BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI KHOA HỌC "NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TỈNH QUẢNG NGÃI" - Pdf 11

UBND TỈNH QUẢNG NGÃI UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN NC PHÁT TRIỂN KT-XH ĐÀ NẴNG
BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
"NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TỈNH QUẢNG NGÃI"
Chủ nhiệm đề tài: TS. HỒ KỲ MINH
Đà Nẵng, tháng 10 năm 2011
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Với mục tiêu phát triển ngành nghề nông thôn nhằm giải quyết việc làm cho
người dân, tăng giá trị sản phẩm các ngành nghề ở nông thôn, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã
ban hành Quyết định số 106/2003/QĐ-UB ngày 27 tháng 6 năm 2003 về việc phê duyệt
Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2003 - 2010.
Trong đó, tỉnh đã tập trung phát triển 3 nhóm ngành, bao gồm: Nhóm 1: Ngành nghề cần
đầu tư phát triển đến năm 2010, như nhóm ngành nghề chế biến đường; nghề sản xuất
mây tre và đan lát, nghề dệt thổ cẩm, nghề cá bống kho tộ và nghề chế biến thịt bò khô;
Nhóm 2: Ngành nghề giải quyết việc làm và tiêu dùng xã hội, như nhóm ngành nghề chế
biến sản phẩm từ gạo, nghề chế biến thủy sản, nghề làm chiếu cói, nghề sản xuất chổi đót,
nghề sản xuất đồ mộc dân dụng, nghề làm muối…; nhóm 4: Hình thành một số ngành
nghề mới, gồm: nghề trồng nấm, nghề trồng hoa, sinh vật cảnh, sinh thái.
Trong những năm gần đây, mặc dù chính quyền tỉnh đã có những chính sách
khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhưng các
làng nghề vẫn gặp nhiều khó khăn: Thiết bị và công nghệ chưa được đầu tư đúng mức;
năng suất lao động thấp; chất lượng và mẫu mã của sản phẩm đáp ứng chưa cao thị hiếu
ngày càng khắt khe của người tiêu dùng; trình độ tay nghề NLĐ chưa được chú trọng
đào tạo và nuôi dưỡng
Mặt khác, cùng với sự tăng trưởng kinh tế là quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc
độ ngày càng nhanh, hiện tượng NLĐ từ các làng quê Quảng Ngãi dịch chuyển ra các
thành phố lớn là rất lớn. Vì vậy, việc phát triển các nghề và làng nghề nông thôn cũng như
các làng nghề mới có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà còn góp phần ổn
định chính trị xã hội.

trước đây về làng nghề (được lưu trữ dưới nhiều hình thức khác nhau).
- Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh và tổng hợp, chuyên gia.
- Phương pháp điều tra, khảo sát trực tiếp bằng các bảng hỏi cho các đối tượng là:
chủ các CSSX và NLĐ tại các CSSX kinh doanh các ngành nghề nông thôn tại 6 huyện
đồng bằng, trung du và thành phố Quảng Ngãi.
- Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích, xử lý số liệu thu thập được trong 2
đợt điều tra.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀ
Báo cáo đã nghiên cứu các nội dung về:
- Vấn đề chung về nghề, làng nghề: Các khái niệm cơ bản; Đặc trưng của làng
nghề ở Việt Nam; Phân tích chuỗi giá trị sản xuất làng nghề; Vai trò của làng nghề
trong phát triển kinh tế - xã hội.
- Quan điểm và các tiêu chí phát triển làng nghề ở Việt Nam.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề.
- Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số địa phương ở Việt Nam.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHỀ VÀ LÀNG NGHỀ TẠI 6 HUYỆN ĐỒNG
BẰNG, TRUNG DU VÀ THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
Sau khi phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở 6 huyện đồng bằng,
trung du và TP Quảng Ngãi ảnh hưởng đến sự phát triển nghề và làng nghề, báo cáo
phân tích thực trạng phát triển nghề và làng nghề tại địa phương trên như sau:
I. Thực trạng phát triển nghề và làng nghề tại 6 huyện đồng bằng, trung du
và thành phố Quảng Ngãi qua số liệu điều tra khảo sát
1. Thực trạng phát triển nghề và làng nghề qua số liệu điều tra khảo sát
1.1. Giới thiệu cuộc khảo sát
+ Quy mô khảo sát: Cuộc khảo sát với tổng số phiếu là 902
(1)
phiếu dành cho 2
đối tượng bao gồm chủ cơ sở sản xuất và người lao động tại các nghề và làng nghề,

(2) Loại nghề, làng nghề tồn tại cầm chừng (loại 2)
Nghề sản xuất muối Sa Huỳnh, Đức Phổ; nghề sản xuất đồ mộc dân dụng xã Phổ
Thuận, Đức Phổ; nghề sản xuất đồ gốm xã Phổ Khánh, Đức Phổ; nghề đánh sợi, đan võng
xã Đức Chánh, Mộ Đức; nghề sản xuất bánh tráng Thi Phổ, Đức Thạnh, Mộ Đức; nghề
dệt chiếu cói xã Nghĩa Hoà, Tư Nghĩa và xã Tịnh Khê, Sơn Tịnh; nghề sản xuất nước
mắm xã Tịnh Kỳ, Sơn Tịnh; nghề đóng mới và sửa chữa tàu thuyền xã Tịnh Kỳ, Sơn
Tịnh; nghề sản xuất nem, chả tại thành phố Quảng Ngãi.
(3) Loại nghề, làng nghề có nguy cơ mai một (loại 3)
Làng nghề trồng dâu nuôi tằm ở thôn An Phú, Đức Hiệp, Mộ Đức; làng nghề
đúc đồng ở xã Đức Hiệp, Mộ Đức, nghề sản xuất gốm ở thị trấn Châu Ổ và nghề tre
đan thôn Đông Tây, Bình Hiệp huyện Bình Sơn.
II. Thực trạng phát triển 10 nghề, làng nghề được lựa chọn
1. Lựa chọn 10 nghề và làng nghề
Nghề và làng nghề được lựa chọn cần thỏa mãn một số hoặc đồng thời các tiêu
thức sau:
+ Nghề, làng nghề thuộc nhóm bình ổn (nhóm 1); Khai thác được tiềm năng,
lợi thế về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của địa phương và tỉnh Quảng
Ngãi; Có vùng nguyên liệu dồi dào; Thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định; Giải quyết
công ăn việc làm và sử dụng nhiều lao động; Góp phần nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho người dân; Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; Phát triển
không ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sinh thái.
2. Phương pháp lựa chọn nghề, làng nghề
Để lựa chọn 10 nghề và làng nghề tiếp tục nghiên cứu và khảo sát, nhóm nghiên
cứu sử dụng kết hợp các phương pháp dưới đây:
- Phương pháp chuyên gia; tổ chức hội thảo lấy ý kiến các sở, ban ngành, địa
phương liên quan.
3. Kết quả lựa chọn
+ Nhóm nghề và làng nghề sản xuất thực phẩm
(1) Làng nghề chế biến hải sản thôn Thạch Bi, xã Phổ Thạnh;
(2) Làng nghề sản xuất nước mắm xã Đức Lợi;

người làm nghề. Bên cạnh đó, sản xuất của làng nghề cũng gây ảnh hưởng đến môi
trường sống xung quanh làng nghề nhưng mức độ còn thấp.
4.2.2. Làng nghề sản xuất nước mắm xã Đức Lợi - Mộ Đức
Nghề nước mắm ở xã Đức Lợi, huyện Mộ Đức có nhiều tiềm năng và lợi thế để
phát triển như sau: Là nghề truyền thống nên được người dân ở đây gắn bó với nghề;
Lao động được thuê dễ dàng từ nguồn lao động nhàn rỗi trong vùng với giá nhân công
thấp; Nguyên liệu được cung ứng từ nhiều nguồn khác nhau nên ít khi rơi vào tình
trạng thiếu hụt; Đặc biệt, trong thời gian gần đây, trên địa bàn thôn Vinh Phú đang
triển khai xây dựng cụm công nghiệp làng nghề với diện tích 2 ha.
Tuy nhiên, làng nghề vẫn có một số khó khăn, thách thức, đó là:
+ Thị trường thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp, chủ yếu giới hạn trong địa bàn tỉnh.
+ Việc tiếp cận các loại vốn vay ưu đãi từ Nhà nước và các tổ chức tín dụng vẫn
gặp khó khăn nên hạn chế về mở rộng sản xuất, chất lượng và mẫu mã sản phẩm.
+ Ngoài ra, vấn đề nước thải và mùi hôi xuất phát từ hoạt động của nghề cũng
là một thách thức lớn bởi việc xử lý triệt để không phải dễ dàng.
2
Số phiếu được lấy ngẫu nhiên dựa trên tổng số doanh nghiệp/cơ sở, số lao động và số dân hiện có của từng
nghề và làng nghề.
4.2.3. Làng nghề sản xuất bánh tráng, bún Hành Trung
Nghề bánh tráng khá đơn giản với hình thức làm chủ yếu là thủ công nên dễ
học và dễ làm, hầu hết các lao động sau một thời gian học nghề ngắn đã có thể làm
nghề thành thạo. Hiện nay, nghề phát triển chủ yếu theo hình thức hộ gia đình và sản
xuất nhỏ lẻ. Trong những năm gần đây, một số hộ đã đầu tư dây truyền sản xuất công
nghiệp, tạo tiền đề cho mô hình sản xuất bánh tráng dây chuyền tập trung trong tương
lai.
Tuy nhiên, việc phát triển nghề gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân như
trình độ học vấn của người lao động còn hạn chế nên khó khăn trong tiếp thu khoa học
công nghệ; giá cả thấp và không ổn định do buôn bán chủ yếu thông qua tiểu thương
và phụ thuộc vào giá cả của lúa gạo; mẫu mã sản phẩm cổ truyền chưa có sự thay đổi,
chưa đăng ký thương hiệu sản phẩm nên chưa tạo dựng được thị trường tại các vùng

Lao động đòi hỏi tay nghề cao và không ngừng học hỏi, năm bắt xu hướng mới để có
thể đáp ứng thị hiếu ngày càng đa dạng của khách hàng. Trong khi đó, việc nâng cao
kỹ năng, kinh nghiệm và hiểu biết về giống cây trồng, khả năng tiếp thu và ứng dụng
tiến bộ kỹ thuật chưa được quan tâm thích đáng. Ngoài ra, sản phẩm của địa phương
còn chịu sự cạnh tranh quyết liệt của nhiều làng nghề cây cảnh ở các địa phương khác.
Bên cạnh đó, đối với những cơ sở lớn, việc mở rộng mặt bằng tại địa phương
gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, những biến đổi thất thường của thời tiết ở địa phương
cũng là khó khăn lớn của nghề.
4.2.7. Làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, Phổ Ninh
Do sản xuất theo đơn đặt hàng của công ty Thân Thanh Long nên hoạt động
sản xuất của làng nghề chỉ được thể hiện bằng hình thức làm ra sản phẩm, người
lao động nhận công theo giá định sẵn. Điều này tạo thuận lợi cho những người
tham gia bởi họ không phải lo tính toán đầu vào, đầu ra cho sản phẩm. Tuy nhiên,
chính sự phụ thuộc này khiến cho nghề tồn tại một cách thiếu định hướng, không có
nội lực phát triển. Người dân không chủ động được nguồn nguyên liệu và thị
trường tiêu thụ, không thu hút được đội ngũ lao động trẻ kế thừa. Vì vậy, trong
trường hợp công ty Thân Thanh Long bất ổn, ngừng trệ hoặc gặp khó khăn thì khả
năng tồn tại của làng nghề sẽ suy giảm.
4.2.8. Làng nghề chổi đót Phổ Phong, Đức Phổ
Nghề có nhiều lợi thế trong phát triển thị trường tiêu thụ do sản phẩm nhẹ, giá rẻ.
Đồng thời, đây là nghề dễ làm, dễ học, thu nhập cao và tương đối ổn định, vì vậy đã thu
hút được lao động thuộc mọi lứa tuổi tham gia, đã giải quyết được việc làm cho lao động
nhàn rỗi trong xã. Thu nhập mang lại từ nghề tương đối khá, nghề chủ yếu làm hoàn toàn
bằng thủ công nên tiết kiệm được chi phí trong việc mua sắm máy móc, điện nước…
Tuy nhiên, nghề còn tồn tại nhiều khó khăn trong quá trình phát triển do nhiều
nguyên nhân: Nguồn nguyên liệu có tính quyết định trong phát triển nghề ngày càng
khan hiếm do tác động của chặt phá rừng và khai thác bừa bãi của người dân. Thiếu vốn
để quay vòng trong quá trình sản xuất đã hạn chế quá trình phát triển của nghề, đặc biệt
trong thu mua nguyên liệu và đưa sản phẩm tới các thị trường ngoài nước.
4.2.9. Làng nghề mây tre đan, đũa tre Tịnh Ấn Tây, Sơn Tịnh

hướng phát triển của 10 nghề, làng nghề được lựa chọn; Từ đó dưa ra các giải pháp phát
triển như sau:
1. Các giải pháp đột phá
1.1. Nghiên cứu và mở rộng thị trường tiêu thụ
* Đối với cơ sở sản xuất làng nghề
a) Đối với thị trường trong nước:
+ Thiết lập mạng lưới phân phối ở các khu vực nội thị, nội thành của tỉnh
Quảng Ngãi cũng như ở một số thành phố lớn (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng )
thông qua các đại lý, các quầy trưng bày, giới thiệu sản phẩm. Tạo lập hệ thống bán
hàng chuyên nghiệp, xúc tiến việc đưa các sản phẩm làng nghề vào các siêu thị, trung
tâm thương mại.
+ Tăng cường liên kết, hợp tác giữa cơ sở sản xuất làng nghề với các doanh
nghiệp thương mại lớn của tỉnh, các thành phố lớn; hình thành các hợp tác xã, doanh
nghiệp làm dịch vụ đầu vào và đầu ra cho cả làng nghề.
+ Chủ động tham gia các triển lãm, hội chợ trong và ngoài tỉnh để giới thiệu
các sản phẩm nghề và làng nghề.
+ Xây dựng và phát triển mạnh hệ thống chợ làng trong các làng nghề, trung
tâm chuyên mua bán hàng thủ công trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Đầu tư xây dựng
các chợ đầu mối, quầy hàng, sạp hàng, ki ốt ở các địa phương có làng nghề hoặc ở
các điểm du lịch làng nghề để quảng bá và tiêu thụ sản phẩm, cung ứng nguyên vật
liệu.
+ Xây dựng siêu thị di động bán sản phẩm làng nghề phục vụ các lễ hội, các
khu du lịch; triển khai các hình thức quà tặng cho các hội nghị, hội thảo.v.v để quảng
bá sản phẩm nghề, làng nghề. Đẩy mạnh phát triển du lịch làng nghề, thông qua các
tour du lịch tại làng nghề để bán hàng hóa trực tiếp cho khách du lịch.
b) Đối với thị trường nước ngoài:
+ Tìm kiếm thông tin về các nhà nhập khẩu cũng như xuất khẩu, thông qua họ
nắm bắt được nhu cầu thị hiếu, các quy định về hàng hóa nhập khẩu của các nước,
trong đó chú trọng những quy định về xuất xứ sản phẩm, đóng gói bao bì, an toàn vệ
sinh thực phẩm đối với các mặt hàng thực phẩm của các nước nhập khẩu.

tiên tập trung nghiên cứu các thị trường có nhu cầu về các sản phẩm mà các làng nghề
có khả năng sản xuất và cung cấp, chọn ra khoảng 2 -3 thị trường phù hợp (ưu tiên các
thị trường Trung Quốc, Lào, Camphuchia, Thái Lan, Mianma.v.v ), từ đó thông qua
các cửa khẩu và đặc biệt thông qua hành lang kinh tế Đông - Tây, cửa khẩu Quốc tế
Bờ Y để xuất khẩu một số sản phẩm có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường các
nước này như: Hải sản khô, thịt bò khô, nước mắm, mây tre đan.v.v
+ Đào tạo và nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác xúc tiến thương mại
của địa phương, các hiệp hội ngành hàng;
+ Các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển:
- Các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp làng nghề được trưng bày giới thiệu sản phẩm
miễn phí tại các gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm của Trung tâm thương mại tỉnh, các
hội chợ, triển lãm do tỉnh tổ chức.
- Hỗ trợ kinh phí cho các cơ sở sản xuất làng nghề tiếp cận thông tin, tìm kiếm thị
trường; cho phép các Hiệp hội nghề, làng nghề được quảng cáo, giới thiệu sản phẩm miễn
phí trên trang thông tin điện tử của tỉnh, các sở, ngành và các UBND các huyện, thành
phố Quảng Ngãi.
- Hỗ trợ kinh phí cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu đối với làng nghề về
các nội dung: đặt tên thương hiệu, thiết kế logo, tra cứu và chi phí đăng ký bảo hộ thương
hiệu, tư vấn xây dựng và quản lý thương hiệu, quy chế sử dụng thương hiệu làng nghề,
xây dựng tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và quy trình sản xuất sản
phẩm cho các cơ sở sản xuất làng nghề có sử dụng thương hiệu làng nghề.
- Hỗ trợ kinh phí thuê gian hàng và chi phí đi lại cho các cơ sở sản xuất làng
nghề khi tham gia hội chợ triển lãm có chuyên ngành trong nước.
- Hỗ trợ một phần kinh phí thuê gian hàng và kinh phí phương tiện đi lại khi
tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm tại nước ngoài đối với chủ các cơ sở
sản xuất làng nghề được tỉnh cho phép đi tham gia hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm
ở nước ngoài.
- Nguồn kinh phí hỗ trợ được trích từ nguồn kinh phí chương trình khuyến
công hàng năm, kinh phí xúc tiến thương mại của tỉnh và kinh phí đóng góp của
các tổ chức, cá nhân, cơ sở sản xuât làng nghề và các nguồn khác (nếu có).

nguồn nguyên liệu cho sản xuất.
b) Nghề sản xuất thịt bò khô:
+ Đối với các cơ sở sản xuất làng nghề:
- Dự tính nhu cầu sử dụng nguyên liệu hàng năm trên số liệu thống kê sản
lượng tiêu thụ qua các năm trước đó và dự báo nhu cầu tiêu thụ trong năm, từ đó lập
kế hoạch mua nguyên liệu, chủ động cho sản xuất;
- Hoàn thiện khâu thu mua nguyên liệu trên cơ sở củng cố các điểm thu mua cũ,
mở rộng các điểm thu mua mới, liên kết chặt chẽ với các trang trại, hộ gia đình chăn
nuôi bò.
+ Đối với Nhà nước: Lựa chọn các khu vực trên địa bàn tỉnh phù hợp với thổ
nhưỡng, khí hậu tiến hành quy hoạch phát triển các trang trại chăn nuôi bò theo quy
mô công nghiệp; chú trọng đầu tư, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là
công nghệ sinh học vào sản xuất để tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm,
tăng độ sạch nông sản, giảm chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
c) Đối với làng nghề mây tre đan hiện nay vẫn đang làm gia công cho các
doanh nghiệp, nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra phụ thuộc hoàn toàn vào họ,
như vậy làng nghề sẽ gặp khó khăn khi không có đơn đặt hàng của doanh nghiệp, vì
vậy trong tương lai các cơ sở sản xuất làng nghề cần phải nghiên cứu phát triển sản
phẩm và thị trường mới, có như vậy mới chủ động trong sản xuất, tạo sự yên tâm cho
người lao động, đảm bảo cho làng nghề phát triển bền vững. Đây là một công việc lớn
và rất khó khăn các cơ sở, cá nhân đơn lẻ khó có thể thực hiện được mà phải có sự liên
kết của cả làng nghề kết hợp với sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà nước.
1.2.3 Đối với các làng nghề có nguyên liệu nhập khẩu như mộc dân dụng, chổi
đót, thịt bò khô…:
+ Đối với cơ sở sản xuất: Dự tính nhu cầu sử dụng nguyên liệu hàng năm, hàng
quý trên cơ sở ước lượng sản lượng tiêu thụ qua các năm trước và dự báo nhu cầu tiêu
thụ trong năm để lập kế hoạch nhập khẩu, dự trữ nguyên liệu, chủ động cho sản xuất
và giảm chi phí.
+ Đối với Nhà nước:
- Chủ động nghiên cứu các thị trường nhập khẩu về số lượng, chủng loại, chất

thực phẩm; cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, chất lượng sản phẩm và vệ sinh an
toàn thực phẩm.
+ Chính sách hỗ trợ:
- Hỗ trợ một phần giá trị hợp đồng mua các bí quyết công nghệ, giải pháp kỹ
thuật, quy trình công nghệ
- Hỗ trợ một phần giá trị các dự án cải tiến công nghệ nâng cao năng suất, chất
lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường;
- Hỗ trợ các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp làng nghề áp dụng hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, theo nguyên tắc hỗ trợ một lần kinh phí tư vấn xây dựng hệ
thống, sau khi được cơ quan chứng nhận cấp chứng chỉ.
- Nguồn kinh phí hỗ trợ từ kinh phí khoa học công nghệ của tỉnh và Trung ương.
1.4. Về mặt bằng sản xuất
* Đối với các nghề và làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (như làng
nghề chế biến hải sản Thạch Bi, làng nghề chế biến nước mắm Đức Lợi)
a) Đối với Nhà nước
UBND tỉnh Quảng Ngãi căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 để xây dựng Quy hoạch phát
triển nghề và làng nghề Quảng Ngãi.
UBND các huyện, thành phố Quảng Ngãi căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
và quy hoạch phát triển KT-XH của huyện, thành phố Quảng Ngãi, Quy hoạch phát triển
nghề và làng nghề Quảng Ngãi để xây dựng quy hoạch làng nghề, cụm công nghiệp làng
nghề của địa phương.
Tỉnh Quảng Ngãi khuyến khích giao đất cho các tổ chức, cá nhân và các cơ sở sản
xuất làng nghề thực hiện các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng làng nghề, cụm công nghiệp
làng nghề phù hợp với quy hoạch.
Mô hình tổ chức quản lý: UBND các huyện, thành phố Quảng Ngãi tổ chức đấu
thầu lựa chọn tổ chức kinh tế có đủ năng lực vào quản lý, khai thác các dịch vụ trong cụm
sản xuất làng nghề; hoặc thành lập hợp tác xã mới, hoặc giao cho hợp tác xã hiện có trên
địa bàn trực tiếp quản lý cụm sản xuất làng nghề tập trung. Khuyến khích hình thức giao
cho các hợp tác xã để tạo điều kiện giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho xã viên hợp

lao động, an toàn lao động
* Đối với Nhà nước
+ Đào tạo người lao động:
Kết hợp hình thức đào tạo trong nhà trường với hình thức đào tạo truyền
thống thông qua việc mời các nghệ nhân (làng nghề trong tỉnh và ở các địa phương
khác) tham gia giảng dạy một phần chương trình của khóa học đồng thời đưa các
học viên về thực tập trực tiếp tại các cơ sở sản xuất, các làng nghề.
+ Đào tạo các chủ cơ sở sản xuất làng nghề:
- Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về văn hóa, quản lý, khoa học kỹ
thuật, mỹ thuật, các kiến thức về tổ chức sản xuất, quản trị doanh nghiệp và thị trường cho
các chủ cơ sở sản xuất làng nghề với hình thức đào tạo tại các trung tâm hoặc mở các lớp
tập huấn ngắn hạn.
-Tổ chức cho các chủ cơ sở sản xuất, chủ doanh nghiệp, tham quan học tập kinh
nghiệm phát triển làng nghề ở trong và ngoài nước.
+ Phát triển nghệ nhân:
- Công khai các tiêu chuẩn để được công nhận là nghệ nhâ, đồng thời có các
chính sách hỗ trợ, khen thưởng và ưu đãi đối với các nghệ nhân để động viên, kích
thích người lao động phấn đấu cống hiến nhiều hơn cho làng nghề.
- Thường xuyên tổ chức phong tặng danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi, bàn tay vàng
cho các lao động làng nghề, tổ chức các cuộc thi tay nghề cho thợ thủ công.
+ Các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển:
- Hỗ trợ kinh phí tổ chức đào tạo nghề và truyền nghề cho lao động tại các làng
nghề và khu vực có nghề.
- Khuyến khích và hỗ trợ kinh phí cho các nghệ nhân, thợ giỏi tự tổ chức các
lớp truyền nghề cho người lao động ngay tại cơ sở sản xuất của làng nghề và tham gia
giảng dạy tại các lớp đào tạo nghề cho người lao động, chú trọng đến các nghề truyền
thống, làng nghề truyền thống.
- Khuyến khích và hỗ trợ cho các làng nghề tự tổ chức và thành lập các Trung
tâm đào tạo nghề.
- Hỗ trợ kinh phí tổ chức đào tạo nâng cao kiến thức về quản lý, thị trường cho

- Đối với các làng nghề mà các sản phẩm được tạo ra chủ yếu do sự tinh xảo từ
bàn tay người nghệ nhân và người lao động (như: nghề mây tre đan; nghề chổi đót; nghề
mộc.v.v ), cách làm hợp lý nhất để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm là
cơ giới hoá một số khâu sản xuất kết hợp với kỹ thuật truyền thống cho ra các sản phẩm
mang đậm nét đẹp cổ truyền.
- Đối với các làng nghề sản xuất thực phẩm (chế biến hải sản, sản xuất thịt bò
khô, sản xuất kẹo đường, bánh tráng ), sản phẩm làm ra phải đáp ứng nhu cầu thị hiếu
người tiêu dùng cần tuân thủ các tiêu chí: đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực
phẩm, ngon, rẻ, không ảnh hưởng đến môi trường.v.v Muốn như vậy các cơ sở sản
xuất phải đầu tư ứng dụng công nghệ để trang bị một số máy móc thiết bị vào một số
khâu như: bảo quản, chế biến, đóng gói sản phẩm
* Đối với Nhà nước
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi trong
và ngoài nước để thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ;
+ Hỗ trợ, khuyến khích các cơ quan nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
về vốn để họ tiến hành các nghiên cứu, lựa chọn các công nghệ thích hợp với cơ sở sản
xuất làng nghề hiện nay;
+ Củng cố, phát triển các trung tâm ứng dụng khoa học và chuyển giao công
nghệ; trung tâm khuyến nông, khuyến lâm làm nòng cốt trong việc chuyển giao, ứng
dụng, hướng dẫn đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cho các nghề, làng
nghề;
+ Thiết lập hệ thống cung cấp thông tin về thiết bị, công nghệ cho các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất nghề, làng nghề miễn phí;
+ Tổ chức các lớp đào tạo, huấn luyện cho đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật ở
các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất các kiến thức về ứng dụng, quản lý công nghệ;
+ Thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo ngay tại các xã có nghề, làng
nghề về chuyển giao kỹ thuật công nghệ mới cho các cơ sở sản xuất, hộ gia đình, lập
ra tổ tư vấn để hỗ trợ kỹ thuật sản xuất cho những hộ mới tham gia sản xuất;
+ Chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể như hội phụ nữ, đoàn thanh
niên.v.v thường xuyên tổ chức cho các CSSX tham quan, giao lưu học hỏi lẫn nhau

tiến trong sản xuất giảm thiểu ô nhiễm môi trường;
* Đối với Nhà nước
+ Thực hiện quy hoạch và xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề (đối với các
làng nghề chưa có khu, cụm công nghiệp), đồng thời rà soát toàn bộ quy hoạch các khu,
cụm công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề đã được xây dựng để thực hiện đầu tư xây
dựng đồng bộ hệ thống xử lý nước thải công nghiệp, khu vực thu gom rác thải công
nghiệp tập trung.
+ Thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, đồng thời tăng cường công
tác kiểm tra việc thực hiện Luật bảo vệ môi trường, các quy định về môi trường, việc
thu phí về môi trường và xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm về môi trường;
+ Tăng cường tuyên truyền giáo dục ý thức của người dân, cơ sở sản xuất làng
nghề về bảo vệ môi trường, quy định chặt chẽ trách nhiệm, nghĩa vụ của họ trong việc
đóng góp kinh phí bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó cần có bộ phận và cán bộ chuyên
trách đủ năng lực, quyền lực và trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực thi công tác
bảo vệ môi trường, có những chế tài cụ thể bảo đảm xử phạt nghiêm minh đối với
những cơ sở sản xuất vi phạm các quy định bảo vệ môi trường.
+ Các chính sách hỗ trợ:
- Hỗ trợ kinh phí di dời các cơ sở sản xuất làng nghề gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng ra các cụm công nghiệp làng nghề.
- Hỗ trợ kinh phí lập dự án cải tạo, xử lý ô nhiễm môi trường các làng nghề.
- Hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư, hoàn thiện hệ thống xử lý ô nhiễm môi
trường cho các làng nghề, khu vực có nghề, gồm: Hỗ trợ xây dựng hệ thống thoát
nước thải và bể lắng cho các nghề mà chất thải chủ yếu là nước thải; Hỗ trợ xây dựng
bãi rác thải, các phương tiện vận chuyển rác cho các nghề, làng nghề mà chất thải chủ
yếu là chất thải rắn; Hỗ trợ xây dựng, lắp đặt hệ thống lọc gió, quạt để khử mùi cho
các nghề mà chất thải chủ yếu là khí.
- Nguồn kinh phí hỗ trợ được trích từ nguồn kinh phí chương trình khuyến công
hàng năm, nguồn ngân sách dành cho sự nghiệp khoa học công nghệ tỉnh và kinh phí
đóng góp của các tổ chức, cá nhân, cơ sở sản xuất làng nghề và các nguồn khác (nếu
có).

2. Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số địa phương trong
nước và một số nước trên thế giới, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho tỉnh
Quảng Ngãi.
3. Giới thiệu tổng quan về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Quảng
Ngãi nói chung và 06 huyện đồng bằng, trung du, thành phố Quảng Ngãi nói riêng.
4. Phân tích thực trạng phát triển nghề và làng nghề trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi. Đồng thời tập trung điều tra khảo sát và đi sâu phân tích thực trạng, đánh giá sự
phát triển của 30 nghề và làng nghề tại 6 huyện đồng bằng, trung du và TP Quảng
Ngãi. Từ đó, phân loại và lựa chọn 10 ngành nghề để nghiên cứu sâu trong giai đoạn
tiếp theo.
5. Trình bày các cơ sở quan trọng, đề xuất các quan điểm, mục tiêu, định hướng
phát triển, từ đó đưa ra hệ thống các giải pháp phát triển đồng bộ, khả thi nhằm phát
triển 10 nghề và làng nghề tại 6 huyện đồng bằng, trung du và TP Quảng Ngãi.
6. Lựa chọn 02 làng nghề tiêu biểu, có nhiều tiềm năng phát triển để xây dựng
đề án phát triển
“Nghiên cứu phát triển làng nghề tỉnh Quảng Ngãi” là một đề tài nghiên cứu có
phạm vi nghiên cứu rộng, không gian nghiên cứu trải dài trên nhiều địa phương, có
liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Mặc dù nhóm nghiên cứu đã có nhiều nỗ
lực cố gắng, tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn nên đề tài không tránh khỏi những
hạn chế. Nhóm nghiên cứu rất mong nhận được các ý kiến góp ý của các nhà khoa
học, nhà quản lý, chuyên gia, bạn đọc quan tâm để tiếp tục hoàn thiện.
B. KIẾN NGHỊ
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin kiến nghị đến Trung ương, lãnh
đạo tỉnh Quảng Ngãi, lãnh đạo các sở, ban, ngành có liên quan trong lĩnh vực quản lý,
phát triển nghề và làng nghề một số kiến nghị như sau:
1. Đối với Trung ương
1.1. Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các làng nghề được công nhận theo tiêu chuẩn về
vốn đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề, có cơ chế giảm lãi suất cho vay hỗ trợ phát
triển sản xuất trung, dài hạn cho làng nghề phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế. Hỗ trợ
đầu tư từ nguồn ngân sách để phát triển một số sản phẩm đặc trưng của làng nghề.

2.5 Tiếp tục triển khai 02 đề án phát triển làng nghề cụ thể là làng nghề chế
biến hải sản Thạch Bi, xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ và nghề trồng cây cảnh thôn
Hòa Tân, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Tài liệu tiếng việt
1. Bạch Thị Lan Anh, Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, Luận án tiến sỹ kinh tế, 2010.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Một số chính sách về phát triển
ngành nghề nông thôn, NXB Nông nghiệp, 2007.
3. TS. Nguyễn Thị Phương Châm, Dương Bích Hạnh, Nguyễn Mai Hương.
Tiềm năng, thực trạng và những giải pháp cho sự phát triển nghề thủ công ở Huế
trong bối cảnh thành phố di sản. Kỷ yếu Hội thảo “Nghề và làng nghề thủ công truyền
thống- Tiềm năng và định hướng phát triển”. BTC Hội chợ triển lãm làng nghề Việt
Nam 2009 và BTC Festival nghề truyền thống Huế 2009. 6/2009
4. GS.TS. Hoàng Văn Châu, Xây dựng và phát triển mô hình làng nghề du lịch
sinh thái tại một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ GD-ĐT,
2006.
5. Lê Tự Dũng, Một số giải pháp phục hồi, phát triển nghề và làng nghề truyền
thống Thừa Thiên Huế, 2007.
6. Nguyễn Văn Dưng. Nghề kim hoàn ở thành phố Hồ Chí Minh và việc phát
huy giá trị độc đáo của nghệ thuật chạm khắc thủ công. Kỷ yếu Hội thảo “320 năm
Phú Xuân Huế: Nghề truyền thống- Bản sắc và phát triển. UBND TP Huế. 6/2007.
7. ThS. Vũ Văn Đông, Mỗi làng một sản phẩm “One tambon, one product” là
giải pháp để phát triển du lịch bền vững – kinh nghiệm từ các nước và Việt Nam, Phát
triển & Hội nhập, số 3, 2/2010.
8. Hội văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng, 2/2010. Nghề và làng nghề
truyền thống đất Quảng. Nhà xuất bản Đà Nẵng.
9. ThS. Nguyễn Trinh Hương. Môi trường và Sức khỏe cộng đồng tại các làng
nghề ở Việt Nam. Viện Nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động.
10. Liên Minh. Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển làng nghề. Kỷ yếu Hội

bền vững làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước. Thông tin khoa học Phát triển Kinh tế-Xã
hội Đà Nẵng. 10/2009.
B. Tài liệu nước ngoài
23. Awgichew. Y, Policy and Practical measures to promte occupational
villages in Ethiopia. Kỷ yếu Hội thảo “Science and Technology application to develop
occupation villages”. 10/2010.
24. Embassy of Japan in Ethiopia. Study on the Handicraft Industry in Ethiopia.
www.et.emb-japan.go.jp/Eco_research_E.pdf
25.Kokoevi Sossouvi. Handicraft, Indigenous Knowledge and Commercialization.
Centre for Community Development Studies, Kunming, China.
C. Văn bản pháp quy
26. Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 18/7/2002 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa IX về đường lối CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn.
27. Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư ngày 05/08/2008 của hội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương khóa X ban hành chủ trương về phát triển Tam nông “nông
nghiệp, nông dân, nông thôn”.
28. Bộ Tài chính-Bộ Công nghiệp, Thông Tư Liên tích số 36/2005/TTLT-BTC-
BCN, Hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động
khuyến công, Hà Nội, 16/5/2005.
29. Chỉ thị 28/2007/CT-BNN ngày 18/04/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn về đẩy mạnh thực hiện quy hoạch ngành nghề nông thôn và phòng
chống ô nhiêm môi trường làng nghề
30. Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Về một số
chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, Hà Nội, 24/11/2000.
31. Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Về việc ban
hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc
gia, 15/11/2010.
32. Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Đề án
“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, Hà Nội, 27/11/2009.
33. Quyết định 132/2001/QĐ-TTg ngày 07/09/2001 của Thủ tướng Chính phủ,

D. Trang thông tin điện tử
/>

/> />
/> /> />Đà Nẵng ngày tháng năm 2011
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status