hàng trăm khách
hàng trong và ngoài nước đến tìm hiểu thông tin và đăng ký giao dịch về
mặt hàng điều. Việc khai trương sàn giao dịch điện tử sẽ góp phần đưa
ngành điều Việt Nam chiếm lĩnh vị trí số 1 trên thị trường thế giới và
phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trong năm 2010.
Với thị trường Mỹ
Được đối tác Mỹ nhận xét điều Việt Nam thơm ngon và chất lượng nhất
thế giới. Với giá trị dinh dưỡng cao và đặc biệt tốt cho những người mắc
bệnh tim mạch, tiểu đường, người béo phì ăn kiêng. Hạt điều không chỉ
chứa một lượng đáng kể các khoáng chất, magie, photpho, kẽm, đồng và
mangan có lợi cho sức khỏe nói chung và chế độ ăn lành mạnh mà còn
được sử dụng phổ biến trong các liệu pháp ăn kiêng và giảm cân. Đây là

giới chính là một thách thức đến ngành điều của Việt Nam hiện nay.
Thứ ba:
Những thách thức liên quan đến chi phí sản xuất và vốn kinh doanh.
Đây là một trong những vấn đề nổi cộm của ngành thời gian gân đây.
Hiện nay, ngành điều đang đối mặt với tình trạng thiếu lao động phổ
thông trầm trọng cùng với đó chi phí sản xuất không ngừng tăng cao làm
ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu cũng như giá thành điều xuất khẩu
của Việt Nam. Việc thời gian gần đây, khi mức giá không chỉ nhân điều
mà điều thô đang được đẩy lên khá cao khiến các doanh nghiệp Việt
phải bỏ vốn mua điều dự trữ. Thế nhưng do thiếu vốn, trong khi vay
ngân hàng, các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nguồn nguyên liệu chế biến. Những thách thức này
cần phải được xem trọng và tập trung giải quyết không nhữn từ phía
doanh nghiệp mà càn có sự tham gia giúp đỡ các các ban ngành cơ quan
chức năng.
Thứ tư:
Vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm. Việc hiện nay các doanh nghiệp Việt
Nam thường vi phạm về vệ sinh thực phẩm như lẫn nhiều tạp chất trong sản
phẩm, dùng keo 502 để gắn vỏ điều đã ảnh hưởng đến chữ tín của các doanh
nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó sản phẩm không đồng nhất và rất ít các
doanh các cơ sở, doanh nghiệp có hệ thống tiêu chuẩn chất lượng. Trong khi
Việt Nam có rất nhiều cơ sở nhỏ lẻ, sản xuất chế biến không đồng bộ ảnh
hưởng nhiều đến mặt bằng chung của chất lượng sản phẩm. Làm thế nào để
hệ thống tiêu chuẩn hiện nay cần phải được áp dụng rộng rãi, sự đồng bộ

18
chất lượng trong sản phẩm chính là những thách thức cần phải có sự tham
gia của các cơ quan chức năng hiện nay.

Với vị trí xuất khẩu nhân điều số một sang Mỹ cũng như trên thế giới, Việt Nam

nghiệp trong việc phổ biến kỹ thuật canh tác để thâm canh, tăng năng
suất. Giải quyết mối quan hệ này sẽ tạo cơ sở phát triển bền vững cho
ngành điều Việt Nam cũng như giảm thiểu giá thành sản xuất đảm bảo lợi
ích phù hợp giữa các bên thúc đẩy ngành phát triển.
Thứ ba:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Hiệp hội điều Việt Nam
(Vinacas) không những tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra chất
lượng điều của nông dân, thương lái và các doanh nghiệp sản xuất chế
biến điều, an toàn lao động, vệ sinh môi trường…mà còn cần hướng dẫn
cho các cơ sở chế biến điều trên cả nước mà còn thực hiện thực hiện
những tiêu chí về an toàn vệ sinh thực phẩm, để có thể nhận cấp giấy

19
chứng nhận quốc gia về an toàn vệ sinh thực phẩm cho những cơ sở này.
Việc làm này sẽ đảm bảo chất lượng sản phẩm nhân điều cho các doanh
nghiệp Việt Nam xuất khẩu điều vào Mỹ trong thời gian tới, trong đó, có
tiêu chí về an toàn vệ sinh thực phẩm. Đây cũng là yêu cầu của phía Mỹ
trong thời gian tới. Đảm bảo chất lượng khi họ thực hiện kiểm tra các sản
phẩm điều của Việt Nam.
3.3 Từ phía doanh nghiệp
Thứ nhất:
Các doanh nghiệp Việt Nam không những phải phát triển thương hiệu mà
còn cần từng bước đầu tư đổi mới, nâng cao chất lượng chế biến giữ chữ tín
trong kinh doanh để nâng cao thị phần điều trên thị trường Mỹ- một thị
trường tiêu thụ lớn trên thế giới.Đây là việc làm cơ bản cần tiến hành trong
các doanh nghiệp Việt Nam trước thực tế bất cập. Thị trường Mỹ-thị trường
nươc phát triển- đòi hỏi rất cao trong chất lượng sản phẩm với hệ thống
giám sat, quản lý chặt chẽ từ phía chính phủ. Việc phát triển thương hiệu,
nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ làm tăng vị thế, nâng cao
giá thành sản phẩm cho nhân điều Việt Nam.

nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay, ngành điều Việt Nam đang đứng trước rất
nhiều cơ hội cũng như thách thức, đỏi hỏi cần phải có những bước đi tích cực để
có thể tiếp tục giữ vững vị trí số một của mình trên thị trường thế giới. Những
khó khăn, thách thức khách quan cũng như trong nội bộ ngành như: vấn đề về
nguồn cung điều thô, chất lượng sản phẩm hay thương hiệu… cần phải được nhà
nước, chính phủ, cơ quan chức năng và các doanh nghiệp tập trung giải quyết,
nếu không chăc chắn thị phần điều của Việt Nam sớm muộn sẽ bị các nước như
Ấn Độ, Brazil rút ngắn.

Hiện nay Mỹ đã và đang là đối tác quan trọng, là thị phần xuất khẩu chủ yếu
của ngành điều Việt Nam nói riêng và các ngành hàng nông sản khác nói chung.
Để giữ vững thị phần cũng như đẩy mạnh xuất khẩu nhân điều sang Mỹ cần đòi
hỏi rất cao trong chất lượng sản phẩm với hệ thống giám sát, quản lý chặt chẽ từ
phía chính phủ cùng với phát triển thương hiệu, nâng cao chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm. Điều này sẽ làm tăng vị thế, nâng cao giá thành sản phẩm cho
nhân điều Việt Nam. Khi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008
qua đi, thị trường Mỹ đang dần ổn định trở lại, chắc chắn trong tương lai xuất
khẩu nhân điều của Việt Nam sang Mỹ nói riêng và thế giới nói chung sẽ tiếp
tục phát huy thế mạnh của mình, giữ vững vị trí số một trên thị trường thế giới.

21
Bảng phụ lục Bảng phụ lục 1: Tham khảo thị trường xuất khẩu hạt điều trong tháng 9 và 9
tháng năm 2009
Nguồn: Vinacas- hiệp hội điều Việt Nam

Na Uy 66 348 559 2.939
Pakixtan 69 402 491 2.583
Malaixia 16 95 428 1.846
Hy Lạp 15 99 380 2.108
Ucraina 60 292 366 1.470
Bỉ 16 106 287 1.642
Ba Lan 0 0 222 1.261
Thuỵ Sĩ 0 0 48 218
Ixraen 0 0 31 171

22
Bảng phụ lục 2:
Thị trường xuất khẩu hạt điều của Việt nam 4 tháng đầu năm 2010
ĐVT: USD
Nguồn: Vinacas- hiệp hội điều Việt Nam

Thị trườngTháng 4

4 tháng
% tăng,
giảm
T4/2010 so
với T3/2010


491.030 1.234.796 +326,58 -1,12
Đài Loan 360.877 1.473.562 +155,92 +24,22
Singapore 278.881 425.031 +280,72 +1,26
Malaysia 266.697 951.048 -24,37 +55,22
Nhật Bản 229.450 1.193.167 -63,66 +60,93
Hồng Kông

214.006 2.105.598 -57,27 +67,49
Nauy 103.250 1.171.922 -68,02 -13,98
Ucraina 101.151 936.412 +7,24 +213,18
Hy Lạp 94.901 410.531 -3,16 -42,25
Pakistan 0 804.532 * -26,32
Thuỵ Sĩ 0 174.860 * +26,48 23

MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
I. Một số lý luận về hoạt động xuất khẩu 3
1 Khái niệm về xuất khẩu 3
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 3
II. Thực trạng xuất khẩu điều vào thị trường Hoa Kỳ 4
2.1 Đặc điểm ngành công nghiệp chế biến điều xuất khẩu ở Việt Nam 4
2.1.1 Về nguồn cung điều xuất khẩu Việt Nam 4
2.1.2 Công nghệ chế biến điều 5
2.1.3 Lợi thế sản xuất và xuất khẩu điều của Việt Nam 5
2.1.4 Các nhà máy chế biến điều ở Việt Nam và tiêu chuẩn áp dụng khi
xuất khẩu 6
2.1.5 Những lợi ích mang lại từ việc xuất khẩu điều với nền kinh tế quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status