ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
1
LỜI GIỚI THIỆU
Bước vào thế kỉ 21, dường như Công nghệ thông tin đã không còn xa lạ với con người
Việt Nam. Máy tính và internet ngày càng trở nên thân thuộc hơn với cuộc sống của con
người. Ta sử dụng máy tính cho nhiều mục đích như: học tập, giải trí, công việc, liên
lạc,…Việc tìm hiểu kiến thức về máy tính, phần cứng cũng như phần mềm đã không còn quá
xa vời với sự phát triển rộng rãi của internet…
Cùng với những tiến bộ nhanh chóng của kĩ thuật máy tính điện tử, tin học đã dần dần
hình thành và phát triển thành ngành khoa học độc lập từ những năm 1960. Nội dung của tin
học là việc mô phỏng các cơ chế hoạt động thông tin của bộ óc con người, trên cơ sở đó tạo ra
các máy móc thực hiện tự động các quá trình xử lí thông tin và tri thức với tốc độ nhanh, khả
năng lưu trữ thông tin lớn, từ đó mở rộng ứng dụng vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người.
Các lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của tin học bao gồm: thuật toán và cấu trúc dữ liệu, kiến trúc
máy tính, hệ điều hành, tính toán số và kí hiệu, ngôn ngữ lập trình, phương pháp luận và công
nghệ phần mềm, cơ sở dữ liệu và các hệ tìm kiếm thông tin, trí tuệ nhân tạo và người máy,
giao tiếp người - máy". Công nghệ thông tin là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh
vực khác nhau như phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập
trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc dữ liệu. Tóm lại, bất
cứ thứ gì mà biểu diễn dữ liệu, thông tin hay tri thức trong các định dạng nhìn thấy được,
thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa phương tiện nào thì đều được xem là phần con của lĩnh
vực công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin cung cấp cho các doanh nghiệp bốn nhóm dịch
vụ lõi để giúp thực thi các chiến lược kinh doanh đó là: quá trình tự động kinh doanh, cung
cấp thông tin, kết nối với khách hàng và các công cụ sản xuất.
Qua nhiều thời gian, đi kèm với sự phát triển của phần cứng máy tính là sự tìm tòi phát
triển không ngừng của các hệ điều hành máy tính. Nhiều hệ điều hành được tạo ra để đáp ứng
nhu cầu sử dụng của con người như Windows, Linux,…và qua đây chúng ta sẽ tìm hiểu một
số thao tác đơn giản trên máy tính, cách cài đặt và sử dụng một số Hệ điều hành thân thuộc
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
4
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ổ cứng − Hard Disk Drive − HDD.
Phân vùng − Partition.
Hệ thống tập tin hiệu năng cao HPFS − High Performance File System – HPFS.
Bảng cấp phát tập tin − File Allocation Table – FAT.
Hệ thống tập tin công nghệ mới − New Technology File System − NTFS.
HÌNH 2: CẤU TẠO Ổ CỨNG. 15
HÌNH 3: CẤU TẠO Ổ CỨNG. 16
HÌNH 4: NGUYÊN NHÂN PHÂN MẢNH. 18
HÌNH 5: NGUYÊN NHÂN PHÂN MẢNH. 20
HÌNH 6: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 22
HÌNH 7: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 22
HÌNH 8: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 23
HÌNH 9: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 24
HÌNH 10: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 25
HÌNH 11: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 26
HÌNH 12: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 27
HÌNH 13: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 27
HÌNH 14: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 28
HÌNH 15: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 29
HÌNH 16: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. 30
HÌNH 17: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN WINDOWS. 31
HÌNH 18: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN WINDOWS. 33
HÌNH 19: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN WINDOWS. 34
HÌNH 20: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN WINDOWS. 36
HÌNH 21: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN WINDOWS. 37
HÌNH 22: TÁC HẠI PHÂN MẢNH. 39
HÌNH 23: TÁC HẠI PHÂN MẢNH. 40
HÌNH 24: CHỐNG PHÂN MẢNH. 41
HÌNH 25: CHỐNG PHÂN MẢNH. 42
HÌNH 26: CHỐNG PHÂN MẢNH. 43
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
6
HÌNH 27: CHỐNG PHÂN MẢNH. 43
d. Cylinder : 13
e. Trục quay : 13
f. Đầu đọc/ghi : 14
g. Cần di chuyển đầu đọc/ghi : 14
3. Khái niệm phân mảnh: (chung cho windows và linux) 15
4. Nguyên nhân phân mảnh: 17
5. Cơ chế ghi file lên ổ cứng: 21
a. Cơ chế ghi dữ liệu trên Linux: 21
b. Cơ chế ghi dữ liệu trên Windows : 31
6. Tác hại của phân mảnh dữ liệu : (linux và window) 39
II. Chống Phân Mảnh (cách giải quyết) : 41
1. Chống phân mảnh (Defragmenter): 41
2. Các phần mềm khác: 47
a. Piriform Defraggler : 47
b. IObit Smart Defrag: 48
c. Auslogics Disk Defrag Free: 49
d. MyDefrag: 50
e. Glarysoft Disk SpeedUp: 51
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
8
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN 53
1. Ổ cứng là phần chậm nhất trong hệ thống máy: 53
2. Phân mảnh trong ổ cứng gây nhiều hiệu quả xấu: 53
3. Cài cho máy tính một công nghệ cải thiện tốc độ: 53
4. Máy chủ thường xuyên bị ảnh hưởng: 53
5. Điều hành hệ thống không bị ngắt đoạn: 54
6. Chống phân mảnh mặc dù dung lượng trống còn ít: 54
7. Ngăn chặn sự phân mảnh trước khi nó xảy ra: 54
Ổ cứng vật lý được chia thành nhiều phân vùng: C, D, E , , Z.
Ở đây, ổ C gọi là 1 phân vùng trên ổ cứng.
Phân mảnh:
Là hiện tượng 1 file khi lưu trên 1 phân vùng nào đó sẽ bị chia cắt thành nhiều phần để lưu
vào nhiều vị trí khác nhau trên phân vùng.
Chống/Giải phân mảnh:
Là việc tổ chức lại các vùng trống trên phân vùng để 1 file có thể được lưu trên 1 vị trí trống
của phân vùng.
Liên quan tới vấn đề này có 2 nhóm câu hỏi quan trọng đặt ra:
1. Hiện tượng bị Phân mảnh trên ổ cứng là gì?Nguyên nhân?Cơ chế? Tác hại?Khắc phục phân
mảnh?
2. Chống phân mảnh là làm gì? Họat động của các chương trình chống phân mảnh?
Để trả lời được 2 câu hỏi trên chúng ta cùng tìm hiểu nội dung chi tiết.
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
10
CHƯƠNG 2 : TÌM HIỂU VỀ ĐỀ TÀI
I. Vấn đề phân mảnh:
1. Cấu tạo và thông tin về của ổ cứng:
a. Thông tin sơ bộ:
Ổ đĩa cứng, hay còn gọi là là thiết bị dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm đĩa
hình tròn phủ vật liệu từ tính.
Ổ đĩa cứng là loại bộ nhớ "không thay đổi" (non-volatile), có nghĩa là chúng không bị
mất dữ liệu khi ngừng cung cấp nguồn điện cho chúng.
Ổ đĩa cứng là một thiết bị rất quan trọng trong hệ thống bởi chúng chứa dữ liệu thành
sau:
Cụm đĩa: Bao gồm toàn bộ các đĩa, trục quay và động cơ.
Đĩa từ.
Trục quay: truyền chuyển động của đĩa từ.
Động cơ: Được gắn đồng trục với trục quay và các đĩa.
Cụm đầu đọc:
Đầu đọc (head): Đầu đọc/ghi dữ liệu.
Cần di chuyển đầu đọc (head arm hoặc actuator arm).
Cụm mạch điện:
Mạch điều khiển: có nhiệm vụ điều khiển động cơ đồng trục, điều khiển sự di chuyển
của cần di chuyển đầu đọc để đảm bảo đến đúng vị trí trên bề mặt đĩa.
Mạch xử lý dữ liệu: dùng để xử lý những dữ liệu đọc/ghi của ổ đĩa cứng.
Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer): là nơi tạm lưu dữ liệu trong quá trình đọc/ghi dữ liệu.
Dữ liệu trên bộ nhớ đệm sẽ mất đi khi ổ đĩa cứng ngừng được cấp điện.
Đầu cắm nguồn cung cấp điện cho ổ đĩa cứng.
Đầu kết nối giao tiếp với máy tính.
Cầu đấu thiết đặt (tạm dịch từ jumper) thiết đặt chế độ làm việc của ổ đĩa cứng: Lựa
chọn chế độ làm việc của ổ đĩa cứng (SATA 150 hoặc SATA 300) hay thứ tự trên các
kênh trên giao tiếp IDE (master hay slave hoặc tự lựa chọn), lựa chọn các thông số làm
việc khác
Vỏ đĩa cứng:
Vỏ ổ đĩa cứng gồm các phần: Phần đế chứa các linh kiện gắn trên nó, phần nắp đậy lại để
bảo vệ các linh kiện bên trong.
Vỏ ổ đĩa cứng có chức năng chính nhằm định vị các linh kiện và đảm bảo độ kín khít để
không cho phép bụi được lọt vào bên trong của ổ đĩa cứng.
Ngoài ra, vỏ đĩa cứng còn có tác dụng chịu đựng sự va chạm (ở mức độ thấp) để bảo vệ ổ đĩa
cứng.
2. Các khái niệm khác:
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
14
Trục quay là trục để gắn các đĩa từ lên nó, chúng được nối trực tiếp với động cơ quay
đĩa cứng. Trục quay có nhiệm vụ truyền chuyển động quay từ động cơ đến các đĩa từ.
Trục quay thường chế tạo bằng các vật liệu nhẹ (như hợp kim nhôm) và được chế tạo
tuyệt đối chính xác để đảm bảo trọng tâm của chúng không được sai lệch - bởi chỉ một sự sai
lệch nhỏ có thể gây lên sự rung lắc của toàn bộ đĩa cứng khi làm việc ở tốc độ cao, dẫn đến
quá trình đọc/ghi không chính xác.
f. Đầu đọc/ghi :
Đầu đọc đơn giản được cấu tạo gồm lõi ferit (trước đây là lõi sắt) và cuộn dây (giống
như nam châm điện). Gần đây các công nghệ mới hơn giúp cho ổ đĩa cứng hoạt động với mật
độ xít chặt hơn như: chuyển các hạt từ sắp xếp theo phương vuông góc với bề mặt đĩa nên các
đầu đọc được thiết kế nhỏ gọn và phát triển theo các ứng dụng công nghệ mới.
Đầu đọc trong đĩa cứng có công dụng đọc dữ liệu dưới dạng từ hoá trên bề mặt đĩa từ
hoặc từ hoá lên các mặt đĩa khi ghi dữ liệu.
Số đầu đọc ghi luôn bằng số mặt hoạt động được của các đĩa cứng, có nghĩa chúng nhỏ hơn
hoặc bằng hai lần số đĩa (nhỏ hơn trong trường hợp ví dụ hai đĩa nhưng chỉ sử dụng 3 mặt).
g. Cần di chuyển đầu đọc/ghi :
Cần di chuyển đầu đọc/ghi là các thiết bị mà đầu đọc/ghi gắn vào nó. Cần có nhiệm vụ
di chuyển theo phương song song với các đĩa từ ở một khoảng cách nhất định, dịch chuyển và
định vị chính xác đầu đọc tại các vị trí từ mép đĩa đến vùng phía trong của đĩa (phía trục
quay).
Các cần di chuyển đầu đọc được di chuyển đồng thời với nhau do chúng được gắn
chung trên một trục quay (đồng trục), có nghĩa rằng khi việc đọc/ghi dữ liệu trên bề mặt (trên
và dưới nếu là loại hai mặt) ở một vị trí nào thì chúng cũng hoạt động cùng vị trí tương ứng ở
các bề mặt đĩa còn lại.
vùng đã được sử dụng tới sector cuối cùng thì nó sẽ ghi dữ liệu trở lại vào vùng trống do bạn
xóa file mà ra, do đó dữ liệu trên ổ cứng trở nên rời rạc, tốc độ truy xuất chậm vì cần thời gian
để đầu đọc di chuyển đến. Điều này chính là khái niệm phân mảnh mà ta nói: Là hiện tượng 1
file khi lưu trên 1 phân vùng nào đó sẽ bị chia cắt thành nhiều phần để lưu vào nhiều vị trí
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
17
khác nhau trên phân vùng, làm dữ liệu một file bị chia ra rời rạc gây khó khăn cho việc truy
xuất.
4. Nguyên nhân phân mảnh:
a. Đối với Windows:
Khi dữ liệu được ghi vào những vùng trống như ở trên khái niệm ta nói thì có 2
trường hợp:
Dữ liệu nhỏ hơn vùng trống thì dữ liệu sẽ không sao.
Dữ liệu lớn hơn vùng trống:
Khi đó dữ liệu sẽ được cắt ra và bỏ vào các vùng trống tiếp theo, vậy là việc phân
mảnh diễn ra (dữ liệu bị chia làm nhiều phần). Nhất là sau khi một phần lớn của đĩa cứng được
sử dụng (dung lượng còn trống ít) thì quá trình phân mảnh diễn ra rất nhanh. Với nhiều người
dùng thích thử nghiệm, cài đặt, gỡ bỏ phần mềm liên tục, tải file từ Internte về nhiều, copy di
chuyển file nhiều, nguy cơ ổ cứng bị phân mảnh là rất cao do dữ liệu nằm rải khắp nơi trên
đĩa cứng. Đầu đọc phải di chuyển “vất vả” hơn để truy xuất đầy đủ dữ liệu của tập tin đó nên
thời gian truy xuất chậm hơn, làm chậm tốc độ hệ thống hay thậm chí có thể gây treo máy
(tạm thời) trên những hệ thống cũ, tốc độ chậm.
VD: Đơn vị lưu trữ file mà hệ điều hành Windows sử dụng là Cluster. Giả sử bạn có 1
file chỉ chừng 200bytes (khoảng 200 ký tự) thì trên ổ cứng nó vẫn phải dùng hết 4KB (vì
cluster là đơn vị cơ sở gồm nhiều sector, 1 cluster = 8 sector chứa 4KB), do đó bạn để ý khi
xem properties kích thước file thì nó sẽ có 2 dạng kích thước là size và size on disk.
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
suy sụp, file này sẽ bị ghi rải rác ở rất nhiều vị trí trên phân vùng. Sự ì ạch sẽ xảy ra
một cách đáng ngạc nhiên khi bạn sử dụng file đó.
Ngoài ra, việc lựa chọn kích thước cluster không phù hợp khi định dạng (format) phân
vùng đĩa cứng cũng ảnh hưởng đến sự phân mảnh.
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
20
b. Đối với Linux:
Các hệ thống file ext2, ext3 và ext4 của Linux đặc biệt là ext4 được sử dụng cho
Ubuntu và hầu hết các bản phân phối Linux khác, cấp phát file một cách thông minh hơn.
Thay vì để nhiều file gần nhau trên ổ đĩa cứng, những hệ thống file Linux rải nhiều file khác
nhau trên toàn bộ đĩa cứng, để lại một lượng lớn không gian trống ở giữa chúng. Khi một file
được chỉnh sửa và cần mở rộng thì thường có nhiều không gian trống xung quanh cho file.
Nếu hiện tượng phân mảnh xảy ra, hệ thống file sẽ cố gắng di dời những file xung quanh để
làm giảm phân mảnh tự động mà không cần tiện ích chống phân mảnh.
HÌNH 5: NGUYÊN NHÂN PHÂN MẢNH.
Nhưng không phải như vậy mà Linux không bị phân mảnh, hiện tượng phân mảnh sẽ
xuất hiện nếu hệ thống file đầy. Nếu dung lượng ổ cứng đầy 95% (hoặc thậm chí là 80%),
người dùng sẽ gặp hiện tượng phân mảnh do hệ thống không thể lưu file dung lượng lớn mà
không chia nhỏ nó ra. Tức là Linux trãi tất cả các tập tin của hệ thống trên toàn bộ bề mặt đĩa
(các tập tin không ghi sát nhau như ở hệ điều hành Windows) và dữ liệu của tập tin khi ghi
xuống đĩa được hệ thống cấp phát dung lượng lớn hơn kích thước của tập tin cần ghi, do đó
khi kích thước thay đổi phần dữ liệu mới sẽ được thêm vào phần trống (đã được chừa sẵn từ
trước khi tạo tập tin này), trong trường hợp vùng trống này không đủ thì hệ thống sẽ tìm một
vị trí khác còn trống có thể chứa được tập tin này và dời tập tin này đến vị trí đó, nhưng nếu
file lớn hơn vùng trống đó (do dung lượng ổ cứng đã bị sử dụng gần hết) thì hệ thống sẽ chia
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
22 HÌNH 6: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX.
Mô phỏng ổ cứng: HÌNH 7: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX.
ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
23
HÌNH 8: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX. ĐỒ ÁN HỆ ĐIỀU HÀNH
24
Bảng bên trên là một ví dụ về ổ cứng có dung lượng cực kì nhỏ và đang trống rỗng nên
bên trong nó toàn những con số “0”. Các kí tự từ “a” đến “z” ở phía trên và phía bên trái của
bảng thể hiện vị trí của các byte dữ liệu mà ta sẽ lưu sau này.
Bây giờ, một tập tin đơn giản sẽ được luu vào ổ cứng trên, và nó sẽ trở thành như bên
dưới:
HÌNH 9: CƠ CHẾ GHI DỮ LIỆU TRÊN LINUX.