………… o0o………… Nghiên cứu triết học
Đề tài: " TÍNH GIAI CẤP VÀ TÍNH NHÂN DÂN
CỦA NHÀ NƯỚC "
TRIẾT HỌC LUẬN VỀ “PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ”
IOANNA KUCURADI
Từ góc độ triết học, bài viết đưa ra và luận giải một số vấn đề về phát
triển văn hoá nhằm làm sáng tỏ vấn đề tại sao Liên hợp quốc ra tuyên
bố về Thập niên phát triển văn hoá. Những vấn đề mà bài viết đưa ra
và luận giải là: Khái niệm phát triển, nhất là vấn đề phát triển trong
chính sách của các quốc gia thuộc Liên hợp quốc; những nội dung
của “phát triển văn hoá”; tính dân tộc và tính toàn cầu trong các
quan niệm về “phát triển văn hoá”; phát triển văn hoá và các chính
Trong toàn cảnh thế giới trước những năm 80 của thế kỷ XX, liên
quan tới chủ đề của chúng ta, có lẽ rất hữu ích, như là những bước đi
đầu tiên, khi đề cập tới vấn đề này.
Thực tế là, tư tưởng về sự phát triển đã đặt ra một mục tiêu chính
cho các chính sách quốc gia thuộc thành viên của Liên hợp quốc
trong những năm 50 của thế kỷ XX, nhưng được hiểu thuần tuý là
phát triển kinh tế. Điều đó không chỉ tỏ ra thiếu đầy đủ, mà còn tạo
ra những điều ngoài mong đợi của chính nó. Tuy nhiên, về mặt niên
đại, lần đầu tiên, dường như đây là vấn đề duy nhất trong những lập
luận chính được nêu ra trong nghị sự quốc tế đòi hỏi về “phát triển
văn hoá” liên tục cho tới cuối những năm 70 của thế kỷ XX.
Nếu đi ngược lại quá khứ trước đó, cho tới tận lúc bắt đầu thành lập
Liên hợp quốc, chúng ta sẽ thấy rằng, tư tưởng về “phát triển” của
những năm 50 của thế kỷ XX là do các nước công nghiệp hoá nêu
ra, thuộc về văn minh “phương Tây” và sự tin tưởng vào “tiến bộ’.
Với các nước có hai đặc trưng - công nghiệp hoá và phần trăm thu
nhập tính theo đầu người, quyết định tiêu chuẩn thuộc về nhóm “đã
phát triển”. Các nước “đã phát triển” này trở thành mô hình cho các
nước khác trên thế giới noi theo. Không nghi ngờ gì nữa, hai tiêu
chuẩn trên của các nước “phát triển” không cùng nghĩa. Do vậy, một
cách sơ bộ, phát triển kinh tế đã tạo nên mục tiêu chính của các
chính sách quốc gia ở hầu hết các nước trên thế giới, mặc dù mục
tiêu đó được hiểu là công nghiệp hoá và nâng cao thu nhập tính theo
đầu người ở các nước được gọi là các nước đang phát triển và là
nâng cao vô hạn sản xuất công nghiệp ở các nước được gọi là các
nước phát triển.
Sản xuất công nghiệp vô hạn đi liền với hậu quả phân cực chính trị
trong các nước “phát triển”, rồi lại tự dẫn tới bế tắc khi sản sinh ra
những kết quả không mong muốn của riêng nó, đó là sự cạn kiệt
không thể hồi phục lại của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự ô
nhau và cũng vì hai nhu cầu khác nhau. Các đòi hỏi về “phát triển
văn hoá” có yêu cầu cùng một thứ không? Đây là một vấn đề cốt
yếu, vì nó quan hệ trực tiếp tới thực tiễn. Vấn đề đó cốt yếu tới mức
nào, có thể xem xét từ những cái diễn ra sau đó trong những năm 80
không?
Đó là vấn đề tại sao việc khảo sát từ tầm nhìn triết học một cách kỹ
lưỡng thuật ngữ “phát triển văn hoá” chú ý vào vấn đề được thể hiện
trong các bản thảo văn kiện khác nhau liên quan tới Thập niên thế
giới phát triển văn hoá, cũng như tới những gì có liên quan mà đến
nay, còn chưa rõ nghĩa; đồng thời, với tầm nhìn của một tư tưởng
hợp lý có trí tuệ vượt trước về “phát triển văn hoá” đang tỏ ra là tất
yếu đã chứng tỏ rằng, chúng ta mong sẽ tránh được việc “phát triển
văn hoá” gây ra hậu quả riêng của nó, như là chuyện đã xảy ra đối
với “phát triển”.
Khái niệm “phát triển văn hoá”
Tư tưởng “phát triển văn hoá” được đưa ra như một quan niệm mới
về phát triển. Thực ra, hiện giờ, điều gì đang mong đợi, để phát triển
hay bị phát triển? Và điều đó có nghĩa gì đối với sự phát triển?
Ngay khi đặt ra câu hỏi này, chúng ta sẽ thấy một điểm khởi đầu khả
thi cho nghiên cứu kỹ lưỡng, cho việc gắn kết với vấn đề của chúng
ta là các văn kiện liên quan tới “phát triển văn hoá”, giống như lập
trường khả thi kiểu Ácsimét (Archimedean), nhằm khái niệm hoá ý
tưởng phát triển văn hoá theo cách tư tưởng hợp lý có trí tuệ, người
thông báo về “sự phát triển” đó.
Khi đọc các văn kiện có liên quan, tâm niệm với thắc mắc của
người thông báo về sự phát triển có liên quan tới “phát triển văn
hoá”, chúng ta sẽ thấy được sự khác biệt và những câu hỏi không
phải là không thể nhất trí. Có một sự nhầm lẫn liên quan tới thuật
ngữ “văn hoá” thể hiện qua sự thật này – một sự nhầm lẫn chắc chắn
gây tác động, đã ảnh hưởng tới các nỗ lực tổ chức để lên kế hoạch
người và các quan niệm liên quan tới cái có giá trị, thịnh hành trong
một thời gian dài hoặc ngắn trong một nhóm người, mà giới hạn của
họ có thể được phác hoạ rõ ràng qua quan điểm của họ, và quan
điểm đó quy định lối sống của nhóm người này các cách thể hiện lối
sống đó”(3) (những thái độ trong cuộc sống hàng ngày, trong các
hoạt động chính trị và xã hội, các thể chế chính trị và xã hội và các
chức năng của chúng, cũng như các tư tưởng hiện đại trong nghệ
thuật, văn học, kiểu cách diễn đạt của ngôn ngữ v.v.). Đây là những
quan niệm sống động, tự nhiên, hoàn toàn vô ý thức mãi cho tới khi
chúng trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học. Đây là một
nghĩa của “văn hoá” nhắc chúng ta nhớ tới Volksgeist của Herderian
hay Hegelian(4).
Khi đã đạt được sự phân định về khái niệm như vậy, một cách tự
nhiên, sẽ phải đặt tiếp câu hỏi: cái “văn hoá” nào trong nội dung
“phát triển văn hoá” ấy đáng được phát triển? Và, khi hiểu rõ ảnh
hưởng tích cực và tiêu cực qua lại của chúng, đặc biệt là khi đã có
những quan niệm về con người và về cái gì là giá trị, chúng được lấy
ra từ các thành viên của các nhóm đã cho họ khả năng phát triển một
số tiềm năng người của họ, thì liệu có thể trả lời câu hỏi thứ nhất
bằng cách nói giản đơn là “cả hai” được không?
Đó chính là những lý do tại sao tư tưởng về “phát triển văn hoá” đã
được khái niệm hoá một cách triết học. Câu hỏi “thực tế, đòi hỏi nào
đối với phát triển văn hoá có thể được yêu cầu?” vẫn tỏ ra cần một
câu trả lời hợp lý, có trí tuệ.
Phát triển văn hoá và câu hỏi về mục đích
Lúc đầu, “phát triển văn hoá” được đặt ra trong sự liên quan với phát
triển kinh tế như là mục tiêu chính của các chính sách quốc gia của
các nước công nghiệp hoá và được hiểu như là vấn đề tăng tối đa sản
phẩm công nghiệp, trong khi đòi hỏi đối với các nước đang phát
triển lại là “bản sắc văn hoá riêng” do các nước thế giới thứ ba đặt ra
được phép – của người phương Tây - để phát triển văn hoá của riêng
mình, tức là phát triển “bản sắc văn hoá” của họ. Đòi hỏi này cũng
được coi là một mục tiêu của Thập niên thế giới phát triển văn hoá .
Khuynh hướng gán cho “phát triển văn hoá” nội dung thứ hai này đã
có cơ sở trong mười năm vừa qua, nhưng vẫn thiếu một sự nghiên
cứu kỹ lưỡng về câu hỏi “bản sắc văn hoá là gì?” và “cái gì có thể
phát triển ý nghĩa văn hoá riêng?”. Giờ đây, đầu thập niên 90, vấn đề
“bản sắc văn hoá đã trở thành một trong những chủ đề nóng bỏng ở
các nước thế giới thứ ba. Ở các nước có quan hệ với các “nền văn
hoá phương Tây” qua sự thực dân hoá, nhưng hiện giờ đã giành
được độc lập, việc nghiên cứu về bản sắc tỏ ra là một nỗ lực để tìm
kiếm văn hoá riêng của họ trước khi bị thực dân đô hộ. Còn ở các
nước tự định hướng theo “phương Tây” bởi ý nguyện của chính họ,
chẳng hạn ở các nước mà phong trào hiện đại hoá phát động từ
những thời kỳ khác nhau và vẫn đang tiếp tục hiện đại hoá, chúng ta
lại thấy những cố gắng “khôi phục” hay “làm sống lại” văn hoá của
họ, tức là quan niệm về con người và các quan niệm về cái gì là giá
trị, thịnh hành - hay được cho là thịnh hành – trước khi họ hướng
theo hay đương đầu với phương Tây.
Khi đối diện với bối cảnh toàn cầu này, câu hỏi tiếp theo nảy ra
trong suy nghĩ là: liệu có thể nghĩ rằng, một mục tiêu của các chính
sách quốc tế và quốc gia, cái có thể, có lẽ đáp ứng được các nhu cầu
khác nhau đã đặt ra trước những đòi hỏi khác nhau thể hiện bằng
“phát triển văn hoá” không? Đây dường như cũng là câu hỏi quan
trọng, khi không thể thiếu mục tiêu chung đó, khi các cản trở văn
hoá thay thế các cản trở chính trị của thế giới hiện nay đang đột
nhiên có xu hướng trở nên ngày càng không rõ ràng.
Câu hỏi này cũng quan trọng, vì nó đặt ra đúng vấn đề tư tưởng về
phát triển – tồn tại với hay không với “chiều cạnh văn hoá” - như là
mục tiêu chính của các chính sách quốc tế và quốc gia. Cho đến nay,
Các nền văn hoá phương Tây và châu Âu với tư cách các nền văn hoá hiện
đang tạo nên bản “đối chiếu” chung cho tất cả các nền văn hoá khác là cái
gì? Vấn đề này đã được nêu thành câu hỏi khi chúng ta chứng kiến cái gọi là
các giới phi - phương Tây “khủng hoảng bản sắc” xảy ra cùng lúc với sự
kiện ở phương Tây được gọi là “khủng hoảng giá trị”. Người phương Tây
nghĩ rằng, hiện giờ, họ không còn biết “giá trị” của họ là cái gì nữa. Trong
khi, người ngoài phương Tây lại nghĩ rằng, không biết thực sự họ là ai, hay
nghĩ rằng, thực sự, lúc này họ không phải là họ. Tuy vậy, tất cả cùng chia sẻ
quan điểm cho rằng, “văn hoá” – dù nó như thế nào hay dù mỗi người coi
văn hoá riêng của mình là như thế nào – là “tốt”, là “cốt lõi quan trọng” để
khôi phục và phát triển trên đó.
Đây là một số vấn đề đòi hỏi phải có sự bàn luận triết học. Và, một trong
những vấn đề đó là khái niệm bản sắc. Một vấn đề nữa là khái niệm “giá trị”.
Nếu truy nguyên nghĩa của thuật ngữ “bản sắc” này trong các văn cảnh khác
nhau, khi nó xuất hiện trong các cuộc tranh luận, chúng ta có thể nhận thấy
rằng, “bản sắc”, thay vì mang nghĩa “tri thức tự thân”, đã được dùng theo
nghĩa “quan niệm tự thân” hay “hình tượng tự thân” của cá nhân hay nhóm.
Bởi vậy, khi “bản sắc văn hoá” được hiểu một cách kỹ lưỡng, có thể trong
trường hợp một cá nhân, thì tri thức của cá nhân đó về quan niệm của con
người và về cái mà người đó cho là giá trị, còn trong trường hợp đối với một
nhóm người, tri thức về quan niệm phổ biến rộng rãi nhất – không còn là duy
nhất - về con người, và về cái được coi là có giá trị tại một thời điểm nhất
định trong nhóm đó. “Bản sắc văn hoá” được thừa nhận ở các nước ngoài
phương Tây để truyền đạt quan niệm về con người và về cái có giá trị đã
thịnh hành ở các nước đó trước khi gặp gỡ với phương Tây.
Hậu quả của nhận thức về “bản sắc” như là “hình tượng tự thân” sẽ như thế
nào? Và, cái gì có thể là hàm ý của sự nhận thức về “bản sắc” như là “tri
thức tự thân”? Và, trong mối liên kết này, những cái gì là “giá trị” mà mỗi
nền văn hoá phải nỗ lực tìm kiếm hay cần khôi phục lại?
Sự nhầm lẫn thể hiện ra trong các cuộc tranh luận có liên quan tới vấn đề
kiếm cách thức khái niệm hoá tư tưởng về “phát triển văn hoá toàn cầu” –
tức là cố gắng xác định nó có thể có nghĩa gì và trong bối cảnh thế giới hiện
nay, nó có thể là cái gì; cũng như đi sâu vào các tính chất khách quan của
văn hoá mà chúng ta hy vọng rằng, chúng có thể trở thành “toàn cầu” một
khi dường như đã có một văn hoá toàn cầu đang thịnh hành - đó là “văn hoá
phương Tây” trong tình trạng hiện nay của sự phát triển đang tỏ ra là cái bị
tất cả mọi dân tộc trên thế giới chống lại, dù cho nhu cầu của họ khác nhau
như thế nào.
Những sự chống đối khác nhau này đối với cùng một thứ rất có thể là biểu
hiện của một khát vọng giống nhau. Con người phương Tây thể hiện đòi hỏi
của họ trước những người thống trị họ: họ đòi hỏi chính quyền cho phép họ
phát triển các tiềm năng con người của họ. Còn những người ở các nước
không phải phương Tây lại thể hiện đòi hỏi của mình đối với thế giới
phương Tây như là một thế giới hoàn chỉnh: họ mong muốn không còn bị đối
xử như là nhà thiên văn học của Thánh Exupery, hay họ khát khao “chủ nghĩa
nhân văn của nhận thức” - như F.Miro Quesada đã gọi như thế(5). Cả hai đều
đòi hỏi một trật tự thế giới sẽ đảm bảo cho họ khả năng góp phần của mình
vào sự hình thành hiện tại và tương lai của thế giới.
Những yêu cầu đó dường như để tìm một tiếng vọng, một sự bắt chước trong
một phạm vi nào đó. Trả lời họ thế nào đây? Câu hỏi về chính sách văn hoá
đã tạo nên chủ đề của rất nhiều hội nghị quốc tế, khu vực và cấp quốc gia
trong mười năm qua. Kết quả là gì?
Một câu hỏi nữa: nếu “phát triển văn hoá” được coi là vấn đề của các chính
sách văn hoá thì sẽ có ý nghĩa gì? và hiện tại, nó có thể được thực hiện được
ở các mức độ khác nhau như thế nào?
Phát triển văn hoá và các chính sách văn hoá
Rõ ràng là, các chính sách văn hoá khác nhau một cách rõ ràng ở các nước
khác nhau và ở các mức độ khác nhau. Song, vẫn có những câu hỏi liên quan
đến các mục tiêu cơ bản của các chính sách văn hoá và các điểm chung khác.
Sau đây là một câu hỏi như vậy. Các chính sách văn hoá được chờ đợi để lên