TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
Môn học: Quản Trị Kinh Doanh Quốc tế
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ CÁC ĐỀ
XUẤT PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM XI MĂNG VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG MYANMAR
INCLUDEPICTURE " />r.svg/125px-Flag_of_Myanmar.svg.png" \* MERGEFORMATINET
GVHD : Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
Lớp : VB2K14NT2
Nhóm : Nhóm 07
1. Lương Trung Tín
2. Lưu Thị Đoan Trang
3. Nguyễn Thị Kim Thúy
4. Trần Thanh Thảo
5. Nguyễn Thị Anh Thư
6. Nguyễn Thị Hải Yến
Tp Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 06 năm 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
Môn học: Quản Trị Kinh Doanh Quốc tế
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ CÁC ĐỀ
XUẤT PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM XI MĂNG VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG MYANMAR
INCLUDEPICTURE " />r.svg/125px-Flag_of_Myanmar.svg.png" \* MERGEFORMATINET
GVHD : Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
Lớp : VB2K14NT2
Nhóm : Nhóm 07
1. Lương Trung Tín
2. Lưu Thị Đoan Trang
3.1 Những thách thức khi kinh doanh xi măng tại thị trường Myanmar
3.2 Các lợi thế của Việt Nam
3.3 Đề xuất phát triển kinh doanh quốc tế sản phẩm xi măng Việt Nam tại Myanmar
KẾT LUẬN
Trang 3
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lời nói đầu
Năm 2012, Ngành xi măng trải qua hơn 06 tháng với đầy biến động. Có người bi quan nói:
chưa tìm thấy tia sáng ở cuối đường hầm. Hỏi đâu cũng thấy vướng, thấy khó. Từ khi thành lập
ngành, chưa bao giờ như lúc này, chúng ta phải đối mặt với những thách thức thực sự. Hơn lúc
nào hết, những người có trách nhiệm ở từng cấp ngành đang vận dụng hết các giải pháp để tháo
gỡ từng phần những những khó khăn hiện hữu không dễ vượt qua. Theo hiệp hội xi măng, giải
pháp quan trọng nhất của toàn ngành là hợp tác duy trì sản xuất và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm,
bao gồm tiêu thụ sản phẩm trong nước và hợp tác xuất khẩu clinker – xi măng. Theo đó,
Myanmar nổi lên là 1 thị trường tiềm năng để xuất khẩu. Các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều
thuận lợi khi xâm nhập vào thị trường Myanmar do hai nước có mối quan hệ chính trị tốt đẹp
và Myanmar đang chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế định
hướng thị trường, có chính sách khuyến khích khu vực tư nhân phát triển ngoại thương và hỗ
trợ trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong giới hạn của bài tiểu luận này, chúng tôi
sẽ đi chi tiết hơn về nhũng thuận lợi và khó khăn mà các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang
phải đối mặt.
Trang 4
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH
DOANH MYANMAR
1.1 Sơ lược về đất nước Myanmar:
Myanma còn có các tên cũ Miến Điện hay Diến Điện . Tên chính thức : Cộng hòa Liên
bang Myanma
dỡ bỏ cấm vận và cải thiện quan hệ nếu Myanmar đáp ứng yêu cầu của Mỹ, có những tiến bộ
thực chất.
Tuy bị sức ép mạnh của chính quyền Mỹ và các nước phương Tây, nhưng quan hệ của
Myanmar với các tổ chức phi chính phủ hoặc có tính nhân dân của các nước phương Tây, kể cả
Mỹ, Anh vẫn được duy trì. Các nước này vẫn tiếp tục giúp đỡ Myanmar các dự án xây dựng
trường học, giúp đào tạo y tế, dân sinh.
Sau nhiều thập niên, các nhà lãnh đạo quân sự của Myanmar đã tiến hành hàng loạt cải tổ
trong lộ trình hướng tới dân chủ. Ngày 4/2, quốc hội Myanmar đã nhóm họp để bầu Tổng
thống dân sự đầu tiên. Và ông U Thein Sein đã trở thành Tổng thống dân sự đầu tiên của
Myanmar sau 50 năm dưới quyền kiểm soát của quân đội.
Tại diễn văn nhậm chức, ông Thein Sein tuyên bố với người dân trong nước và thế giới bên
ngoài rằng, Myanmar muốn hội nhập vào sân chơi khoáng đạt và bình đẳng của thế giới trong
trào lưu dân chủ hóa toàn cầu. Một loạt các biện pháp về đối nội và đối ngoại được thực thi với
tốc độ kỷ lục. Nhưng có lẽ chuyển biến quan trọng nhất là Tổng thống Thein Sein mời lãnh tụ
đối lập Aung San Suu Kyi tham dự một cuộc họp ở Naypyidaw, cho phép bà và đảng của bà
tham gia tranh cử. Ông dỡ bỏ nhiều hạn chế đối với truyền thông, trả tự do cho gần 200 tù
chính trị, thảo luận ngừng bắn với các nhóm vũ trang thiểu số Thông điệp của nước Myanmar
mới, càng rõ ràng hơn khi Tổng thống Thein Sein khẳng định ông muốn tìm kiếm sự công nhận
của quốc tế và dỡ bỏ cấm vận của phương Tây.
1.2.2 Kinh tế:
Trang 6
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
Từng là một trong vài nước giàu có nhất trong khu vực hồi nửa thế kỷ trước, sự cai trị hà
khắc của chế độ độc tài quân sự ở Myanamar trong suốt 49 năm qua đã đẩy đất nước này vào
chỗ thụt lùi và cô lập.
Ngày nay, Myanmar thiếu cơ sở hạ tầng cần thiết. Trao đổi hàng hóa chủ yếu qua biên giới
với Thái Lan, và đó cũng là đầu mối xuất khẩu ma tuý lớn nhất, và dọc theo Sông Ayeyarwady.
Đường sắt cũ kỹ và mới ở mức kỹ thuật sơ khai, hiếm khi được sửa chữa từ khi được xây
dựng trong thập niên 1800.
Đường giao thông thường không được trải nhựa, trừ tại các thành phố lớn. Thiếu hụt năng
đậm màu sắc tôn giáo. Tháp Phật có ở khắp mọi nơi, nổi tiếng nhất là tháp vàng Shewedagon ở
thành phố Yangon và một quần thể chùa thờ Phật gồm hơn 200 ngôi chùa ở Bangan
Trang 8
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
Các nhà sư được sùng kính và người dân luôn quỳ trước mặt để tỏ lòng tôn trọng họ. Văn
hóa Myanma được thể hiện rõ rệt nhất tại những ngôi làng nơi các lễ hội địa phương được tổ
chức trong suốt năm, lễ hội quan trọng nhất là lễ chùa. Nhiều làng xã ở Myanma có quy ước,
các phong tục mê tín và những điều cấm kị riêng.
Chùa
Chùa tháp vàng nổi tiếng Shewedagon - Myanmar
Thời kỳ cai trị thuộc địa của Anh cũng đã để lại một số ảnh hưởng phương Tây trong văn
hóa Myanma. Hệ thống giáo dục Myanma theo khuôn mẫu hệ thống giáo dục Anh Quốc. Những
ảnh hưởng kiến trúc thuộc địa là điều dễ nhận thấy nhất tại các thành phố lớn như Yangon.
Nhiều dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Karen ở phía đông nam và người Kachin, người Chin
sống ở phía bắc và tây bắc, theo Thiên chúa giáo nhờ công của các nhà truyền giáo.
Người Myanmar chỉ ăn hai bữa trong ngày vào lúc 9g sáng và 17g, bữa trưa ăn nhẹ. Trên
mâm cơm của người Myanmar thường có rau, tôm, cá. Họ cho rằng nếu thiếu tôm cá thì họ ăn
không ngon miệng. Người Myanmar không ăn cơm bằng đũa, trước mặt mỗi người là một chậu
nước, trước khi ăn họ phải rửa sạch tay, rồi dùng tay không bốc cơm ăn.
Trang 9
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NHU CẦU XI MĂNG TẠI THỊ
TRƯỜNG MYANMAR VÀ TÌNH HÌNH KINH DOANH
NGÀNH XI MĂNG VIỆT NAM
2.1 Tình hình sản xuất và nhu cầu xi măng tại thị trường Myanmar :
Tại Myanmar vấn đề về thị trường và năng lực sản xuất XM chưa có con số thống kê chính
thức nhưng cán cân cung - cầu Xi măng hiện tại là khả năng sản xuất chỉ khai thác được 40 -
50% công suất các nhà máy, mỗi năm cung cấp ra thị trường khoảng 2,5 - 3,5 triệu tấn. Trong
khi nhu cầu thị trường từ 5 - 6 triệu tấn/năm. Số Xi măng thiếu hụt được nhập khẩu từ Thái Lan
gần 379 nghìn tấn, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, lượng xi măng nhập về
cũng giảm khoảng 8,3%.
Năm tài chính 2000-2001, Myanmar làm ra 420 nghìn tấn xi măng và nhập về một khối
lượng trị giá 29,25 triệu USD.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, phục vụ cho các công trình xây dựng cơ bản như cầu,
đường, đập và nhà cửa, chính phủ nước này đang tìm cách cho xây thêm nhiều nhà máy sản
xuất xi măng.
Những năm gần đây kinh tế Myanmar bắt đầu mở cửa và chính phủ cởi mở hơn trong
những chính sách thu hút đầu tư. Tuy nhiên, điều mà các nhà đầu tư lo ngại là theo Luật Đầu tư
thì nhà đầu tư nước ngoài được chuyển lợi nhuận về nước nhưng hiện tại chưa có ngân hàng
nước ngoài nào được phép hoạt động tại Myanmar. BIDV mở được chi nhánh nhưng do bị cấm
vận nên chưa có DN nào thực hiện được hình thức chuyển tiền trực tiếp mà đều phải qua ngân
hàng trung gian hoặc theo hình thức hàng đổi hàng. Mức phí qua ngân hàng trung gian là một
con số không nhỏ, hơn nữa nếu chạm khung cấm vận dẫn đến tài khoản bị phong tỏa là điều
các DN lo ngại.
Trang 11
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
Giá bán XM tại Myanmar tương đối hấp dẫn là một điều không thể phủ nhận. Bộ Công
nghiệp cho biết giá bán XM nhập khẩu là 90 ngàn Kyat (khoảng 112,5 USD/tấn) và giá bán
XM của nhà nước là 60 ngàn Kyat (khoảng 75 USD/tấn). Bộ Xây dựng cho biết giá XM nhập
khẩu CIF tại cảng Yagoon khoảng 85 - 89 USD/tấn, giá bán thực tế khoảng 100 - 110 USD/tấn,
còn Báo Thương mại Myanmar ra ngày 13/6/2011 cho biết XM bán lẻ tại Yagoon là 5.200
Kyat/bao; 130 USD/tấn, XM bán buôn 100 - 110 USD/tấn.
Đối với ngành XM, có thể thấy bức tranh thị trường Myanmar có những thuận lợi nhất định
như: Đã có khung pháp lý cho đầu tư nước ngoài. Chính phủ Myanmar đang có chính sách ưu
tiên cho ngành sản xuất VLXD. Nguyên liệu đá vôi có trữ lượng mỏ lớn, chất lượng tốt, thị
trường gần như mới, khả năng phát triển tốt vì cơ sở hạ tầng thấp, nhu cầu xây dựng trong
tương lai lớn. Các nhà máy XM hiện có đều có công suất nhỏ, công nghệ lạc hậu, giá XM hiện
tại khá cao. Tuy nhiên, khó khăn cũng không hề nhỏ như: Thủ tục đầu tư còn qua nhiều cửa,
phức tạp nên chưa thuận lợi cho các DN. Chưa có ngân hàng nước ngoài nào được phép hoạt
lớn tại chân móng lò nung trên mảnh đất ngã ba sông Cấm, Hải Phòng để đánh dấu sự ra đời
nhà máy xi măng (XM) đầu tiên ở Đông Dương, và đây cũng được xem là nhà máy xi măng
đầu tiên của Việt Nam với nhãn mác Rồng Xanh, Rồng Đỏ và hàng vạn tấn xi măng Hải Phòng
đã có mặt trên thị trường tiêu thụ ở các nước như vùng Viễn đông, Vladivostoc, Java
(Indonesia), Hoa Nam (Trung Quốc), Singapore
Hiện nay năng lực sản xuất xi măng trong nước của Việt Nam vào khoảng 55 triệu tấn. Một
số nhà máy lớn nằm rải rác khắp đất nước như:
- Xi măng Vicem Hà Tiên : 8 triệu tấn/năm
- Xi măng Nghi Sơn: 4,3 triệu tấn/năm (Tĩnh Gia, Thanh Hóa)
- Xi măng Bỉm Sơn : 3,8 triệu tấn/năm (Thanh Hóa)
- Xi măng Vinaconex Yên Bình : 3,5 triệu tấn/năm ( Yên Bình , Tỉnh Yên Bái )
- Xi măng Cẩm Phả: 2,3 triệu tấn/năm
- XM Tam Điêp: 1,4 triệu tấn
- XM Bút Sơn
- XM Hoàng Thạch
- XM Hài Phòng
- XM Phúc Sơn
Trang 13
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
- XM Chinfon
Hiện nay trên sản phẩm xi măng trên thị trường có nhiều loại, tuy nhiên thông dụng trên thị
trường Việt Nam gồm hai loại sản phẩm chính:
Xi măng Portland chỉ gồm thành phần chính là clinker và phụ gia thạch cao. Ví dụ: PC 30,
PC 40, PC 50.
Xi măng Portland hỗn hợp vẫn với thành phần chính là clinker và thạch cao, ngoài ra còn
một số thành phần phụ gia khác như đá pudôlan, xỉ lò. Ở thị trường các loại xi măng này có tên
gọi như PCB 30, PCB 40.
Việt Nam có khoảng 31 dự án xi măng lò quay với tổng công suất thiết kế là 39 triệu tấn
được phân bổ ở nhiều vùng trên cả nước. (Đa số tập trung ở miền Bắc, miền Trung và chỉ có
chiếm khoảng 86% công suất của toàn ngành. Như vậy, sản lượng dư thừa khiến các doanh
nghiệp phải mở rộng thị trường tiêu thụ và đặt ra mục tiêu xuất khẩu dài hạn.
Việc mở rộng thị trường trong nước là một bài toán nan giải cho ngành. Bởi vì nhiều yếu tố,
chẳng hạn như: thị trường bất động sản đình trệ, ảm đạm và chưa có dấu hiệu phục hồi; nhiều
nhà đầu tư không còn đủ khả năng để tiếp tục thực hiện những dự án, công trình còn dang dở;
… Thật sự ,việc mở rộng thị trường tiêu thụ trong giai đoạn kinh tế đang trong giai đoạn “trầm
lắng" là quá khó khăn đối với các doanh nghiệp.
Do XK xi măng mang lại giá trị kinh tế rất thấp và không làm giàu đất nước. Chưa kể, phát
triển vật liệu xi măng dễ phá vỡ cảnh quan thiên nhiên do nguyên liệu đầu vào của mặt hàng
này phần lớn là núi đá vôi. Trên thế giới, rất ít nước có chủ trương đầu tư, phát triển xi măng
xuất khẩu. Chúng ta xác nhận phương án xuất khẩu này không là giải pháp tối ưu cho ngành xi
măng Việt Nam về lâu dài, nhưng để giải quyết những khó khăn – khủng hoảng thừa mà
chúng ta đang đối mặt, đây là một giải pháp tốt cho tình trạng hiện nay. Điều quan trọng là
ngành xi măng cần có quy hoạch cho XK một cách cụ thể, rõ ràng.
Tình hình XK xi măng:
Theo quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và định
hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dự báo nhu cầu trong nước đến
năm 2020 khoảng 95 triệu tấn. Trong khi đó, dự kiến đến năm 2020 tổng công suất trong cả
nước đạt 130 triệu tấn. Thực tế đó cho thấy sản xuất xi măng đang dần vượt xa nhu cầu tiêu
Trang 15
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
thụ, đòi hỏi ngành xi măng phải tăng cường tìm kiếm và mở rộng thị trường quốc tế để nâng
cao sản lượng xuất khẩu.
Theo Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (Vicem), tính đến cuối tháng 2/2012,
Vicem đã xuất khẩu được 226.000 tấn xi măng và clinker, tăng 326% so với cùng kỳ năm
2011. Và trong 6 triệu tấn sản phẩm dự kiến sẽ xuất khẩu vào năm 2012, sẽ có khoảng 500
nghìn tấn xi măng và 5,5 triệu tấn clinker. Về đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu xi măng, các
doanh nghiệp đã tăng cường tìm kiếm thị trường ở nước ngoài, hợp lý hoá trong khâu vận
chuyển, khắc phục những hạn chế về hoạt động bốc xếp hay logistics để tăng cường xuất khẩu
sản phẩm xi măng.
nghiệp xi măng tại Việt Nam vẫn chủ yếu bằng đường bộ (trừ những đơn hàng lớn như xi măng
Thăng Long, xi măng Vinakansai) qua Lào, Campuchia và Trung Quốc, nhưng thị trường Lào
rất nhỏ, nhu cầu ít, hơn nữa thuế nhập khẩu xi măng vào nước này ngày càng tăng. Campuchia
có hai nhà máy và nhu cầu nhập không đáng kể, hơn nữa lại thường nhập từ Thái Lan, trong
khi Trung Quốc là cường quốc xuất khẩu xi măng, nên khó chen chân vào được.
Việc tìm kiếm những đơn hàng lớn, xuất khẩu qua đường biển rõ ràng là thách thức không
nhỏ. Do đó, để xuất khẩu thành công, các công ty xi măng cần nghiên cứu kỹ thị trường, điều
chỉnh cơ chế một cách linh hoạt từ khâu sản xuất, phân phối đến tiêu thụ, vận chuyển, đồng
thời tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường ngoài các thị trường Lào và Campuchia. Chính từ
động lực này, nhóm chúng tôi tìm đến cơ hội xuất khẩu cho xi măng Việt Nam vào thị trường
Myanmar.
2.2.2 Phân tích lợi thế cạnh tranh ngành xi măng VN theo mô hình Michael Porter:
Nhóm các điều kiện thâm dụng:
Các điều kiện thâm dụng được đề cập ở đây là những yếu tố tự nhiên nhằm phục vụ cho sự
phát triển của ngành như Tài nguyên thiên nhiên, Vốn và Lao động.
Việt Nam chúng ta có lợi thế về điều kiện tự nhiên được nhiều ưu đãi với những núi đá lớn
trải dài từ Bắc xuống Nam, đặc biệt là khu vực bắc bộ. Quảng Ninh là tỉnh có nguồn tài
nguyên đá rất lớn, lợi thế trong xây dựng và sản xuất ximăng, góp phần không nhỏ tạo công ăn
việc làm cũng như sự phát triển kinh tế của một số địa phương trên địa bàn tỉnh. Đến nay trên
địa bàn tỉnh có hàng chục doanh nghiệp khai thác, chế biến, kinh doanh đá vôi. Thị trường tiêu
thụ cũng mở rộng ra nhiều địa phương, chủ yếu là các công trình dân dụng, công nghiệp.
Trang 17
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
Không chỉ cho Quảng Ninh mà hầu hết các nhà máy sản xuất xi măng ở phía bắc đều lấy đá vôi
ở Quảng Ninh. Riêng trên địa bàn Quảng Ninh cũng có hàng chục nhà máy sản xuất xi măng,
công suất 2- 3 triệu tấn/năm. Do đó, doanh nghiệp khai thác, chế biến đá phát triển ở hầu hết
các địa phương từ Đông Triều đến Mông Dương (Cẩm Phả). Hay như tỉnh Kiên Giang có 8 mỏ
đá vôi với trữ lượng hơn 153 triệu tấn; 4 mỏ sét xi măng có trữ lượng hơn 82 triệu tấn. Trong 8
mỏ đá vôi, có 6 mỏ trữ lượng lớn được Bộ TN&MT cấp phép cho 5 nhà máy xi măng và một
nhà máy sản xuất clinker công suất 450 nghìn tấn/năm. Các mỏ đá vôi còn lại đã được tỉnh cấp
Cả ba yếu tố được chúng tôi đề cập trên đây đều là những yếu tố quan trọng và không thể
thiếu trong bất kì ngành sản xuất nào kể cả ngành sản xuất xi măng. Chúng ta cần biết kết hợp
hài hòa và sử dụng đúng chỗ, đúng lúc để chúng phát huy được hết khả năng, mang lại lợi
nhuận cho doanh nghiệp sản xuất. Hiện nay ngành xi măng của chúng ta không chỉ đủ sức để
phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn đủ khả năng phục vụ những thị trường tiềm năng, màu
mỡ khác là nhờ vào vận dụng tốt cả ba yếu tố trên.
Những điều kiện về nhu cầu:
Sau hòa bình lập lại, nước ta bắt đầu công cuộc xây dựng lại đất nước, đổi mới toàn diện về
mọi mặt, đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế nhằm cải thiện đời sống nhân dân. Nhờ vậy,
nhu cầu về nguồn nguyên vật liệu xây dựng dần hình thành và các ngành sản xuất,cung cấp
nguyên vật liệu xây dựng phát triển và được quan tâm sâu sắc. Khi nền kinh tế của chúng ta
khởi sắc, cũng là lúc nhu cầu về xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng ngày càng nhiều hơn.
Đường xá được mở rộng, nối dài. Các tòa cao ốc, nhà nhiều tầng dần mọc lên khắp nơi,.Hay
như chúng ta đã có chương trình bê tông hóa đường làng, những cây cầu nối liền giữa các tỉnh
để thúc đẩy mối quan hệ giao thương, kinh tế liên tỉnh phát triển… Tất cả những sự việc ấy cho
thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp sản xuất xi măng là điều cần thiết. Đó
không chỉ là nhu cầu riêng của Việt Nam mà chắc hẳn cũng là nhu cầu phổ biến của nhiều quốc
gia khác, đặc biệt là những nước nghèo, lạc hậu hoặc đang phát triển.
Nhu cầu xi măng có thể được mô tả như là một thị trường đa cấp – có nhu cầu xi măng trực
tiếp và nhu cầu xi măng gián tiếp. Tính linh hoạt của mức cầu xi măng theo giá bán trong một
thị trường phát triển được xem là không đáng kể - việc giảm giá bán không có vẻ gì là sẽ dẫn
đến việc tăng nhu cầu xi măng, vì đó là động cơ chưa đủ để kích thích gia tăng hoạt động xây
Trang 19
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
dựng. Không có các sản phẩm thay thế trực tiếp cho xi măng, còn bê tông trong lĩnh vực xây
dựng nhà ở đang ngày càng được thay thế bởi sắt thép, nhôm, gỗ, gạch xây, … Riêng bê tông
xây dựng đường xá đang cạnh tranh với nhựa đường. Trong những năm gần đây, tính linh hoạt
chéo về giá bán xi măng đã tăng lên. Cũng vậy tính linh hoạt về mức cầu xi măng theo lợi
nhuận có thể được xem là tích cực.
Hiện nay, người tiêu dùng đang tạm thời thắt chặt chi tiêu, nhu cầu về vật liệu xây dựng
điều chỉnh giá bán là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, tăng ở mức độ nào doanh nghiệp cần phải
tính toán cho phù hợp. Nhưng quan trọng nhất, các doanh nghiệp xi măng cần tiếp tục tái cấu
trúc doanh nghiệp, tiết giảm chi phí, đẩy mạnh việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất,
đặc biệt đẩy nhanh các dự án sử dụng năng lượng thay thế như công nghệ tận dụng nhiệt thừa
để phát điện và tận dụng nhiệt thải làm năng lượng đốt lò nhằm giảm chi phí điện mua từ EVN.
Để đảm bảo cho lợi ích của người tiêu dùng và cả doanh nghiệp, các ngành nên liên kết và
hỗ trợ nhau tốt hơn nữa.
Tổ chức chiến lược & sự cạnh tranh
Một yếu tố quan trọng trên một thị trường là yếu tố khu vực địa lý có liên quan là nơi mà
các điều kiện cạnh tranh đối với tất cả các nhà cung cấp đều giống nhau. Trong ngành công
nghiệp xi măng, sự hạn chế của các thị trường nội địa được xác định đầu tiên bằng các chi phí
vận tải. Một nhà cung cấp có thể mở rộng khu vực phân phối trong mạng lưới phân phối của
mình khi các khách hàng ở gần về mặt địa lý đang hỗ trợ cho các khách hàng ở xa.
Hạ thấp các rào cản đối với việc thâm nhập vào thị trường và các tác động của việc sinh lợi
rất có khả năng dẫn đến việc các thành viên mới tham gia vào thị trường, tăng nguồn cung và
giảm dần giá bán. Tuy nhiên, đối với ngành công nghiệp xi măng, bên cạnh các bí quyết công
nghệ lớn, các giấy phép xây dựng và các hạn chế khai thác cũng như các hạn chế liên quan đến
việc bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm, sẽ có rất ít cơ hội cho các thành viên mới tham
gia thị trường. Hơn nữa, nhu cầu đáng kể về nguồn vốn cho phép thì chỉ các công ty từ các thị
trường khác nhau tham gia vào thị trường mới có đủ nguồn vốn. Do đó, phương thức dễ dàng
nhất là mua lại các nhà sản xuất xi măng đang gặp rắc rối về tài chính. Điều này có nghĩa là số
lượng các nhà sản xuất đang cung ứng xi măng sẽ không tăng lên nhanh và nhiều. Chỉ có sách
lược đầu tư năng động mới làm tăng các công suất.
Trang 21
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
Ngoài ra, trước nguy cơ sản lượng xi măng dư thừa ngày càng lớn, Bộ Xây dựng đã có một
loạt động thái nhằm giải quyết khó khăn cho ngành xi măng. Bên cạnh việc đề xuất Chính phủ
chỉ đạo các địa phương ngưng cấp phép các dự án mới, Bộ yêu cầu các doanh nghiệp, đặc biệt
là các công ty liên doanh như xi măng Nghi Sơn, xi măng Chinfon Hải Phòng, xi măng Phúc
Sơn… nhanh chóng xúc tiến tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Nhờ vậy, các doanh nghiệp xi
hiện tại chưa có ngân hàng nào được phép hoạt động tại Myanmar.
Lao động: Dù có 31 triệu lao động nhưng thực tế Myanmar rất thiếu lao động có tay nghề.
Lao động Myanmar rất chậm, trình độ hạn chế, hầu như phải đào tạo lại mới sử dụng được.
3.2 Các lợi thế của Việt Nam khi kinh doanh xi măng tại Myanmar:
- Nhu cầu nhập khẩu xi măng phục vụ tiêu thụ nội địa tại Myanmar rất lớn do khả năng
của sản xuất của quốc gia này mới đáp ứng được 50% nhu cầu.
- Myanmar có nguồn tài nguyên phong phú và giàu có
- Là nước có diện tích lớn nhất Đông Nam Á, với dân số 54,5 triệu người, có vị trí thuận
lợi cho hợp tác trong khu vực.
- Giá bán xi măng tại quốc gia này cũng khá hấp dẫn so với giá xuất khẩu sang thị trường
Bangladesh, Lào; campuchia. Giá xi măng nhập khẩu giá CIF tại cảng Yagoon từ 85 đến
89USD/tấn, giá bán thực tế khoảng 100-110USD/tấn. Bên cạnh đó, từ đầu tháng 5/2010,
Myanmar là nước duy nhất cấp visa ngay tại cửa khẩu cho công dân từ các nước đến Myanmar.
Cụ thể, khách du lịch được cấp phép lưu trú 28 ngày, (không gia hạn), doanh nghiệp được lưu
trú 70 ngày (được gia hạn thêm), công vụ 28 ngày (được gia hạn). Các nhà đầu tư nước ngoài
vào Myanmar sẽ được đầu tư 100% vốn, không bị khống chế mức tối đa nhưng bị khống chế
mức tối thiểu, nghĩa là không được đầu tư dưới 35%.
Myanmar và Việt Nam có quan hệ từ rất sớm. Từ năm 1947 Việt Nam đã đặt cơ quan
thường trú ở Yagoon. Chính quyền vá các đoàn thể nhân dân Myanmar tích cực ủng hộ nhân
dân ta trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – Myanmar đã có nhiều bước tiến tích cực trong
những năm gần đây. Năm 2009 Việt Nam đứng thứ 14 trong số các nhà xuất khẩu hàng hóa
vào Myanmar. Hiện Myanmar đang mở cửa để giao lưu phát triển kinh tế quốc tế.
Trang 23
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 GVHD: Thạc sĩ Trương Thị Minh Lý
Sức mua và tiêu thụ những mặt hàng dân dụng ngày càng tăng là cơ hội để các doanh
nghiệp Việt Nam đầu tư vào Myanmar. Việt Nam vinh dự là nước duy nhất tổ chức hội chợ
quốc tế tại Myanmar. (tháng 4/2010 là lần thứ 2 tổ chức hội chợ quốc tết tại quốc gia này).
Quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước chính là nền tảng và là cơ sở vững chắc để phát triển
hợp tác kinh tế giữa hai bên.Quan hệ hợp tác giữa hai nước đang phát triển tốt đẹp cả về chiều
Một đề xuất khác nữa là do phong tục tập quan, thị hiếu tiêu dùng khác nhau nên cùng một
mặt hàng, Vì vậy nhà sản xuất Việt Nam cần phải nắm kỹ thị hiếu để đưa ra những công thức
sản xuất hoặc qui cách sản phẩm phù hợp.
Muốn dễ dàng hơn trong việc đầu tư tại Myanmar, các doanh nghiệp xi măng Việt Nam
nên hợp tác với các đối tác tại nước chủ nhà. Phải tìm hiểu kỹ luật pháp và phải nói tiếng Anh
giỏi. Mặc dù có thông dịch viên và có đối tác nhưng thực tế, rát ít doanh nghiệp Việt Nam có
khả năng giao dịch tốt tiếng Anh nên không ít trường hợp kinh doanh bất thành do phiên dịch
không hiểu hết lĩnh vực của nhà đầu tư, đưa ra những thông tin phiên dịch không chính xác.
Bên cạnh đó, doanh nhân Myanmar thường có thói quen làm ăn qua gặp gỡ, trao đổi trực
tiếp, vì vậy nếu chỉ liên hệ, đàm phán qua điện thoại, tnternet thì rất khó thành công.
Một đặc điểm nữa là người dân Myanmar rất thích được tặng quà, vì vậy, khi gặp gỡ lần
đầu, doanh nhân Việt Nam nên có những món quà tặng để tạo sự thân thiết, thiện cảm”
Điều quan trọng nhất là phải kiên định và kiên trì, hợp tác với doanh nghiệp Myanmar đồng
nghĩa với việc bạn phải chấp nhận rủi ro, hoặc là thắng lớn, hoặc sẽ thất bại nếu sản phẩm của
bạn chưa đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người dân.Phải thật sự đặt lòng tin ở mối quan hệ
hợp tác đã cam kết giữa hai Chính phủ, để từ đó thực thi tốt tính tuân thủ.Tuyệt đối chấp thuận
mọi yêu cầu của đối tác Myanmar, cho dù những điều lệ trong hợp đồng ghi nhớ có thể làm
bạn không hài lòng. Khi gặp trở ngại, nên tìm cách liên hệ với những người có chức vụ cao ở
các Bộ để nhờ họ can thiệp vì Chính phủ Myanmar rất tôn trọng người nước ngoài và họ sẽ
đứng ra bảo vệ cho bạn”.
Thủ tục hành chính ở Myanmar có phần khó khăn bởi từ lâu Chính phủ Myanmar đã nhìn ra
được nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, sự phát triển không đồng bộ do thiếu quy hoạch,
thiếu tầm nhìn. Vì vậy khi chọn các nhà đầu tư, Myanmar có những xét duyệt và thẩm định rất
kỹ và các DN muốn đầu tư vào Myanmar phải nghiên cứu, chuẩn bị một cách nghiêm túc”.
Trang 25