ĐỀ TÀI " MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NÔNG THÔN MỸ XUYÊN " potx - Pdf 12


TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

HUỲNH LÊ XUÂN HÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
NÔNG THÔN MỸ XUYÊN Chuyên ngành: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
LONG XUYÊN, tháng 6 năm 2008
Người chấm, nhận xét 2: Ths. NGUYỄN XUÂN VINH

Khóa luận được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ luận văn
Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh ngày … tháng… năm …… LỜI CẢM ƠN


Trãi qua bốn năm học tập dưới mái trường đại học, em luôn được sự chỉ
bảo tận tình của các thầy cô nhất là các thầy cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh
doanh đã tạo cho em một nền tảng kiến thức khá vững chắc trước khi bước vào
cuộc sống thực tế. Đặc biệt qua thời gian thực tập ở Ngân hàng Mỹ Xuyên nhờ sự
giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và các cán bộ nhân viên ở Ngân hàng nên em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Bằng tất cả tấm lòng em xin trân trọng gửi
lời cảm ơn đến:

Ngân hàng Mỹ Xuyên là một ngân hàng mới chuyển lên thành ngân hàng đô thị
trong năm 2008, với quy mô và nguồn vốn còn hạn chế và lĩnh vực hoạt động còn hạn
hẹp nhưng trong 3 năm qua (2005, 2006, 2007) Ngân hàng đã có lợi nhuận tăng cao với
quy mô tăng trưởng.
Bên cạnh việc huy động vốn thì Ngân hàng chủ yếu là cho vay ở lĩnh vực nông
nghiệp với nhiều hình thức cho vay khác nhau. Và tất nhiên, cùng với sự tăng trưởng
của quy mô, nguồn vốn và lợi nhuận thì tình hình huy động vốn và tình hình cho vay
của Ngân hàng trong 3 năm qua cũng tăng trưởng không ngừng, năm sau luôn cao hơn
năm trước. Ngân hàng huy động nhiều hơn, cho vay nhiều hơn với các sản phẩm ngày
càng mở rộng và phong phú hơn.
Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng quy mô cho vay và lợi nhuận ngày càng cao
là việc rủi ro trong tín dụng của Ngân hàng cũng không ngừng tăng lên. Song, nếu xét
về tỷ trọng của nợ quá hạn và nợ xấu trong tổng dư nợ cho vay thì Ngân hàng Mỹ
Xuyên đã cho vay hiệu quả khi tỷ trọng này không cao, vẫn nằm trong mức độ cho phép
mà Ngân hàng Nhà nước quy định. Nhưng như vậy không có nghĩa là Ngân hàng Mỹ
Xuyên có thể chủ quan và lơ là trong việc quản lý các khoản nợ vay và quản lý rủi ro tín
dụng vì qua phân tích và tính toán thì hệ số rủi ro tín dụng của Ngân hàng khá cao và tỷ
lệ thu nợ của Ngân hàng lại giảm qua từng năm chứng tỏ Ngân hàng vẫn có những rủi
ro tín dụng không nhỏ và đang tiềm ẩn, do đó Ngân hàng cần có những biện pháp nhằm
hạn chế rủi ro tín dụng trong quá trình hoạt động.
Trong phạm vi bài luận văn này em xin đưa ra một số biện pháp nhằm hạn chế
rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Mỹ Xuyên như: biện pháp nhằm tăng cường đội ngũ cán
bộ tín dụng và đội ngũ nhân viên giỏi chuyên môn, những biện pháp đối với công tác
quản lý rủi ro tại Ngân hàng Mỹ Xuyên.

2.8.2. Những thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra 13
2.8.3. Những chỉ tiêu đánh giá – đo lường rủi ro tín dụng 14
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN NÔNG THÔN MỸ XUYÊN 15
3.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NÔNG THÔN
MỸ XUYÊN 15
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 15
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý 17
3.1.3 Chức năng và phạm vi hoạt động của Ngân hàng Mỹ Xuyên 20
3.1.4. Vai trò của ngân hàng Mỹ Xuyên 21
3.2. KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG MỸ XUYÊN 3 NĂM 21
3.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh 21
3.2.2. Những thuận lợi và khó khăn 23
3.3. NGÂN HÀNG MỸ XUYÊN TRONG BỐI CẢNH TIẾN LÊN NGÂN HÀNG
ĐÔ THỊ 24
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG MỸ XUYÊN 26
4.1 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG MỸ XUYÊN 26
4.1.1 Phân tích tình hình huy động vốn 26
4.1.2 Phân tích tình hình cho vay 28
4.1.3 Tình hình thu nợ 32
4.1.4 Phân tích tình hình dư nợ 34
4.2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG MỸ XUYÊN 36
4.2.1 Thực trạng rủi ro huy động vốn 36
4.2.2 Thực trạng rủi ro cho vay 37
4.2.2.1 Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng 37
4.2.2.2 Tình hình nợ xấu tại Ngân hàng 40
4.2.2.3 Những nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn tại Ngân hàng Mỹ Xuyên 41
4.2.3. Đánh giá rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Mỹ Xuyên 42
4.2.4. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng 43
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1: Sơ đồ bộ máy quản lý tại ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Mỹ Xuyên
17
Biểu đồ 1: Thể hiện kết quả kinh doanh của Ngân hàng 22
Biểu đồ 2: Thể hiện tình hình huy động vốn trong 3 năm 27
Biểu đồ 3: Thể hiện doanh số cho vay của Ngân hàng trong 3 năm qua 31

mại cổ phần nông thôn Mỹ Xuyên làm nơi thực tập và tìm hiểu. Và qua quá trình tiếp
xúc và tìm hiểu đó, em nhận thấy: tuy có quá trình hoạt động gần 20 năm và đã kịp
khẳng định vị trí của mình đối với các ngân hàng khác và đối với khách hàng nhưng với
quy mô nhỏ nên Ngân hàng Mỹ Xuyên hoạt động chủ yếu là huy động và cho vay, và
hoạt động cấp tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất và có rủi ro cao nhất
cho Ngân hàng trong quá trình kinh doanh. Nhưng với quy mô còn hạn hẹp, Ngân hàng
Mỹ Xuyên còn có nhiều hạn chế trong hoạt động và một trong những hạn chế đó là
Ngân hàng chưa có những biện pháp để quản lý và giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín dụng
gây ra.
Vì những lý do nêu trên nên em chọn đề tài “Một số biện pháp hạn chế rủi ro
tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Mỹ Xuyên” làm đề tài
nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại giá trị cao cho ngân hàng nhưng cũng
là hoạt động cần thiết phải có những biện pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Một
nguyên nhân nào đó tác động đến khách hàng cũng có thể dẫn đến những rủi ro tín dụng
cho ngân hàng.

Do đó mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là:
- Đánh giá sơ lược kết quả hoạt động của Ngân hàng Mỹ Xuyên.
- Tìm hiểu và đánh giá về thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Mỹ Xuyên.
- Đưa ra những biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Mỹ
Xuyên.
1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vận dụng kiến thức đã học ở trường, kiến thức tích lũy được trong quá trình học
tập và nghiên cứu qua sách báo, em sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Thu thập tài liệu và số liệu thực tế từ các báo cáo, các tài liệu của Ngân hàng
thương mại cổ phần nông thôn Mỹ Xuyên trong 3 năm 2005, 2006, 2007.
- Các tài liệu trên các phương tiện truyền thông như báo, internet…
- Sử dụng các phương pháp: thống kê, phân tích, so sánh các số liệu và dữ liệu

2.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí
nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng
số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch
vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng có số
lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế. Sự có mặt của ngân hàng thương mại trong
hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng: ở đâu có một hệ
thống ngân hàng thương mại phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của
nền kinh tế, xã hội và ngược lại.
Trong lịch sử phát triển của hệ thống Ngân hàng, các nhà kinh tế học, các nhà
quản lý kinh tế đưa ra khái niệm về Ngân hàng thương mại như sau:
- Theo Smishkin: “Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay tiền”.
- Theo luật Ngân hàng của Thổ Nhĩ Kỳ: “Ngân hàng thương mại là hội trách
nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ
hối đoái, nghiệp vụ hối phiếu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác”.
- Theo luật Ngân hàng của Pháp năm 1942: “Ngân hàng thương mại là những xí
nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay
hình thức khác có số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu tín dụng
hay nghiệp vụ tài chính”.
- Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại
là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền
gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết
khấu và làm phương tiện thanh toán”.
- Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng 10/1998: “Ngân
hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
- Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện
các mục tiêu kinh tế của nhà nước”.

- Nhóm các nghiệp vụ khác.
2.2. KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG
2.2.1. Khái niệm, bản chất, chức năng và vai trò của tín dụng
Tín dụng là một trong những quan hệ xã hội hình thành từ rất sớm gắn liền với
sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa. Cơ sở hình thành và ra đời của tín dụng,
trước hết, xuất phát từ nhu cầu bù đắp thiếu hụt tiền bạc trong sản xuất kinh doanh hoặc
trong cuộc sống. Kế đến là có sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa.
 Khái niệm
Tín dụng ngân hàng (sau đây gọi tắt là tín dụng) là quan hệ chuyển nhượng
quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một
khoản chi phí nhất định.
Tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội dung sau:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn.
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
Nếu thiếu một trong các nội dung trên thì không còn là quan hệ tín dụng.  Bản chất của tín dụng
Tín dụng thể hiện quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn giữa người sở hữu
và người sử dụng. Bản chất của sự chuyển nhượng này là quan hệ xã hội giữa người đi
vay và người cho vay. Do đó, quan hệ giữa người cho vay và người đi vay như thế nào
thì quan hệ tín dụng như thế ấy. Chẳng hạn, trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan
hệ giữa người cho vay và đi vay chỉ là quan hệ điều hòa việc sử dụng vốn theo một kế
hoạch do Nhà nước vạch sẵn thì quan hệ tín dụng ở đây chỉ là hình thức chứ không thực
sự thể hiện quan hệ cân nhắc giữa chi phí và hiệu quả. Ngược lại, trong nền kinh tế thị
trường quan hệ giữa người cho vay và người đi vay là quan hệ trao đổi và chuyển
nhượng quyền sử dụng vốn trên cơ sở so sánh giữa lợi nhuận và chi phí nên quan hệ ở
đây hình thành trên cơ sở có cân nhắc và tính toán cẩn thận giữa lợi ích thu được và chi
phí sử dụng vốn.

triển nông nghiệp để giải quyết những nhu cầu tối thiểu của xã hội đồng thời tạo điều
kiện để phát triển các ngành kinh tế khác.
Bên cạnh đó, Nhà nước còn tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh tế
mũi nhọn, mà phát triển các ngành này sẽ tạo cơ sở và lôi cuốn các ngành kinh tế khác
như sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí.
Thứ tư: Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của
các xí nghiệp.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức.
Nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn và có hiệu quả.
Khi sử dụng vốn vay ngân hàng xí nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng, tức
là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay đúng hạn và tôn trọng các điều kiện khác đã ghi trong
hợp đồng tín dụng. Bằng các tác động như vậy đòi hỏi xí nghiệp phải quan tâm đến việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn; tạo điều
kiện để nâng cao doanh lợi cho xí nghiệp.
Thứ năm: Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài.
Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một nước luôn gắn liền với thị
trường thế giới, kinh tế “đóng” đã nhường bước cho kinh tế “mở”, vì vậy tín dụng ngân
hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền các nền kinh tế các nước với
nhau.
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng
vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa, đồng thời nhờ nguồn tín
dụng bên ngoài để công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế.
2.2.2. Phân loại tín dụng
Tín dụng có nhiều loại hay nhiều hình thức khác nhau. Việc phân loại tín dụng
nhằm hiểu thêm sự khác biệt của từng loại tín dụng và qua đó chúng ta có thể sử dụng
hoặc hiểu được tín dụng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Phân loại tín dụng phải căn cứ
vào những tiêu thức cụ thể và khi đề cập đến các loại tín dụng được phân loại là ám chỉ
tín dụng theo tiêu thức phân loại đó.
 Dựa vào mục đích của tín dụng – Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có
thể phân chia thành các loại sau:

năng tài chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
2.2.3. Các nguyên tắc tín dụng
Cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầu đảm bảo cho ngân hàng
duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định. Muốn vậy, hoạt động cho vay của ngân hàng
phải lành mạnh và có hiệu quả. Cụ thể, các tổ chức tài chính phải thực hiện tốt việc
kiểm tra khả năng hoàn trả của người xin vay trước khi cho vay, đảm bảo tính độc lập
trong quá trình kiểm tra, tuân thủ quy trình cho vay, đảm bảo việc cho vay chỉ tiến hành
trên cơ sở có bảo đảm theo quy định.
Ngân hàng chỉ cho vay đối với khách hàng khi khách hàng đảm bảo được các
nguyên tắc sau:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Đây là
nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng vốn đúng mục đích thì khách hàng mới có thể thực
hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo lợi ích dự kiến và do vậy mới có
thể thu hồi được vốn để hoàn trả cho ngân hàng. Nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro
đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng vốn vay để thực hiện các hành vi mà
pháp luật cấm.
- Phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn. Nguyên tắc này đảm bảo phương châm
hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay” và thực hiện nguyên tắc trong hạch toán
kinh doanh “lấy thu bù chi và có lãi”.
2.2.4. Điều kiện tín dụng
Mặc dù khi cho vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải đảm bảo 2
nguyên tắc trên, nhưng thực tế không phải khách hàng nào cũng có thể tuân thủ đúng
các nguyên tắc này. Do vậy, để giúp cho việc đảm bảo các nguyên tắc vay vốn, ngân
hàng chỉ xem xét cho vay khi khách hàng đã thỏa mãn các điều kiện vay nhất định. Các
điều kiện vay vốn khách hàng cần có bao gồm:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân
sự theo quy định của pháp luật.
- Có mục đích vay vốn hợp pháp.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
- Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả.

khả năng trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng tín dụng nhưng tổ chức tín
dụng có đủ cơ sở để đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời
hạn trả nợ đã cơ cấu lại.
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với nợ nhóm 2 là 5%.
 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là không có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản
nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
Bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn 90 ngày theo thời hạn đã cơ
cấu lại.
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với nợ nhóm 3 là 20%.
 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là
khả năng tổn thất cao. Bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày theo
thời hạn đã cơ cấu lại.
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với nợ nhóm 4 là 50%.
 Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Các khoản nợ được tổ chức tín
dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn
đã được cơ cấu lại.
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với nợ nhóm 5 là 100%.
 Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và / hoặc lãi đã quá
hạn.
Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả
đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để gia hạn nợ. Để đảm bảo quản lý

ngân hàng nhưng do trước đây nền kinh tế chưa đòi hỏi nhiều dịch vụ như hiện nay, vì
thế rủi ro đơn giản và dễ nhận thấy. Ngày nay, những hoạt động kinh tế phức tạp và đa
dạng nên đòi hỏi Ngân hàng phải thực hiện các nghiệp vụ ngày càng lớn, phức tạp hơn
mới có thể phát triển được trong nền kinh tế sôi động đầy bắt trắc; do đó, rủi ro cho các
ngân hàng thương mại cũng tăng lên mà chúng ta khó lường trước được. Để hiểu được
rủi ro thì có thể hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi người.
Theo Frank Night nhà kinh tế học Mỹ: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường
được”.
Allan Willet cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc liên quan đến việc xuất hiện một số
biến cố không mong đợi”.
Theo lý thuyết chứng khoán: “Rủi ro là sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế và
lợi nhuận dự tính mạng lại từ đầu tư”.
Còn trong lĩnh vực ngân hàng thì: “Rủi ro là những biến cố không mong đợi,
những bất trắc xảy ra gây mất mát, thiệt hại về tài sản và thu nhập của ngân hàng”.
Việc loại trừ rủi ro ra khỏi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là điều không
thể thực hiện được, song chúng ta có thể lường trước được và giảm thiểu rủi ro đến mức
thấp nhất trong khả năng cho phép, nhằm đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được
thực hiện thuận lợi và mang lại lợi nhuận. 2.7.2. Các loại rủi ro
Các ngân hàng trong quá trình hoạt động của mình cũng gặp rất nhiều rủi ro, từ
rủi ro môi trường đến rủi ro bên trong. Các loại rủi ro mà các ngân hàng thường gặp
nhất trong quá trình kinh doanh của mình gồm có:
 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân
hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không
đúng hạn cho ngân hàng.
Như vậy có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ
mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng lại không thực hiện hoặc không đủ

để khống chế và kiểm soát hoạt động đầu ra của ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro.
Tóm lại, nhận diện rủi ro là công việc cần thiết và chính yếu trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng phải chủ động nắm bắt và lường trước được rủi
ro thì mới đưa được những giải pháp xử lý kịp thời, nhằm hạn chế tối đa những thiệt
hại, đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được lành mạnh và hiệu quả.
2.8. RỦI RO TÍN DỤNG
2.8.1. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
 Nguyên nhân chủ quan
 Nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng:
Rủi ro tín dụng biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ,
vốn bị ứ động khó có khả năng thu hồi, nợ quá hạn ngày càng lớn, các khoản lãi chưa
thu trả ngày càng gia tăng… Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
- Đối với khách hàng cá nhân:
Khi các cá nhân vay vốn gặp phải các nguy cơ sau đây thường không trả được
nợ cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi:
+ Thu nhập không ổn định.
+ Bị sa thải, thất nghiệp.
+ Hoàn cảnh gia đình khó khăn.
+ Sử dụng vốn sai mục đích.
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp thường không trả nợ vay cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi
khi gặp phải các trường hợp sau:
+ Thị trường biến động, không ổn định.
+ Khả năng tài chính của doanh nghiệp bị giảm do lỗ lã trong kinh doanh.
+ Sử dụng vốn sai mục đích.
+ Bị cạnh tranh và mất thị trường tiêu thụ.
+ Sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước.
 Nguyên nhân xuất phát từ phía ngân hàng:
Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng tạo ra có thể là:
- Do ngân hàng chạy theo lợi nhuận, đặt mong ước về lợi nhuận cao hơn các

khu vực không ổn định….
2.8.2. Những thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra
 Đối với bản thân ngân hàng
Sự tổn thất của ngân hàng khi có rủi ro xảy ra có thể là những thiệt hại về vật
chất và uy tín của ngân hàng.
Rủi to tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
như thiếu tiền chi trả cho khách hàng vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của ngân hàng là
nguồn vốn huy động mà khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi trong cho vay
thì khả năng thanh toán của ngân hàng dần dần lâm vào tình trạng thiếu hụt. Như vậy,
rủi ro tín dụng sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thanh toán và dần làm cho
ngân hàng bị thua lỗ có nguy cơ phá sản.
 Đối với nền kinh tế xã hội
Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Vì
vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm phá sản một vài ngân hàng, khi đó có khả năng
phát sinh lây lan sang các ngân hàng khác và tạo cho dân chúng tâm lý sợ hãi. Lúc đó
dân chúng sẽ đua nhau đến các ngân hàng để rút tiền trước thời hạn. Điều đó cũng có
thể đưa đến phá sản hàng loạt các ngân hàng và rủi ro tín dụng như vậy đã tác động đến
toàn bộ nền kinh tế, do đó rủi ro tín dụng là vấn đề chính phủ phải quan tâm, đặc biệt là
ngân hàng trung ương phải khuyến cáo thường xuyên thông qua công tác kiểm tra, thanh
tra, chiết khấu, tái chiết khấu và sẵn sàng tài trợ cho các ngân hàng thương mại khi có các
biến cố rủi ro xảy ra.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới, vì trong điều
kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay, nền kinh tế của quốc gia đều
phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư
giữa các nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước luôn ảnh hưởng trực
tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan. Thực tế đã chứng minh qua cuộc khủng
hoảng tài chính Châu Á (1997) và mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ ở
Mêxicô (2001-2002).
Từ những vấn đề trên cho thấy rủi ro tín dụng là vấn đề rất nghiêm trọng mà các
nước phải quan tâm.

CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN NÔNG THÔN MỸ XUYÊN

3.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NÔNG THÔN
MỸ XUYÊN
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
- Tên kinh doanh: Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Mỹ Xuyên.
- Tên tiếng Anh: MY XUYEN RURAL COMMERCIAL JOINT STOCK
BANK.
- Tên viết tắt là: Ngân hàng Mỹ Xuyên hoặc MXBANK.
- Trụ sở đặt tại 248 Trần Hưng Đạo, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang.
Tiền thân của Ngân hàng Mỹ Xuyên là Quỹ tín dụng Mỹ Xuyên được thành lập
vào năm 1989 hoạt động theo quyết định thành lập và cấp phép của Ủy Ban Nhân Dân
thị xã Long Xuyên.
Đến năm 1992, do nhu cầu phát triển kinh tế và để chấn chỉnh hoạt động ngành
kinh doanh tiền tệ cả nước, pháp lệnh về Ngân hàng và các tổ chức tài chính ra đời.
Trong bối cảnh đó, Quỹ tín dụng Mỹ Xuyên có đủ điều kiện để chuyển thể và phát triển
thành Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Mỹ Xuyên với số vốn điều lệ là 303
triệu.
Hiện nay vốn điều lệ của Ngân hàng Mỹ Xuyên là 500 tỷ đồng và trong bối cảnh
chuyển lên Ngân hàng đô thị, Ngân hàng có mục tiêu nâng vốn điều lệ lên 1,000 tỷ đồng
vào cuối năm tài chính 2008, lên 2,500 tỷ đồng năm 2009 và lên 3,500 tỷ đồng vào năm
2010.
Ngân hàng hiện đang hoạt động trong lĩnh vực Tài chính Ngân hàng với 2 lĩnh
vực chính là dịch vụ Ngân hàng Cá nhân và dịch vụ Ngân hàng Doanh nghiệp.
Trên 15 năm hoạt động chuyên đầu tư phát triển nền kinh tế nông nghiệp nông
thôn, Ngân hàng Mỹ Xuyên đã từng bước mở rộng mạng lưới hoạt động khắp tỉnh An
Giang. Hiện nay Ngân hàng Mỹ Xuyên bao gồm 2 Chi nhánh và 10 phòng giao dịch;
trong tương lai sẽ tiếp tục phát triển mạng lưới khắp cả nước, đặc biệt là phát triển ở

- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay góp sản xuất kinh doanh
- Cho vay góp sản xuất kinh doanh (tín
chấp)
- Cho vay góp mua xe
C. Cho vay trả góp:
- Cho vay góp mùa vụ
- Cho vay góp kinh doanh nông thôn
- Cho vay góp sản xuất kinh doanh
- Cho vay góp Cán bộ công nhân viên
- Cho vay góp doanh nghiệp
- Cho vay góp mua xe
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status