1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
×&Ø
LÊ THỊ THANH THỦY CÁC GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH
TỈNH NINH THUẬN Chuyên ngành: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS - Tiến sĩ NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2008
2
PHẦN MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, cùng với sự phát triển của
các ngành kinh tế khác, ngành du lịch có những bước phát triển đáng kể và ngày càng tỏ
rõ vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu kinh tế chung. Du lịch đã và đang ngày càng
trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Du lịch không chỉ đem
đến cho con người những cảm xúc tuyệt vời thông qua các loại hình nghỉ dưỡng, tắm
còn nhiều khó khăn, bất cập. Trăn trở với thực trạng đó, tôi chọn đề tài: “Các giải pháp
huy động vốn đầu tư để phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Thuận” làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn thạc sĩ của mình.
II. MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích nghiên cứu của đề tài là ứng dụng lý luận về vốn và các kênh huy động
vốn đầu tư để phân tích thực trạng huy động vốn trong quá trình phát triển du lịch tỉnh
Ninh Thuận trong thời gian qua, đánh giá những thuận lợi và thách thức, những kết qủa
đạt được và những hạn chế, vướng mắc, từ đó đề ra những giải pháp huy động vốn đầu tư
để phát triển ngành du lịch Ninh Thuận giai đoạn đến 2010 và tầm nhìn đến 2015.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Huy động vốn đầu tư phát triển cho một ngành
kinh tế là vấn đề có phạm vi rộng. Do điều kiện thời gian và khả năng có hạn nên đề tài
chủ yếu nghiên cứu tập trung đánh giá quá trình phát triển du lịch, thực trạng huy động
vốn và đề xuất các giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển du lịch tỉnh Ninh Thuận. Tuy
nhiên, trong quá trình nghiên cứu, có đánh giá minh họa thêm kinh nghiệm một số nước
trong khu vực và một số địa phương trong nước nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
III. PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài là phương pháp duy vật biện
chứng.Vận dụng các phương pháp mô tả, so sánh, thống kê, phân tích với nguồn số liệu
được thu thập từ niên giám thống kê, các báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh, các Sở, ban
ngành trong tỉnh và từ nguồn khác. 4
IV. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về đầu tư và vốn đầu tư
Chương 2: Thực trạng huy động vốn đầu tư cho phát triển du lịch tỉnh Ninh
1.1.1. Khái niệm đầu tư và vốn đầu tư
1.1.1.1. Đầu tư
Trong các mô hình kinh tế vĩ mô đơn giản, xét về phương diện tiêu dùng thì đầu tư
là bộ phận hợp thành lớn thứ hai sau nhu cầu. Khái niệm đầu tư theo nghĩa rộng bao hàm
hai phạm trù phân biệt:
- Một mặt, đầu tư liên quan đến việc mua sắm tài sản tài chính như: cổ phiếu, trái
phiếu và các loại chứng khoán khác, đó là loại đầu tư tài chính. Các tài sản tài chính có
thể có thể có được từ các đợt phát hành mới hay được mua lại trên thị trường tài chính.
- Mặt khác, đầu tư nhằm vào việc mua sắm các tài sản vật chất như máy móc, thiết
bị, nhà xưởng,… hay còn gọi là hàng hoá đầu tư vật chất.
Việc mua sắm các tài sản tài chính được xem như một việc đầu tư bởi người mua
hy vọng chúng sẽ đem lại nguồn thu nhập trong tương lai (chẳng hạn như cổ tức hay lãi
của trái phiếu…). Tuy nhiên, ở đây không xuất hiện sự gia tăng nguồn vốn mới cho nền
kinh tế bởi vì việc mua bán một sản phẩm tài chính sẽ là sự đầu tư đối với người mua nó
nhưng lại là sự giảm đầu tư đối với người bán. Hay nói cách khác, về phương diện kinh tế
vĩ mô, các khoản đầu tư và giảm đầu tư về tài sản tài chính bù trừ cho nhau.
Như vậy, chỉ có sự tạo ra các hàng hóa đầu tư vật chất (máy móc, thiết bị, nhà
xưởng,…) sẽ không dẫn đến hiện tượng bù trừ và hình thức đầu tư loại này mới thực sự
đem lại sự gia tăng phát triển cho nền kinh tế. Chính việc tạo ra hàng hóa đầu tư vật chất
mới này sẽ tạo thêm việc làm mới và kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất bổ trợ
khác, trong khi tài sản tài chính trên thị trường thứ cấp không ảnh hưởng trực tiếp với hai
quá trình đó. Và cũng chính vì điều đó mà loại đầu tư này được xem là đầu tư có tính chất
phát triển, gọi tắt là đầu tư phát triển.
Tổng giá trị các hàng hóa đầu tư mới được sản xuất trong nền kinh tế ở thời kỳ
nhất định tạo nên tổng lượng đầu tư. Nhưng vì các hàng hóa vốn này được sử dụng và
6
phần nào bị hao mòn trong năm đó để phục vụ sản xuất nên một phần hàng hóa đầu tư
- Theo quan điểm của doanh nghiệp: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh trên
cơ sở chấp nhận rủi ro nhất định để thu được số lợi nhuận lớn hơn số vốn đã bỏ ra.
- Theo quan điểm của xã hội: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, chấp nhận rủi
ro nhất định nhằm thu được hiệu qủa nhất định vì mục tiêu phát triển quốc gia.
1.1.1.2. Vốn đầu tư
Tài sản của một quốc gia bao gồm tài nguyên thiên nhiên, môi trường, tài sản
được sản xuất ra và tích lũy lại trong suốt quá trình hình thành và phát triển, nguồn nhân
lực và tri thức.
Quá trình phát triển của mỗi quốc gia, địa phương luôn đòi hỏi phải tạo ra được
những tài sản mới nhằm bù đắp được những tài sản đã tiêu hao trong quá trình sử dụng;
đồng thời không ngừng tăng thêm khối lượng và chất lượng tài sản quốc gia. Để đáp ứng
yêu cầu và đòi hỏi đó, quốc gia, địa phương phải huy động, đầu tư những yếu tố cần thiết
cho toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh từ công cụ, tài sản cố định, thiết bị
máy móc, nguyên nhiên vật liệu, lao động, công nghệ,… và tất cả những yếu tố đó được
xem là nguồn vốn đầu tư để tạo ra thu nhập tài sản quốc gia, địa phương.
Như vậy, vốn đầu tư được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ nguồn lực đưa vào hoạt
động của nền kinh tế xã hội, bao gồm tài nguyên, đất đai, môi trường, tri thức, công nghệ
và kể cả những tài sản hiện hữu như máy móc thiết bị, nhà xưởng… Và vốn đầu tư hiểu
theo nghĩa hẹp thì chính là nguồn lực được thể hiện bằng tiền của các cá nhân, doanh
nghiệp và quốc gia.
1.1.2. Mục tiêu đầu tư
1.1.2.1. Đối với doanh nghiệp
Trong một thời gian nhất định, một doanh nghiệp có thể có một hay nhiều mục
tiêu đồng thời, các mục tiêu của doanh nghiệp có thể thay đổi theo thời gian, bao gồm các
loại mục tiêu đầu tư như tối đa hóa lợi nhuận; duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp; tăng
cường uy tín của sản phẩm và của doanh nghiệp; tăng giá trị của doanh nghiệp. Tóm lại,
mục tiêu của doanh nghiệp là “lợi nhuận”.
8 Đối với các nước đang phát triển, đầu tư phát triển có vai trò quan trọng hàng đầu;
là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng, tăng thu nhập quốc dân, tạo ra việc làm
và thu nhập cho người lao động như đầu tư để tạo mới, mở rộng, cải tạo hoặc nâng cấp
đường xá, cầu cống, doanh nghiệp sản xuất, cơ sở dịch vụ,…
b. Đầu tư dịch chuyển
Đầu tư dịch chuyển là phương thức đầu tư trực tiếp; trong đó, việc bỏ vốn nhằm
dịch chuyển quyền sở hữu giá trị tài sản. Trong đầu tư dịch chuyển, không có sự gia tăng
giá trị tài sản.
Đầu tư dịch chuyển có ý nghĩa quan trọng trong hình thành và phát triển thị trường
vốn, thị trường chứng khoán, thị trường hối đoái…, hỗ trợ cho hoạt động đầu tư phát
triển như hoạt động mua bán cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường vốn…
1.1.3.3. Theo ngành đầu tư
a. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật và xã hội.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước…Cơ
sở hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện, nhà trẻ, cơ sở văn hóa, thể thao…
Đối với các nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng rất yếu kém và mất cân đối
nghiêm trọng. Cơ sở hạ tầng cần được đầu tư phát triển, đi trước một bước, tạo tiền đề
phát triển các lĩnh vực kinh tế khác.
b. Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất
b.1. Đầu tư phát triển công nghiệp
Đầu tư phát triển công nghiệp là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các
công trình công nghiệp.
Trong công cuộc phát triển ở Việt Nam hiện nay, đầu tư công nghiệp đất nước
theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa là chính yếu nhằm gia tăng giá trị sản lượng
công nghiệp trong GDP.
Đầu tư chiều sâu là hình thức đầu tư ưu tiên đối với các nước đang phát triển trong
điều kiện còn thiếu vốn, công nghệ và quản lý. Đầu tư chiều sâu cần được xem xét trước
khi có quy định đầu tư mới.
c. Tận dụng năng lực sản xuất - dịch vụ
Trước khi quyết định đầu tư, dù là đầu tư mới hay đầu tư chiều sâu; cần đánh giá
đúng năng lực sản xuất - dịch vụ hiện có. Nếu năng lực sản xuất - dịch vụ của một ngành,
sản phẩm kinh tế - kỹ thuật chưa được tận dụng, trên quan điểm tiết kiệm và hiệu qủa,
cần huy động các giải pháp để sử dụng 100% công suất thiết kế của năng lực sản xuất đã
có.
1.1.4. Các nguồn vốn đầu tư
Trong tổng thu nhập của mỗi nước, nguồn hình thành vốn đầu tư là từ quỹ bù đắp
và quỹ tích lũy. Đây chính là phần còn lại sau khi đã trừ đi phần tiêu dùng, trong đó quỹ
tích lũy là bộ phận quan trọng nhất. Quỹ tích luỹ được hình thành từ các khoản tiết kiệm.
Nền kinh tế càng phát triển, thu nhập càng cao thì tỷ lệ tích lũy càng cao. Đối với các
nước đang phát triển, do thu nhập còn thấp nên quy mô và tỷ lệ tích lũy đều thấp, trong
khi đó nhu cầu nguồn vốn đầu tư rất cao. Vì vậy, rất cần đến nguồn vốn đầu tư nước
ngoài.
Mặt khác, trong xu hướng chu chuyển vốn quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế hiện
nay, ngay cả các nước phát triển vẫn có sự kết hợp giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và
ngoài nước để phát triển kinh tế. Như vậy vốn đầu tư của mỗi nước được hình thành từ
tiết kiệm trong nước và tiết kiệm nước ngoài.
Tiết kiệm trong nước bao gồm tiết kiệm của Nhà nước, tiết kiệm của doanh nghiệp
và tiết kiệm của cộng đồng dân cư. Đây là nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước.
Tiết kiệm của nước ngoài hình thành vốn đầu tư nước ngoài được hình thành dưới
dạng đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài.
1.1.4.1. Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nguồn vốn này có
nhập bình quân đầu người, chính sách lãi suất, chính sách thuế và sự ổn định kinh tế vĩ
mô,…
13
Vốn của dân cư giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, do khả năng
chuyển hóa nhanh chóng thành nguồn vốn đầu tư thông qua các hình thức gửi tiết kiệm,
mua chứng khoán, trực tiếp đầu tư,… Vốn của dân cư cũng dễ dàng chuyển thành nguồn
vốn đầu tư của Nhà nước thông qua các hình thức mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu
kho bạc hay chuyển thành vốn đầu tư của các doanh nghiệp thông qua việc mua trái
phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp phát hành.
Tóm lại, tiết kiệm là một quá trình nền kinh tế dành ra một phần thu nhập ở hiện
tại để tạo ra nguồn vốn cung ứng cho đầu tư phát triển, qua đó nâng cao hơn nữa nhu cầu
tiêu dùng trong tương lai. Tuy vậy, đối với nền kinh tế đang chuyển đổi, bước đầu thực
hiện chính sách công nghiệp hóa do nguồn tiết kiệm trong nước thấp, không đáp ứng đủ
nhu cầu vốn nên cần phải thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài để tạo ra cú hích cho sự
đầu tư phát triển nền kinh tế.
1.1.4.2. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn đầu tư nước ngoài có ưu thế là mang lại
ngoại tệ cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nguồn vốn nước ngoài lại luôn chứa ẩn những nhân
tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc; nguy cơ khủng hoảng nợ; sự
tháo chạy đầu tư; sự gia tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong nước… Do đó, vấn đề huy
động vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách huy động vốn
của các nền kinh tế đang chuyển đổi, đó là: Một mặt phải ra sức huy động vốn nước
ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công nghiệp hóa; mặt khác phải kiểm soát chặt
chẽ sự huy động vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng. Để vượt qua những thử
thách đó đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng tốt các công cụ tài chính trong việc ổn định hóa
môi trường kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho sự vận động vốn nước
ngoài, điều chỉnh và lựa chọn các hình thức thu hút vốn sao cho có lợi cho nền kinh tế.
thanh toán nhằm hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ các chương trình, dự án…
Nguồn vốn ODA tuy có ưu điểm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm
nghèo (phát triển cơ sở hạ tầng; thực hiện các chương trình xã hội, phát triển giáo dục
đào tạo và con người; phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng nông nghiệp, nông thôn và
các địa phương có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) và hỗ trợ cải cách (cải cách chính sách
và thể chế; điều chỉnh cơ cấu và cải cách kinh tế; cải cách hành chính và luật pháp).
15
Tuy nhiên, các nước tiếp nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt những thử
thách rất lớn đó là rủi ro kinh tế vĩ mô (nguy cơ nợ nần, nguy cơ tỷ giá hối đoái, nguy cơ
lệ thuộc nguồn vốn đầu tư bên ngoài và các tệ nạn đi kèm như tham nhũng gây thất thoát
nguồn vốn); rủi ro can thiệp từ bên ngoài (chấp nhận các điều kiện và ràng buộc khắt khe
về thủ tục chuyển giao vốn; động cơ chính trị của các nhà tài trợ). Mỗi tổ chức, mỗi chính
phủ đều có những phương cách và thông lệ riêng trong việc cung cấp ODA nhằm để đạt
được những mục tiêu chính sách riêng của họ. Bên cạnh đó, do trình độ quản lý của các
nước tiếp nhận viện trợ còn thấp nên hiệu qủa sử dụng vốn này không cao, làm cho nhiều
nước lâm vào cảnh nợ nần chồng chất và nền kinh tế không phát triển được. Do đó, vấn
đề quan trọng là cần phải nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA để đạt
được những mục tiêu phát triển kinh tế đã đề ra.
* Vốn viện trợ của các tố chức phi chính phủ (Non-Government Organization
- NGO)
Đây là các khoản viện trợ không hoàn lại. Trước đây loại viện trợ này chủ yếu là
vật chất, phục vụ cho mục đích nhân đạo như cung cấp thuốc men cho các trung tâm y tế,
chỗ ở và lương thực cho các nạn nhân thiên tai… Hiện nay loại viện trợ này được thực
hiện nhiều hơn bằng các chương trình phát triển dài hạn, có sự hỗ trợ của các chuyên gia
như huấn luyện những người làm công tác bảo vệ sức khỏe, thiết lập các dự án tín dụng,
cung cấp nước sạch ở nông thôn, cung cấp dinh dưỡng và sức khỏe ban đầu…
* Những khoản đầu tư thông qua thị trường tài chính
Huy động vốn đầu tư là quá trình tổ chức khai thác các nguồn lực tài chính đưa
vào phục vụ cho đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội. Chính vì thế, chính sách
huy động vốn là hướng vào nâng cao tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư từ các khu vực kinh tế để
gia tăng thêm khối lượng vốn mới cho nền kinh tế. Các công cụ huy động vốn thường
được sử dụng là:
1.1.5.1. Các công cụ thuộc chính sách tài chính – tiền tệ
a. Thuế
Thuế là công cụ để nhà nước huy động, tập trung các nguồn lực tài chính của xã
hội vào ngân sách dưới hình thức cưỡng chế, bắt buộc. Tạo lập nguồn thu cho NSNN là
chức năng cơ bản của thuế. Theo kinh nghiệm phát triển, để có được nguồn thu từ thuế
không những đáp ứng cơ bản các nhu cầu chi tiêu dùng mà còn dành ra một phần thỏa
17
đáng tạo nguồn vốn cho sự đầu tư phát triển, thì đòi hỏi nhà nước phải thiết lập một hệ
thống thuế có hiệu qủa, được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản đó là thuế phải
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia, phải có độ nổi – tính ổn định và phải đảm
bảo tính trung lập và đơn giản.
b. Tín dụng
Tín dụng được xem là chiếc cầu nối giữa các nguồn cung cầu về vốn tiền tệ trong
nền kinh tế. Bằng việc huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các cá nhân, các tổ
chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho những doanh nghiệp, cá nhân kể cả ngân sách đang
gặp thiếu hụt về vốn trên nguyên tắc có hoàn trả, các tổ chức tín dụng góp phần quan
trọng trong việc điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh
không bị gián đoạn, đồng thời còn giúp các doanh nghiệp bổ sung vốn đầu tư mở rộng
hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý, từ đó thúc đẩy kinh
tế phát triển. Tín dụng bao gồm tín dụng Nhà nước và tín dụng ngân hàng.
Xét trên góc độ huy động vốn, tín dụng nhà nước là hoạt động đi vay do nhà nước
tiến hành nhằm cân đối ngân sách khi mà nguồn thu thuế và các nguồn khác không đáp
sâu rộng, quá trình điều tiết và chu chuyển vốn đã vượt khỏi giới hạn của một quốc gia
làm hình thành các quan hệ tín dụng quốc tế, tín dụng không chỉ là một kênh quan trọng
thu hút vốn đầu tư từ trong nước mà còn là một nhân tố thúc đẩy huy động vốn đầu tư
nước ngoài.
c. Các quỹ hỗ trợ tài chính nhà nước
Là công cụ tài chính năng động để đa dạng hóa sự huy động các nguồn lực tài
chính của xã hội vào nhà nước, qua đó tiến hành hỗ trợ đầu tư ở một số lĩnh vực hay hoạt
động có tính chất ưu tiên cần khuyến khích nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã
hội.
Trên góc độ này, quỹ hỗ trợ tài chính của nhà nước có tác dụng rất tích cực trong
việc tăng cường thu hút vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân. Như vậy, tính hợp lý
việc thành lập và phát triển các quỹ hỗ trợ tài chính không những tạo cho nước tăng thêm
công cụ để gia tăng nguồn lực tài chính, thực hiện tốt vai trò quản lý vĩ mô mà còn góp
phần hình thành và phát triển thị trường tín dụng hỗ trợ của nhà nước để hướng vào khai
thác nội lực, nâng tỷ lệ vốn hóa các nguồn tích lũy đưa vào đầu tư phát triển. 19
1.1.5.2. Thị trường tài chính và các công cụ trên thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi tập trung các quan hệ cung cầu về vốn và tại đây các
loại chứng khoán được các chủ thể thị trường sử dụng như là công cụ tài chính để giải
quyết nhu cầu giao lưu vốn. Cụ thể hơn, trên thị trường tài chính, đối với người cần vốn,
chứng khoán là công cụ tài chính để huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn, ngắn
hạn; còn đối với người thừa vốn, thì chứng khoán là công cụ đầu tư để mang lại những
khoản thu nhập nhất định.
Dựa vào khuôn khổ của luật pháp quy định, các chủ thể huy động vốn trên thị
trường tài chính phải chủ động xây dựng chiến lược phát hành chứng khoán một cách có
sẽ làm hạn chế các doanh nghiệp đi vay vốn để đầu tư do khi đó thu nhập có được từ các
dự án đầu tư khó bù được số lãi phải trả cho số tiền cho vay. Tình trạng này kéo dài sẽ
dẫn đến đầu tư của xã hội giảm.
+ Thị trường mở
Là hoạt động mà NHTƯ tham gia vào mua bán chứng khoán trên thị trường tài
chính để thực hiện chính sách tiền tệ. Bằng công cụ này, NHTƯ thực hiện thay đổi mức
cung tín dụng của các TCTD theo hướng mở rộng hay thu hẹp. Khi nền kinh tế mở cần
mở rộng mức cung tiền tệ, NHTƯ thực hiện nghiệp vụ mua bán chứng khoán và ngược
lại.
Đối với một nền kinh tế phát triển, công cụ thị trường mở đã tô thêm vẻ đẹp cho
thị trường tài chính và trở thành công cụ có tính chủ đạo được NHTƯ sử dụng thường
xuyên trong việc thực hiện chính sách tiền tệ và góp phần nâng cao hiệu suất của chính
sách huy động vốn.
Đối với nền kinh tế đang chuyển đổi, do hệ thống thị trường tài chính hoạt động
còn yếu kém và chứng khoán của nó yếu cả về số lượng và chất lượng nên việc sử dụng
công cụ này ở mức rất hạn chế.
+ Dự trữ bắt buộc
Là số tiền mà các TCTD phải gửi lại NHTƯ theo một tỷ lệ phần trăm trên tổng số
tiền gửi để thực hiện chính sách tiền tệ. Dự trữ bắt buộc là công cụ có tính pháp định. Căn
cứ vào các diễn biến tình hình kinh tế và mục tiêu chính sách tiền tệ, NHTƯ có thể đặt ra
yêu cầu dự trữ trong một khuôn khổ giới hạn mà pháp luật cho phép.
21
+ Tỷ giá hối đoái
Gắn liến với sự vận động của hai đồng tiền trong mối tương quan so sánh sức mua
của chúng, tỷ giá hối đoái thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập của những đối
tượng có liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế. Do đó, sự tác động của tỷ giá hối
đoái đến quá trình huy động vốn của nền kinh tế được biểu hiện thông qua những ảnh
khỏi nơi cư trú của một người nhưng trong một số trường hợp, nó cũng bao gồm các hoạt
động như du lịch kinh doanh, tham dự hội nghị và viếng thăm bạn bè và người thân.
+ Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt
nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường
xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến cư trú không phải là
là nơi làm việc của họ.
Nếu xem xét du lịch như là hiện tượng nhân văn, hiện tượng xã hội làm phong phú
thêm nhận thức và cuộc sống con người. Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism
Organization - WTO) đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch bao gồm những hoạt động của
những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình trong thời hạn
không quá một năm liên tục để vui chơi, vì công việc hay vì mục đích khác không liên
quan đến những hoạt động kiếm tiền ở nơi mà họ đến”. Nếu xem du lịch không chỉ đơn
thuần là hoạt động xã hội mà còn là hoạt động kinh tế, du lịch được coi là “toàn bộ các
hoạt động mà mục tiêu là kết hợp các hoạt động của các đối tượng tham gia vào quá
trình, kết hợp giá trị của các tài nguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn với các dịch vụ,
hàng hóa để tạo ra sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của khách”.
Theo Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến
đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu
tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoản thời gian dài nhất định”.
Nói chung, du lịch là một khía cạnh của con người do nhu cầu về thể chất và tinh
thần. Sở dĩ có sự khác biệt nhau giữa các định nghĩa về du lịch vì du lịch tuỳ thuộc vào
hoàn cảnh của từng đất nước, từng khu vực,… Hơn nữa, trình độ phát triển du lịch của
mỗi nước khác nhau nên nhận thức về nội dung du lịch cũng không như nhau. Ðối với
nước ta, điều này có ý nghĩa to lớn, chúng ta đánh giá đúng tiềm năng du lịch, từ đó có
giải pháp huy động vốn để đầu tư, khai thác thật sự khoa học, đồng bộ và thống nhất
23
nhằm chuyển hoá chúng thành các sản phẩm du lịch đa dạng và phong phú đáp ứng được
du lịch phải có quy mô cần thiết. Khu du lịch gồm khu du lịch quốc gia và khu du lịch địa
phương.
* Điểm du lịch quốc gia là nơi có một vài tài nguyên du lịch hấp dẫn hoặc công
trình riêng biệt phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.
* Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp
dịch vụ du lịch gắn với các tuyên giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường
hàng không nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
1.2.1.5. Tài nguyên và môi trường du lịch
* Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân
văn đang được khai thác và chưa được khai thác.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu,
thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du
lịch.
- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn
nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động
sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử
dụng phục vụ mục đích du lịch.
* Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và xã hội nơi diễn ra các hoạt động du
lịch. Môi trường du lịch bao gồm các nhân tố tự nhiên, kinh tế xã hội và nhân văn trong
đó du lịch tồn tại và phát triển.
Môi trường du lịch có liên quan mật thiết đến tài nguyên du lịch, việc khai thác
hợp lý, cải tạo và tái tạo các tài nguyên du lịch sẽ là chất lượng môi trường du lịch tốt
hơn, tăng sức hấp dẫn của các khu du lịch. Ngược lại, việc khai thác không đồng bộ,
không có biện pháp tái tạo khu du lịch sẽ phá vỡ sự cân bằng sinh thái của khu vực, làm
giảm chất lượng môi trương du lịch.
1.2.1.6. Quan điểm phát triển du lịch bền vững
Trong thời đại của toàn cầu hóa, phát triển du lịch bền vững không chỉ là một hiện
tượng nhất thời, mà còn là một xu thế của thời đại và có ý nghĩa quan trọng không chỉ về
25
ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam.