Luận văn: Những giải pháp tài chính huy động vốn đầu tư phát triển du lịch Bình Thuận giai đoạn 2006 – 2010 pot - Pdf 12

Luận văn
Những giải pháp tài chính
huy động vốn đầu tư phát
triển du lịch Bình Thuận
giai đoạn 2006 – 2010

- 1 -
MỤC LỤC

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC KÊNH HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ
1.1. Vốn đầu tƣ và các kênh huy động vốn 3
1.1.1. Khái niệm về vốn đầu tƣ 3
1.1.2. Nhu cầu vốn đầu tƣ 3
1.1.3. Nguồn hình thành vốn đầu tƣ 5
1.1.3.a. Nguồn hình thành vốn đầu tƣ trong nƣớc 6
1.1.3.b. Nguồn hình thành vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 7
1.1.4. Các kênh huy động vốn đầu tƣ 9
1.1.4.a. Ngân sách nhà nƣớc 9
1.1.4.b. Tín dụng 10
1.1.4.c. Huy động vốn từ các doanh nghiệp 12
1.1.4.d. Huy động từ thị trƣờng vốn 12
1.2. Vai trò của vốn đầu tƣ đối với sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế
nói chung và ngành du lịch nói riêng 14
1.2.1. Vai trò của vốn đầu tƣ đối với sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế 14
1.2.2. Vai trò của vốn đầu tƣ đối với phát triển du lịch 16
Chương 2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ VÀO

3.4.2.f. Phát triển nguồn nhân lực để thu hút vốn đầu tƣ 60
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 3 -
MỞ ĐẦU

Những năm qua, cùng với sự phát triển của ngành du lịch cả nƣớc, du lịch
Bình Thuận đã có những bƣớc tiến đáng kể. Từ một vùng đất ven biển còn hoang sơ
cách đây không lâu, đến nay Bình Thuận đang đƣợc biết đến nhƣ một trung tâm du
lịch nghỉ dƣỡng nổi tiếng trong cả nƣớc, có sức thu hút mạnh mẽ du khách trong
nƣớc và quốc tế.
Việc phát triển du lịch địa phƣơng đã đƣợc chính quyền các cấp và các nhà
đầu tƣ quan tâm thúc đẩy. Cùng với nhiều dự án đƣợc đăng ký và triển khai, lƣợng
vốn đầu tƣ vào ngành du lịch Bình Thuận ngày càng tăng đã tạo nên sự phát triển
nhanh chóng các cơ sở hoạt động du lịch của tỉnh nhà.
Ngày 11/01/2002, UBND Tỉnh Bình Thuận đã ra quyết định số 07/2002/QĐ-
UBBT Phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Bình Thuận đến năm
2010” xác định quan điểm, mục tiêu, định hƣớng phát triển và những giải pháp chủ
yếu để thực hiện mục tiêu đƣa du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của
tỉnh, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng và làm dịch chuyển cơ
cấu kinh tế theo hƣớng hiện đại, góp phần thực hiện chiến lƣợc phát triển ngành mà
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã vạch ra, trong đó “khuyến khích đầu tƣ phát
triển và nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động du lịch, đa dạng hóa sản phẩm và
các loại hình du lịch” đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm.
Một trong những giải pháp chủ yếu để thực hiện quy hoạch là xác định nhu

- 5 -
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC KÊNH HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ

1.1. Vốn đầu tư và các kênh huy động vốn:
1.1.1. Khái niệm về vốn đầu tư:
Tài sản của một quốc gia bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài sản đƣợc sản
xuất ra và tích luỹ lại trong suốt quá trình hình thành và phát triển nguồn nhân lực
và tri thức.
Quá trình phát triển của mỗi nƣớc luôn đặt ra yêu cầu phải tạo ra tài sản mới
nhằm bù đắp những tài sản tiêu hao trong quá trình sử dụng, đồng thời không ngừng
tăng thêm khối lƣợng tài sản quốc gia. Để tạo ra tài sản mới phải đầu tƣ những yếu
tố cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhƣ công cụ, máy móc, nguyên vật
liệu, lao động, công nghệ… tất cả các yếu tố đó đƣợc xem là nguồn vốn đầu tƣ để
tạo ra thu nhập, tài sản cho quốc gia.
Vốn đầu tƣ hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ nguồn lực đƣa vào hoạt động của
nền kinh tế – xã hội, gồm máy móc thiết bị, nhà xƣởng, lao động, tài nguyên, đất
đai, khoa học công nghệ
Vốn hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lực đƣợc thể hiện bằng tiền của mỗi cá
nhân, doanh nghiệp và của quốc gia.
Hoạt động đầu tƣ là việc sử dụng vốn để phục hồi và tạo ra năng lực sản xuất
kinh doanh mới. Đó là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố phục vụ cho quá
trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để làm tăng tài sản quốc gia.
1.1.2. Nhu cầu vốn đầu tư:
Nhu cầu vốn đầu tƣ phát sinh do yêu cầu:
- Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế:
Cơ sở hạ tầng đƣợc coi là nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi
nƣớc, mỗi địa phƣơng. Ở các nƣớc đang phát triển, do trình độ phát triển kinh tế

phủ… để phát triển giáo dục và đào tạo.
- Đầu tư cho khoa học công nghệ:
- 7 -
Khoa học công nghệ đóng vai trò nền tảng và động lực trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Việc đầu tƣ vốn cho khoa học công nghệ sẽ tạo ra cơ sở
vật chất kỹ thuật cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Phát triển khoa học công nghệ là hoạt động đòi hỏi phải đầu tƣ vốn lớn, lâu
dài, phải có đủ vốn và chấp nhận rủi ro trong quá trình nghiên cứu, triển khai.
Hoạt động khoa học công nghệ chủ yếu dựa vào các nguồn vốn sau:
+ Vốn do ngân sách nhà nƣớc cấp.
+ Kinh phí thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học.
+ Vốn do liên doanh, liên kết với các tổ chức khác.
+ Vốn viện trợ của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tài trợ của cá nhân
trong và ngoài nƣớc.
1.1.3. Nguồn hình thành vốn đầu tư:
Trong tổng thu nhập của mỗi nƣớc, sau khi trừ đi phần tiêu dùng, còn lại là
phần để bù đắp và tích lũy. Quỹ bù đắp và quỹ tích lũy chính là nguồn gốc hình
thành vốn đầu tƣ, trong đó quỹ tích lũy là bộ phận quan trọng nhất.
Quỹ tích lũy đƣợc hình thành từ các khoản tiết kiệm. Nền kinh tế càng phát
triển thì tỉ lệ tích luỹ càng cao. Đối với các nƣớc đang phát triển, do thu nhập còn
thấp nên quy mô và tỉ lệ tích lũy đều thấp, trong khi nhu cầu về vốn đầu tƣ rất cao,
do đó rất cần đến nguồn vốn đầu tƣ từ nƣớc ngoài. Mặt khác, trong xu hƣớng chu
chuyển vốn quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, ngay cả các nƣớc phát triển
vẫn cần có sự kết hợp giữa vốn đầu tƣ trong và ngoài nƣớc để phát triển kinh tế.
Nhƣ vậy, vốn đầu tƣ có đƣợc của mỗi nƣớc hình thành từ tiết kiệm trong nƣớc và
tiết kiệm của nƣớc ngoài. Tiết kiệm trong nƣớc bao gồm tiết kiệm của Nhà nƣớc,
tiết kiệm của doanh nghiệp và tiết kiệm của dân cƣ là nguồn hình thành vốn đầu tƣ
trong nƣớc. Tiết kiệm của nƣớc ngoài hình thành vốn đầu tƣ nƣớc ngoài dƣới các
dạng đầu tƣ trực tiếp và gián tiếp.
1.1.3.a. Nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước:

hoặc chuyển thành nguồn vốn đầu tƣ của doanh nghiệp qua việc mua trái phiếu, cổ
phiếu của các công ty phát hành.
- 9 -
1.1.3.b. Nguồn hình thành vốn đầu tư nước ngoài:
Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI): là nguồn vốn do các nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài đƣa vào để thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh, góp vốn vào các
công ty, xí nghiệp liên doanh hoặc thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nƣớc
ngoài.
Vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài hình thành từ tiết kiệm của tƣ nhân và
các công ty nƣớc ngoài đầu tƣ vốn vào một nƣớc khác nhằm khai thác lợi thế so
sánh, tận dụng các yếu tố lao động, tài nguyên của địa phƣơng, tiết kiệm chi phí vận
chuyển để tăng lợi nhuận cho việc đầu tƣ .
Đối với các nƣớc đang phát triển, vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài mang ý
nghĩa quan trọng trong việc tạo nên cú hích ban đầu cho sự tăng trƣởng, bên cạnh
nguồn vốn ngoại tệ, FDI còn mang theo công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả
năng tiếp cận thị trƣờng thế giới. Vì vậy, thu hút FDI đang trở thành hình thức huy
động vốn phổ biến, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các nƣớc đang phát triển.
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài: là những khoản đầu tƣ thực hiện thông qua
các hoạt động cho vay và viện trợ. Nguồn vốn có thể là của chính phủ các nƣớc, có
thể là của các tổ chức quốc tế. Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài bao gồm: Vốn viện trợ
phát triển chính thức (ODA) và Vốn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO).
+ Viện trợ phát triển chính thức (ODA: Official Development Assictance) là
nguồn tài chính do các cơ quan chính thức (chính quyền Nhà nƣớc hay địa phƣơng)
của một nƣớc hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội của các nƣớc đang phát triển.
Nguồn viện trợ phát triển chính thức đƣợc thực hiện trên cơ sở song phƣơng
hoặc đa phƣơng. Trong đó viện trợ song phƣơng chiếm đến 80%. Viện trợ đa
phƣơng đƣợc thực hiện qua các tổ chức Liên hiệp quốc (UNDP, UNICEF…) và các
tổ chức kinh tế tài chính quốc tế (IMF, WB, ADB, OPEC…). Nội dung của ODA
gồm:

Các kênh huy động vốn thƣờng đƣợc sử dụng là:
1.1.4.a. Ngân sách nhà nước:
- 11 -
Một trong những chức năng chủ yếu của Nhà nƣớc là tổ chức xây dựng nền
kinh tế. Để thực hiện chức năng này, Nhà nƣớc sử dụng công cụ tài chính vĩ mô
quan trọng là ngân sách nhà nƣớc để phân phối các nguồn tài chính cho sự phát
triển của lĩnh vực sản xuất và các ngành kinh tế quốc dân. Một phần chủ yếu của
ngân sách nhà nƣớc đƣợc sử dụng để chi đầu tƣ phát triển bao gồm chi đầu tƣ xây
dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; chi đầu tƣ và hỗ trợ vốn cho các
doanh nghiệp nhà nƣớc; chi góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh vào các doanh
nghiệp; chi cho quỹ hỗ trợ đầu tƣ quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển; chi dự trữ
nhà nƣớc và chi trả nợ gốc tiền do chính phủ vay.
Nguồn vốn chi đầu tƣ phát triển từ ngân sách nhà nƣớc đóng vai trò chủ yếu
và quan trọng trong việc thực hiện chiến lƣợc đầu tƣ của nền kinh tế, tạo định
hƣớng và kích thích quá trình đầu tƣ vốn của các doanh nghiệp và tƣ nhân nhằm
mục đích hình thành cơ cấu kinh tế theo định hƣớng của nhà nƣớc.
Để đáp ứng nhu cầu chi đầu tƣ phát triển, nhà nƣớc tổ chức động viên vào
ngân sách một phần thu nhập quốc dân thông qua các công cụ thuế, lệ phí, thu viện
trợ của nƣớc ngoài… đây là kênh huy động vốn quan trọng tạo nguồn vốn đầu tƣ ổn
định và vững chắc.
1.1.4.b. Tín dụng:
Tín dụng đƣợc xem là chiếc cầu nối giữa các nguồn cung cầu về vốn tiền tệ
trong nền kinh tế. Bằng việc huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các cá
nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho những doanh nghiệp, cá nhân kể
cả ngân sách đang gặp thiếu hụt về vốn trên nguyên tắc có hoàn trả. Các tổ chức tín
dụng góp phần quan trọng trong việc điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá
trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, đồng thời còn giúp cho các doanh
nghiệp bổ sung vốn đầu tƣ để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công
nghệ, cải tiến quản lý, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển.
Tín dụng bao gồm tín dụng nhà nƣớc và tín dụng ngân hàng.

nguồn vốn huy động có thời hạn và vốn tự có để đầu tƣ vào cổ phiếu, trái phiếu và
- 13 -
các chứng từ có giá khác qua đó hƣởng thu nhập qua chênh lệch giá trên thị trƣờng
thứ cấp.
Trong xu hƣớng toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng, quá
trình điều tiết và chu chuyển vốn đã vƣợt khỏi giới hạn của một quốc gia làm hình
thành các quan hệ tín dụng quốc tế. Nhƣ vậy tín dụng không chỉ là một kênh quan
trọng thu hút vốn đầu tƣ trong nƣớc mà còn là một nhân tố thúc đẩy huy động vốn
đầu tƣ từ nƣớc ngoài.
1.1.4.c. Huy động vốn từ các doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp luôn có nhu cầu đầu tƣ để mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh, đổi mới trang thiết bị và công nghệ, tăng vốn luân chuyển, hoặc đầu tƣ
thành lập doanh nghiệp mới. Nguồn vốn đầu tƣ phần lớn đƣợc lấy từ thu nhập
không chia (thu nhập để lại không chi trả cổ tức) và quỹ khấu hao tài sản. Nếu
nguồn vốn này chƣa đủ, doanh nghiệp phải huy động từ nguồn phát hành cổ phiếu,
trái phiếu hoặc đi vay.
Các doanh nghiệp thƣờng dành ƣu tiên cho việc đầu tƣ từ nguồn vốn nội bộ
hơn là phát hành cổ phiếu hoặc đi vay. Điều này đƣợc lý giải là do các doanh
nghiệp đang hoạt động có hiệu quả thƣờng không muốn chia sẻ cơ hội tăng trƣởng
của mình cho các nhà đầu tƣ bên ngoài, đồng thời tránh những chi phí phát sinh
trong quá trình phát hành cổ phiếu và đi vay. Tuy nhiên, nhìn chung các doanh
nghiệp ở các nƣớc đang phát triển hoạt động với hiệu quả chƣa cao nên phần vốn
tích lũy nội bộ còn thấp. Để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ phát triển, các doanh nghiệp
phải huy động thêm nguồn vốn trên các thị trƣờng tài chính và tạo thành một kênh
huy động vốn quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển.
1.1.4.d. Huy động từ thị trường vốn:
Thị trƣờng vốn là nơi huy động và cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền
kinh tế. Cùng với thị trƣờng tiền tệ, thị trƣờng vốn là một kênh quan trọng để huy
động vốn đáp ứng cho các nhu cầu đầu tƣ của nhà nƣớc và các doanh nghiệp.
Thông qua công cụ chủ yếu là các loại chứng khoán, các chủ thể thị trƣờng thực

tài nguyên thì luôn cần có một lƣợng vốn đầu tƣ nhất định. Mô hình tăng trƣởng
- 15 -
kinh tế của Harrod - Domar đã chứng minh là có sự quan hệ tỉ lệ thuận giữa tỉ lệ
vốn đầu tƣ và tỉ lệ tăng trƣởng thu nhập quốc nội (GDP).
Quan hệ giữa mức tăng vốn đầu tƣ và tăng trƣởng đã đƣợc xác lập bằng
phƣơng trình kinh tế:
Mức tăng GDP = Mức tăng vốn đầu tƣ / ICOR
Trong đó ICOR (Incremental Capital Output Ratio) là Hệ số tăng trƣởng vốn
- đầu ra, biểu thị hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tƣ.
Nhƣ vậy, bên cạnh việc sử dụng vốn đầu tƣ một cách hiệu quả thì việc tỷ lệ
vốn đầu tƣ tăng lên sẽ kéo theo tốc độ tăng trƣởng tăng và ngƣợc lại.
Tuy nhiên, tăng trƣởng kinh tế chỉ là một điều kiện tiền đề để tạo ra sự phát
triển. Phát triển kinh tế là cả một quá trình làm biến đổi sâu sắc về mọi mặt kinh tế
xã hội của một đất nƣớc cả về số lƣợng và chất lƣợng trong dài hạn. Phát triển kinh
tế đòi hỏi sự tăng trƣởng phải đƣợc duy trì liên tục trong dài hạn, tạo nên những
chuyển biến trong cơ cấu kinh tế và cấu trúc xã hội theo hƣớng hiện đại. Nền kinh
tế hoạt động với năng suất và hiệu quả càng cao, hàng hoá càng có sức cạnh tranh
cao trên thị trƣờng quốc tế. Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ môi trƣờng đƣợc nâng cao,
đời sống vật chất và văn hoá của ngƣời dân đƣợc cải thiện rõ rệt.
Ngoài những tác động đến tốc độ tăng trƣởng kinh tế, việc duy trì lâu dài
nguồn cung cấp vốn đầu tƣ một cách hiệu quả sẽ góp phần quan trọng để đạt đƣợc
những mục tiêu phát triển kinh tế. Điều này thể hiện trƣớc hết ở tác động của vốn
đầu tƣ đến việc phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đầu tƣ vốn
vào cơ sở hạ tầng sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế một cách vững chắc. Việc
kiến tạo cơ sở hạ tầng luôn phải đi trƣớc một bƣớc để mở đƣờng cho nền kinh tế
phát triển. Ngân hàng Thế giới đã nhận định rằng sự gia tăng tổng sản phẩm quốc
gia thƣờng tƣơng ứng với sự gia tăng vốn đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng. Vì vậy, muốn
phát triển kinh tế cần phải có một lƣợng vốn đủ lớn để đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng.
Mặt khác, để đạt đƣợc mục đích phát triển kinh tế nhanh và bền vững, cần phải tạo
cơ cấu kinh tế tối ƣu phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi nƣớc. Một cơ cấu kinh

Thuận có 65 resort với khoảng 6.000 phòng nghỉ, 2.000 phòng khách sạn đang đƣợc
- 17 -
khai thác. Tuy nhiên, chỉ trừ một vài khu du lịch có quy mô rộng 100 – 200 ha nhƣ
khu du lịch Tuần Châu (Quảng Ninh), khu du lịch sinh thái Linh Trƣờng (Thanh
Hóa)… còn lại hầu hết các khu du lịch, resort khác đều đƣợc đầu tƣ xây dựng với
quy mô chỉ từ 3 – 20 ha, chủ yếu phục vụ loại hình cụm nhà nghỉ, khách sạn có tính
chất du lịch nghỉ dƣỡng là chính; các hoạt động vui chơi giải trí, các dịch vụ du lịch
cần thiết khác hầu nhƣ vắng bóng.
Để lý giải cho hiện tƣợng trên, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng công tác
đầu tƣ xây dựng, khai thác và kinh doanh du lịch, resort tại các địa phƣơng còn bộc
lộ còn nhiều yếu kém và bất cập. Đầu tiên là do sự thiếu quy hoạch tổng thể phát
triển các vùng, khu vực có tiềm năng du lịch trên địa bàn nên đã gây hiện tƣợng lập
quy hoạch chi tiết, dự án đầu tƣ xây dựng tràn lan tại cùng một khu vực, từ đó xuất
hiện các khu du lịch, resort có cùng tính chất hoạt động, vừa đơn điệu, vừa giống
nhau về sản phẩm làm ảnh hƣởng đến tính khả thi và phát triển bền vững của dự án.
Để xây dựng và phát triển các khu du lịch chất lƣợng cao, tƣơng xứng với
tiềm năng du lịch sẵn có theo đúng mục tiêu và yêu cầu đặt ra, cần có những giải
pháp đồng bộ, lồng ghép và phối hợp đa ngành từ quản lý quy hoạch xây dựng, quy
hoạch phát triển du lịch, quản lý đất đai, kiến trúc, bảo vệ tài nguyên môi trƣờng,
quản lý kinh doanh và an toàn trật tự xã hội, trong đó vốn và huy động vốn đầu tƣ
nắm giữ vai trò chủ đạo và xuyên suốt trong quá trình quy hoạch, đầu tƣ, xây dựng
phát triển ngành kinh tế du lịch.
Đối với ngành kinh tế du lịch, ngoài các yếu tố sẵn có nhƣ điều kiện tự
nhiên, khí hậu… đầu tƣ hoàn thiện hạ tầng phục vụ phát triển du lịch có vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển của ngành, trong đó vốn đầu tƣ có vai trò quyết
định.
Xác định ngành kinh tế du lịch là ngành dịch vụ, chủ yếu thỏa mãn các nhu
cầu về nghỉ ngơi, an dƣỡng trong điều kiện tốt nhất của du khách. Do đó, để đƣa du
khách đến với các địa điểm du lịch, ngoài việc quảng bá trên các phƣơng tiện thông
tin đại chúng trƣớc hết cần phải đầu tƣ xây dựng hoàn thiện và đảm bảo an toàn các


- 19 -
Chương 2
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ VÀO VIỆC
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH BÌNH THUẬN

2.1. Quá trình phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua:
2.1.1. Điều kiện tự nhiên xã hội và nhân văn để phát triển du lịch tỉnh Bình
Thuận:
Bình Thuận là tỉnh nằm ở cực Nam Trung Bộ, trong khu vực ảnh hƣởng của
vùng kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ, nằm gần các thành phố công nghiệp
lớn của cả nƣớc. Phía Bắc giáp hai tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận, phía tây giáp
tỉnh Đồng Nai, phía Tây Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phía Đông và Đông
Nam giáp Biển Đông. Bình Thuận có đƣờng bờ biển dài 192 km trải dài trên địa
bàn của 6 huyện, thành phố và thị xã với các bãi biển đa dạng: từ những bãi biển cát
trắng, cây xanh rợp mát quanh năm ở Phan Thiết - Hàm Tiến - Mũi Né - Hòn Rơm,
bãi biển Tiến Thành - Thuận Quý - Khe Gà, bãi biển Đồi Dƣơng – Cam Bình (thị xã
LaGi)… cho đến các bãi biển đá cuội nhiều màu ở Bình Thạnh (huyện Tuy Phong),
bãi cát bên cạnh vách núi hang động kỳ ảo ở Vĩnh Tân - Cà Ná; các đảo nhỏ, cù lao
ven biển có cảnh quan thiên nhiên hoang sơ nhƣ khu đảo Cù Lao Câu (huyện Tuy
Phong), đảo Hòn Bà (thị xã LaGi), môi trƣờng tự nhiên trong lành còn thuận lợi cho
việc phát triển du lịch cuối tuần, du lịch nghỉ dƣỡng, du lịch thể thao biển và du lịch
sinh thái.
Bình Thuận có tài nguyên rừng nhiệt đới với nhiều loại thực vật và động vật
quý hiếm, cảnh quan hùng vĩ, sơn thủy hữu tình với nhiều núi non, hồ thác, sông
suối đẹp nhƣ Núi Tàkóu, Núi Ông - Biển Lạc, Thác Bà, Thác Reo, Hồ sông Quao,
Hồ Hàm Thuận - Đa Mi… có thể phát triển các loại hình du lịch dã ngoại, du lịch
sinh thái kết hợp với tham quan nghiên cứu tự nhiên.
Bình Thuận có một số mỏ nƣớc khoáng có giá trị phục vụ tiêu dùng và chữa
bệnh nhƣ nƣớc khoáng Vĩnh Hảo (huyện Tuy Phong), Đa Kai (huyện Đức Linh),

thể khai thác và sử dụng có hiệu quả để tạo ra nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn. Tuy
- 21 -
nhiên, trong thời gian qua việc phát triển du lịch ở Bình Thuận còn mang nặng tính
tự phát, chủ yếu là khai thác các tài nguyên sẵn có mà chƣa có sự đầu tƣ một cách
thoả đáng nhằm bảo vệ môi trƣờng du lịch, nâng cao chất lƣợng và giá trị của sản
phẩm du lịch nhằm hƣớng tới sự phát triển nhanh và bền vững.
2.1.2. Quá trình phát triển du lịch Bình Thuận trong thời gian qua:
Ngành du lịch tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn trƣớc 1995 phát triển tƣơng
đối bình thƣờng, kể từ năm 1995 bắt đầu tăng tốc (từ sau sự kiện nhật thực toàn
phần) và đặc biệt phát triển mạnh kể từ năm 2000 trở lại đây, thể hiện qua các chỉ
tiêu sau:
- Khách du lịch: Trong giai đoạn 1995 - 2005, số lƣợng khách du lịch đến
Bình Thuận có tốc độ tăng trƣởng bình quân trên 30%/năm, trong đó khách du lịch
quốc tế tăng bình quân trên 40%/năm. Năm 1995 toàn tỉnh đón 53.200 lƣợt khách
trong đó có 5.300 lƣợt khách quốc tế, thì năm 2000 đón 513.000 lƣợt khách trong
đó có 53.000 khách quốc tế và năm 2005 đón 1.250.930 lƣợt khách trong đó có
128.020 lƣợt khách quốc tế. Theo số liệu điều tra và thống kê thì lƣợng khách đến
Bình Thuận với mục đích du lịch biển chiếm trên 80% trong tổng số khách và tỷ
trọng này có xu hƣớng ngày càng tăng nhất là sau khi hàng loạt các cơ sở lƣu trú,
đặc biệt là các resort đƣợc đầu tƣ ở các khu vực Hàm Tiến – Mũi Né, Tiến Thành
(Phan Thiết) đã thu hút nhiều du khách đến Bình Thuận trong thời gian qua.
- Doanh thu từ hoạt động của ngành du lịch cũng tăng cao, với tốc độ tăng
trƣởng bình quân khoảng 30%/năm. Năm 1995, tổng doanh thu chỉ là 30,66 tỉ đồng
thì năm 2005 là 123,10 tỷ đồng (tăng hơn gấp 4 lần) và đến năm 2005, tổng doanh
thu đạt 611,3 tỷ đồng (tăng gần 20 lần).
Do đạt đƣợc tốc độ tăng trƣởng cao nên tỉ trọng GDP du lịch Bình Thuận
trong GDP toàn tỉnh cũng tăng nhanh, từ chỗ chiếm tỉ trọng không đáng kể, năm
1997 GDP trong lĩnh vực du lịch chiếm 2,4% GDP toàn tỉnh thì đến năm 2005
chiếm 4,3% GDP toàn tỉnh. Điều này cho thấy hoạt động du lịch đã góp phần tích
cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phƣơng theo, góp phần ngày càng rõ nét vào

+ Đường sắt: Đƣờng sắt Bắc - Nam qua tỉnh với chiều dài 190 km. Hiện đã
có tuyến đƣờng sắt chạy hàng ngày phục vụ khách du lịch từ Sài Gòn đi Phan Thiết
và ngƣợc lại.
+ Đường biển: Đã xây dựng và đƣa vào sử dụng các cảng cá Phan Thiết,
cảng Phú Quý, đang tiếp tục nạo vét và chỉnh sửa các cảng cá Lagi, cảng cá Phan Rí
Cửa…
+ Sân bay: Hiện Bộ Giao thông vận tải đang nghiên cứu phát triển sân bay
du lịch tại Bình Thuận.
+ Hệ thống cấp điện: Mạng lƣới điện đã đƣợc phát triển rộng khắp trên toàn
tỉnh, tuyến Phan Rang – Phan Thiết đã đƣợc nâng cấp từ điện áp 66 KV chuyển
sang vận hành điện áp 110 KV. Toàn tỉnh hiện có 845 km đƣờng dây 22/15 KV,
tăng 2,3 lần so với năm 1995 với 1.442 trạm biến áp, tổng dung lƣợng các trạm biến
áp gần 100.000 KVA tăng 2,34 lần so với năm 1995, đƣờng dây hạ thế khoảng 900
km tăng 2,33 lần. Đã xây dựng nhiều hệ thống chiếu sáng công lộ: Lầu Ông Hoàng
– Mũi Né, thị trấn Hàm Thuận Nam, Liên Hƣơng, thị xã Lagi, thành phố Phan
Thiết…
+ Hệ thống cấp, thoát nước: Nhà máy nƣớc Phan Thiết có công suất
25.000m
3
/ngày đêm, hiện đang nâng cấp, mở rộng hệ thống đƣờng ống bằng nguồn
vốn ADB, đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất; nhiều hệ thống cấp
nƣớc sạch cho sinh hoạt và phục vụ du lịch nhƣ: Hệ thống cấp nƣớc Lầu Ông
Hoàng – Đá Ông Địa – Hàm Tiến – Mũi né; hệ thống cấp nƣớc khu vực Hòn Lan –
Hàm Thuận Nam, cấp nƣớc khu vực Bình Thạnh – Tuy Phong… đang đƣợc đầu tƣ
xây dựng.
- Đầu tƣ xây dựng các hệ thống xử lý nƣớc thải Bình Thạnh, Liên Hƣơng,
Hàm Tiến – Mũi Né.
+ Thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc tiếp tục đƣợc đầu tƣ nâng
cấp mở rộng cả về hữu tuyến lẫn vô tuyến. Tổng số trạm phát sóng di động (BTS)
trên toàn tỉnh lên đến 66 trạm, trong đó có 17 trạm phủ sóng cho các khu du lịch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status