Lời nói đầu
**** *** *** *** *** *** ***
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước Việt
Nam trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay. Đây là một
trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước. Để hoàn thành được nhiệm vụ đó cũng như giúp Việt Nam bắt kịp
được với tiến trình toàn cầu hoá và hội nhập, chúng ta cần phải tăng cường mở
rộng thị trường, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và tiếp tục phát huy các
mặt hàng thế mạnh.
Hiện nay Mỹ đã và đang là đối tác quan trọng, một thị trường lớn có khả
năng tiêu thụ nhiều hàng hoá, sản phẩm của Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam cũng chính là những mặt hàng mà thị trường này có nhu
cầu nhập khẩu hàng năm với khối lượng như giầy dép, thuỷ hải sản, nông sản…
Trong đó điều là một trong những mặt hàng nông sản quan trọng nhất được bán
rộng rãi, chiếm thị phần cao trên thị trường Mỹ. Vì vậy đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hoá nói chung và đẩy mạnh xuất khẩu điều nói riêng vào thị trường Mỹ là
một việc làm cần thiết đối với nước ta hiện nay. Tuy nhiên để làm được điều này
Việt Nam cần tập trung nghiên cứu tìm cách giải quyết các vướng mắc, cản trở
hoạt động xuất khẩu sang Mỹ và tìm ra các giải pháp căn bản để đẩy mạnh xuất
khẩu nhân điều.
"Xuất khẩu điều sang thị trường Mỹ" làm đề tài cho môn đề án môn học
của mình.
Bố cục của đề tài được chia làm ba phần:
I: Một số lý luận về hoạt động xuất khẩu
II: Thực trạng xuất khẩu điều vào thị trường Hoa Kỳ
III: Đề xuất thúc đẩy phát triển ngành điều và đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ
1
Xuất khẩu điều sang thị trường Mỹ
I. Một số lý luận về hoạt động xuất khẩu
1 Khái niệm về xuất khẩu
1.1 Khái niệm
nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và
viện trợ của nước ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay
thấy được khả năng sản xuất và xuất khẩu – nguồn vốn duy nhất để trả
nợ thành hiện thực.
2.3. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH
Thứ nhất: Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành khác cùng có cơ hội phát triển.
Điều này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất
khẩu, các ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện
phát triển.
2
Thứ hai: Tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, mở
rộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia. Nó cho phép một quốc gia
có rthể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lương lớn hơn nhiều lần giới
hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng mà
họ không có khả năng sản xuất được.
Thứ ba: Góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của
từng quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển cả về
chiều rộng và chiều sâu.
2.4. Xuất khẩu góp phần giải quyết việc làm cho xã hội và cải thiện đời sống
nhân dân
Đối với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông
qua việc sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để
nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu ngay càng đa dạng và phong
phú của nhân dân.
2.5. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác động
qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững
chắc để xây dựng các mối quan hề kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo
theo các mối quan hệ khác phát triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc
Sản lượng (tấn) 400.000-450.000 293.500
Mục tiêu xuất khẩu 180.000 177.200
2 tháng đầu
năm 2010
2 tháng đầu
năm 2009
Khối lượng xuất khẩu (tấn) 19.900 20.800
Kim ngạch xuất khẩu (triệu
USD)
108 94.4
Theo ước tính của Vinacas (http://www.vinacas.com.vn)
Cũng theo Vinacas, điều thô nhập từ các nước châu Phi, trong 5 năm
(từ 2006 đến 2010) ngành điều VN nhập gần 1 triệu tấn điều thô từ các
nước châu Phi như Bờ Biển Ngà (trên 50%), Guinea Bissau,
Mozambique và một số nước châu Á như Indonesia, Campuchia.
2.1.2 Công nghệ chế biến điều
Thời gian đầu , công nghệ chế biến hạt điều trong nước kết hợp thủ
công và cơ giới, trong đó hai công đoạn quan trọng là cắt tách vỏ hạt và
bóc vỏ lụa nhân vẫn dựa vào thủ công, việc nhập khẩu máy móc, công
nghệ nước ngoài là rất tốn kém chi phí lên đến 16 đến 20 tỷ đồng nhập
khẩu dây chuyền cắt, tách hạt tự động từ nước ngoài. Hiện nay Việt
Nam đã có công nghệ sản xuất điều của riêng mình. Thay vì nhập khẩu
dây chuyền ngoài thì nay doanh nghiệp chỉ mất khoảng 5 tỷ đồng nhờ
công nghệ trong nước. Điều này tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất
rõ rệt trong sản xuất chế viến điều cho các doanh nghiệp Việt Nam. Bên
cạnh đó dây chuyền chế biến hạt điều trong nước sản xuất giúp giảm
được khoảng 50% - 60% lao động/mỗi dây chuyền. Các khâu trong dây
chuyền của một nhà máy chế biến điều đều được tự động hóa, và đều
được chế tạo trong nước.
2.1.3 Lợi thế sản xuất và xuất khẩu điều của Việt Nam
khẩu từ 5 triệu USD trở lên.
2.1.5 Những lợi ích mang lại từ việc xuất khẩu điều với nền kinh tế quốc dân
Với việc thu hút số lượng lớn nhân công, tạo việc làm, tăng thu ngoại tệ, xuất
khẩu điều cũng như với việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản khác của Việt
Nam mang lại lợi ích lớn đến nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất: Giải quyết việc làm tạo, thu nhập cho người lao động. Bên cạnh đó
cây điều được trồng chủ yếu ở các địa bàn khó khăn, đã góp phần hỗ
trợ tích cực cho cải thiện đời sống nông dân ở các vùng nông thôn.
Giúp xóa đói giảm nghèo cho người dân.
Thứ hai: Mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, trước tình trạng khan hiếm
ngoại tệ như hiện nay. Năm 2009 Việt Nam xuất khẩu nhân điều đạt
kim ngạch 850 triệu USD. Dự kiến đến hết năm 2010 xuất khẩu điều
sẽ đạt 1,12 tỷ USD tiếp tục dẫn đầu thế giới.
Thứ ba: Đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước. Việc xuất khẩu nhân điều giữ
vị trí số một, với nguồn thu ngoại tệ lơn đồng nghĩa với việc đóng góp
vào ngân sách nhà nước cũng tăng cao.
Thứ tư: Việc phát triển của ngành điều tạo ra thúc đẩy phát triển cho các lĩnh
vực khác trong nền kinh tế quốc dân, như ngân hàng, tín dụng, bảo
hiểm…
5
2.2 Đặc điểm của thị trường Hoa Kỳ
2.2.1 Đặc điểm cơ bản của thị trường Mỹ
Thứ nhất: Mỹ là một thị trường khổng lồ. Dung lượng thị trường Mỹ rất lớn do
Mỹ có dân số đông, thu nhập bình quân đầu người cao. Sức mua của
người Mỹ lớn vì họ chi tiêu mua sắm nhiều. Theo thống kê, trong 15
năm qua, tỷ lệ tiết kiệm của người Mỹ đã từ 6% giảm xuống còn 1%.
Hàng hoá mà người Mỹ tiêu dùng hầu hết được nhập khẩu từ bên ngoài.
Có thể đánh giá rằng Mỹ là một xã hội tiêu thụ.
Thứ hai: Cơ cấu thị trường và mặt hàng tiêu thụ ở Mỹ rất đa dạng, nhu cầu hàng
hoá ở từng vùng không giống nhau. Hàng hoá dù có chất lượng cao hay
nhất thế giới. Xuất khẩu nông sản vào thị trường Mỹ là một thế mạnh
của Việt Nam trong hơn chục năm qua nhưng điều đó dường như đã
thay đổi khi thị trường nước này ngày càng có nhiều quy định, đòi hỏi
6
nhà xuất khẩu phải vượt qua. Ví dụ như Mỹ áp dụng đạo luật Lacey
trong xuất khẩu đồ gỗ, các quy định của Farm Bill 2008 của Mỹ, hay áp
dụng phương pháp “zeroing” (quy về bằng không) khi tính toán biên độ
phá giá…Điều này khiến cho 5 tháng đầu năm 2010 Việt Nam lại trở
thành nước nhập siêu nông sản từ Mỹ, lần đầu tiên trong 5 năm qua.
Để giảm thiểu bớt rào cản chỉ khi phía Mỹ đồng ý cho Việt Nam
hưởng Quy chế hưởng Hệ thống thuế quan phổ cập (GSP) và công nhận
Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường thì khi đó xuất khẩu nông
sản vào Mỹ mới thuận lợi.
Thứ hai:
Mỹ là một thị trường không nhưng có những quy định khắt khe mà còn
có sự cạnh tranh gay gắt. Theo thống kê, đối thủ chính của Việt Nam
trong ngành hàng cà phê hiện là Indonesia và Ấn Độ. Hạt tiêu thì có
Indonesia, Ấn Độ, Malaysia; cao su là Thái Lan, lndonesia, Malaysia;
hải sản là Thái Lan, Philippines. Riêng về hai ngành hàng có kim ngạch
nhập khẩu cao nhất vào Mỹ hiện nay là may mặc và giày dép thì các đối
thủ chính của Việt Nam là Trung Quốc, Bangladesh, Thái Lan,
Philippines cùng với một số
nước thuộc vùng Nam Mỹ, châu Âu.
Thứ ba:
Nhưng khó khăn về vấn đề luật lệ, các quy tắc thương mại khi làm ăn
với Mỹ. Luật pháp chi phối môi trường kinh doanh ở Mỹ, và các doanh
nghiệp thường có thói quen kiện tụng, đưa nhau ra tòa để giải quyết các
tranh chấp thương mại. Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam phải thật
cẩn trọng quan hệ làm ăn. Việc sử dụng luật sư tư vấn để hạn chế những
tranh chấp hay xác định rõ các điều khoản ký trong hợp đồng sẽ giúp
khẩu hạt nhân điều sang các thị trường thế giới tăng mạnh trong 4 tháng
đầu 2010 so với cùng kì năm ngoái. Trong đó có 4 thị trường tăng
trưởng trên 100% là: Nga, Ucraina, Canada, Thái Lan. Ngược lại, cũng
có 5 thị trường sụt giảm kim ngạch so cùng kỳ: Hy Lạp, Pakistan, Trung
quốc, Nauy ,Philippines. (bảng phụ lục số 1)
Hiện nay, giá điều xuất khẩu không chỉ Việt Nam mà các nước xuất
khẩu khác thời gian gần đây tăng mạnh. Đầu năm 2010, thao thống kê
của hiệp hội điều Việt Nam, giá điều trung bình đạt 5.213 USD/tấn, tăng
780 USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Trong quý I, các doanh nghiệp
chế biến điều đã xuất khẩu được 30.602 tấn, đạt 159,53 triệu USD, giảm
3,3% về lượng nhưng vẫn tăng 13,6% về kim ngạch.
Tuy nhiên nguồn nguyên liệu hiện nay đang thiếu trầm trọng:
Trong nước do nắng nóng kéo dài đã ảnh hưởng đến quá trình sinh
trưởng, ra hoa và tạo quả của cây điều; diện tích điều giảm nhanh do
tình trạng chặt bỏ cây điều chuyển sang trồng các loại cây khác như cao
su, sắn. Bên cạnh đó do sản lượng điều trên thế giới giảm mạnh khoảng
20%. Chính thực trạng như vậy dẫn đến việc cạnh tranh thu mua nguyên
liệu giữa các quốc gia rất quyết liệt khiến giá điều thô tăng lên mực cao
mức giá điều thô bị đẩy tăng 30% so với cùng kỳ năm 2009 (khoảng
1.000USD/tấn).Cùng với việc doanh nghiệp thiếu vốn nghiêm trọng
khiến từ giờ đến cuối năm các doanh nghiệp Việt Nam sẽ thiếu hụt điều
khô nghiêm trọng ước tính khoảng 150.000 tấn điều thô các loại, ảnh
hưởng lớn đến mục tiêu xuất khẩu đề ra.
2.3.2 Thực trạng xuất khẩu điều sang thị trường Hoa Kỳ
Năm 2008, Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ trở thành nước cung cấp
điều lớn nhất sang thị trường Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung.
Nhân điều của Việt Nam được đối tác phía Mỹ đánh giá có chất lượng
tốt nhất. Theo Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas), xuất khẩu hạt điều của
Việt Nam vào Hoa Kỳ chiếm 33,29% tổng kim ngạch nhập khẩu hạt