Báo cáo tóm tắt đề tài khoa học và công nghệ cấp Đại học Đà Nẵng: Nghiên cứu thực trạng lo âu của nữ cán bộ công nhân viên chức thuộc đại học Đà Nẵng - Pdf 59

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

BÁO CÁO TÓM TẮT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 
CẤP ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA NỮ CÁN 
BỘ CÔNG NHÂN VIÊN CHỨC THUỘC ĐẠI HỌC ĐÀ 
NẴNG

Mã số: Đ2014­03­64

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Hằng Phương
                                    

1


Đà Nẵng, tháng 12 năm 2014

2


MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Về mặt thực tiễn 
Xã hội ngày càng hiện đại kéo theo rất nhiều sự thay đổi trong 
đời sống con người, phát sinh ra nhiều mối nguy hiểm tiềm năng 

được trạng thái bình thường; nhưng từ  trước tới nay, mặc dù có 
nhiều nghiên cứu về vấn đề sức khoẻ tâm trí nói chung, nhưng lại ít 
có những nguyên cứu chuyên biệt về lo âu. 
Lo âu tồn tại ở mọi lứa tuổi, nhưng với đối tượng là phụ nữ thì  
khả  năng xuất hiện lo âu từ  áp lực về  cuộc sống, về  gia đình, con  
cái, công việc là rất lơn. Nhi
́
ều nghiên cứu chỉ  ra, cùng trong một 
hoàn cảnh gây ra lo âu, thì mức độ  tổn thương tâm lý  ở  nữ  rõ rệt  
hơn so với nam giới và ảnh hưởng đến cuộc sống nhiều hơn so với 
nam giới. Nhiêu nghiên c
̀
ưu cua cac hoc gia n
́ ̉
́ ̣
̉ ươc ngoai t
́
̀ ừ goc đô
́ ̣ 
đăc điêm nganh nghê cung cho thây đo la môt trong nh
̣
̉
̀
̀ ̃
́ ́ ̀ ̣
ững yêu tô anh
́ ́̉  
hưởng đên tâm ly cua phu n
́
́ ̉

ủ thuận lợi vê viêc lam, an ninh, kinh tê –
̀ ̣ ̀
́  
xa hôi. Tuy nhiên ngoài nh
̃ ̣
ững thuận lợi có thể  nhìn thấy được tác 
động tích cực đến dời sống con người nói chung và phụ  nữ  nói 
riêng, thì có thể  có những tác động tiêu cực từ  cuộc sống như  các  
mối quan hệ trong gia đình, vợ chồng, con cái; vấn đề sức khỏe; tài  
chính; công việc… 
Môt trong nh
̣
ưng hoat đông nôi bât cua Hôi Liên hiêp Phu n
̃
̣
̣
̉
̣
̉
̣
̣
̣ ư ̃
thanh phô Đa Năng trong th
̀
́ ̀ ̃
ơi gian qua la tô ch
̀
̀ ̉ ức Đai hôi thanh lâp
̣
̣

̀   hiêu
̉   về  chât́   lượng   sông
́   và 
hương đên chăm soc đ
́
́
́ ời sông tinh thân cho phu n
́
̀
̣ ư, chúng tôi đ
̃
ặt ra  
nghiên cứu về  những  lo âu của nữ  cán bộ  công nhân viên chức  
thuộc Đại học Đà Nẵng, nhằm đánh giá thực trạng lo âu (mức độ, 
biểu hiện, nguyên nhân, cách  ứng phó…) của nữ  cán bộ  công nhân 
viên chức đối với những lo âu mà mình gặp phải trong cuôc sông.
̣
́  
Qua đó, đề  xuất một số cách thức hỗ  trợ  cho nữ  cán bộ  công nhân  
viên chức thuộc ĐH Đà Nẵng giảm thiểu lo âu để  có chất lượng 
sống, công việc có hiệu quả hơn.
 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận và thực trạng về  lo âu của nữ can bô
́ ̣,  đề  xuất 
kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng sông cho n
́
ữ can bô thuôc
́ ̣
̣  Đại 
học Đa Năng.

ức đô trung binh va co anh
̣
̀
̀ ́̉  
hưởng đên đanh gia cua n
́ ́
́ ̉ ữ can bô đôi v
́ ̣ ́ ới mức đô hai long v
̣ ̀ ̀ ới cuôc̣  
sông hiên tai. 
́
̣ ̣
5.2. Có nhiều yếu tố tac đông đên nôi 
́ ̣
́ ̃ lo lăng cua n
́
̉ ữ can bô, trong đo
́ ̣
́ 
nôi lo lăng nhiêu nhât tâp trung vao công viêc, vân đê tai chinh cua gia
̃
́
̀
́ ̣
̀
̣
́ ̀ ̀ ́
̉
 
đinh va s

̉
́ ức đô hai long v
̣ ̀ ̀
ới cuôc̣  
sông va hiêu qua công viêc.
́
̀ ̣
̉
̣
6.2. Giới hạn về địa bàn
Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm, Trương
̀  
Đai hoc Bach Khoa; Đai hoc Ngoai ng
̣
̣
́
̣
̣
̣
ư; Đ
̃ ại học Kinh tế thuôc Đ
̣ ại 
học Đà Nẵng.
6.3. Giới hạn về khach thê
́
̉
Nghiên cưu chi th
́
̉ ực hiên trên khach thê la giang viên; can bô văn
̣

́
1.1. TÔNG QUAN NGHIÊN C
̉
ỨU VỀ LO ÂU 
1.1.1. Nghiên cứu về lo âu trên thế giới
Thuật ngữ  “lo âu“ đó được sử  dụng từ  lâu trong lịch sử  phát 
triển của ngành tâm thần và y học, người đầu tiên sử dụng cụm từ 
này là Kerkgard (Đan Mạch), vào năm 1844 [3]. 
Vào những năm đầu tiên của  thế  kỷ  18, nghiên cứu về  lo âu 
chủ  yếu  được tiếp cận từ  góc độ  y ­ sinh học. Các nhà khoa học 
Lazarus R.S và Laurier R. cho rằng lo âu được nẩy sinh từ sự tương  
tác trong một hệ  thống sinh học ­ xã hội ­ tâm lý [17]. Trong bảng 
phân loại các rối loạn tâm lí và bệnh tâm thần của Hiệp hội tâm 
thần Mỹ, khái niệm rối loạn lo âu bắt đầu được sử  dụng chính 
thức. 
Như vây, 
̣ nhưng nghiên c
̃
ưu 
́ ở nươc ngoai 
́
̀ từ trươc t
́ ơi nay cho
́
 
thây thuât ng
́
̣
ữ căng thăng (stress), lo âu đ
̉

̣
̣
́ ̀
ến sự căng 
thẳng trong cuôc sông.
̣
́
1.1.2. Nghiên cưu vê lo âu 
́ ̀
ở Viêt Nam
̣
Qua việc hệ  thống tài liệu, chúng tôi thấy chưa có nhiều công 
trình nghiên cứu về rối loạn lo âu một cách độc lập, cụ thể. Chỉ có  
một số  nghiên cứu có liên quan của Trung tâm nghiên cứu Tâm lý  
trẻ  em do cố  bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chủ  trì như  rối nhiễu tâm  
trí. Theo bác sĩ Hoàng Cẩm Tú, từ năm 1987 đến nay, Việt Nam mới 
có một số liệu duy nhất là có khoảng 3,4% trẻ em có biểu hiện rối 
nhiễu hành vi. Theo Bác sĩ Nguyễn Thanh Hồi, co đên 19,46 % 
́ ́
trẻ 
từ  10­16 tuổi gặp trục trặc về  sức khỏe tâm thần. B ác sĩ Nguyễn 
Thiện Thanh khoảng từ 1,5­3,5% dân số có lo âu. Như vậy, chỉ mới 
6


có số  ít thông tin về  rối nhiễu tâm trí  ở  trẻ  em mà chưa có người 
lớn và chưa có nghiên cứu nào về lo âu ở phụ nữ. 

7


thực trạng lo âu của nữ cán bộ, qua đó đề xuất các cách thức hỗ trợ 
cho nữ  cán bộ  giảm bớt căng thẳng, lo âu hướng đến chất lượng  
sống tốt hơn cho nữ  cán bộ  thuộc ĐHĐN, do vậy kết quả  nghiên 
cứu  ở  đây chưa đại diện cho nữ  cán bộ  nói riêng và giới nữ  nói 
chung. 
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LO ÂU VÀ RỐI LOẠN LO 
ÂU 

1.3.1. Khái niệm lo âu
Theo Đinh Đăng Hòe: Lo âu là hiện tượng phản  ứng tự  nhiên 
(bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe 
8


dọa của tự nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn 
tại, hướng tới.
Bác sĩ Nguyến Thiện Thanh cho rằng: Lo âu được cho là bệnh lý 
khi lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe doạ,  
ảnh hưởng đến hoạt động, làm việc của người bệnh, có thể  kèm 
theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ  kỳ  quặt, khó hiểu, vược 
mức thông thường. Lo âu bệnh lý có thể  là biểu hiện hay gặp của 
nhiều dạng rối loạn tâm thần và của nhiều dạng bệnh lý khác nhau 
của con người. Trong nghiên cưu nay, chung tôi thông nhât s
́ ̀
́
́
́ ử dung
̣  
cach hiêu
́

̀
̀
- Phân loại lo âu: Lo âu được chia thành các loại sau: Lo âu tâm 
căn,  Lo âu lan tỏa,    Rối loạn lo âu toàn thể,    Rối loạn ám  ảnh  
cưỡng chế,  Ám ảnh sợ, Cơn hoảng loạn, và các rối loạn lo âu khác
1.3.2. Biểu hiện rối loạn lo âu
Biểu hiên vê măt sinh hoc: 
̣
̀ ̣
̣ Khó thở; rối loạn nhịp tim, co thắt dạ 
dày, khô miệng, run, đau nhói, nghe kém, nhìn mờ, đau đầu, chóng 
mặt, sợ chỗ rộng, khó ngủ, cáu giận tức giận bệnh lý, thay đổi khí 
sắc. Biểu hiên vê măt 
̣
̀ ̣ nhận thức: suy nghĩ quá nhiều về việc đã xẩy 
ra; luôn nghĩ về  những vấn đề  nguy hiểm; suy nghĩ lẫn lộn; không 
tập trung, chú ý vào công việc như trước. Biểu hiên vê măt 
̣
̀ ̣ hành vi: 
Ăn không ngon, ăn nhiều quá hoặc biếng ăn, ngủ  không yên;   Dễ 
bực dọc, cáu gắt, bồn chồn, bất an. Biểu hiên vê măt 
̣
̀ ̣ cảm xúc: Sợ 
và lo lắng một cách quá mức trước những sự  việc không đáng lo; 
cảm giác sợ hãi, đau khổ. 
1.3.3. Nguyên nhân cua lo âu
̉
Cách phân chia liên quan đến nhóm vấn đề:  Những vấn đề  liên  
quan đến thay đổi cuộc sống như: Cái chết của một người thân yêu; 
Ly hôn, ly thân; Bị  mất việc hoặc thay đổi công việc...Những vấn  

́
́
́ ̀ ́ ượng sông: th
́
ường xuyên chán 
nản, không muốn làm việc; trì trệ; không quan tâm gia đình; bỏ  rơi 
con cái. Anh h
̉
ưởng đên công viêc: trí nh
́
̣
ớ không tốt ảnh hưởng đến 
chất lượng công việc; hiệu quả  công việc không cao; có bất đồng 
trong cơ bản
Các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu:  Biểu hiện của rối 
loạn lo âu chỉ  cần liên quan ít nhất 3 trong 6 dấu hiệu sau (ở 
trẻ  em chỉ  cần một dấu hiệu).  Kích thích dễ  bực mình,  căng 
thẳng đầu óc; Dễ mệt mỏi; Khó tập trung, đầu óc trống rỗng; 
Dễ cáu kỉnh; Căng thẳng cơ bắp; Rối loạn giấc ngủ (cảm giác 
khó ngủ, ngủ không ngon giấc).
Trong nghiên cứu này, ngoài việc sử  dụng thang  đo lo âu Zung,  
chúng tôi còn  sử  dụng bảng hỏi với những câu hỏi mở,  và phỏng  
vấn sâu nhằm tìm hiểu các biểu hiện khác thường của nữ  cán bộ 
trong vòng  2  tháng trở  lại  đây trên các lĩnh vực: tình trạng sức  
khoẻ, tâm lí, hành vi.
1.3.5.
Chẩn đoán lo âu
  Dựa theo bảng phân loại quốc tế  lần thứ  10 (ICD­10) các nguyên  
tắc chỉ đạo chẩn đoán RLLA như sau:
Bệnh nhân phải có các triệu chứng lo âu nguyên phát trong đa số các 

NẴNG
Biêu hiên lo 
̉
̣
âu

1.Sinh lý
2.Nhân 
̣
thức
3.Cam xu
̉
́c
4.Hành vi

Mức độ
lo âu

1. Không có
2. Ít khi 
3.
 Thỉnh 
thoảng
4.
 Thường 
xuyên 

Nguyên 
nhân  cua 
̉ lo 

giúp  đỡ 
từ 
bên 
ngoài

1.THỰC TRẠNG LO ÂU CUA N
̉
Ữ CÁN BÔ ̣
11Ợ CHO NỮ CÁN BÔ KHI GĂP CĂNG 
2.ĐỀ XUẤT CÁCH THỨC HỖ TR
̣
̣
THĂNG, LO ÂU TRONG CUÔC SÔ
̉
̣
́NG 


 

Sơ đồ 1: Mô hình khung lý thuyết của đề tài 

12


CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổ chức nghiên cứu
Đề tài được triển khai nghiên cứu theo 3 giai đoạn: Nghiên cứu 
lý luận; nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm tác động.

quan các biểu hiện và mức độ lo âu ở nữ cán bộ.
13


 Khách thể phỏng vấn bao gồm: 10 nữ cán bộ và 3 cán bộ lãnh đạo
2.3. Phương pháp xử lý số liệu 
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 15.0. P hân tích hệ số Alpha,  
lựa   chọn   hệ   số   tin   cậy   Alpha   lớn   hơn   0,8   (80%).   Giá   trị   trung 
(Mean); Độ  lệch chuẩn (Standardizied Deviation); Tần suất và chỉ 
số phần trăm. 
­ Phân tích so sánh; Phân tích tương quan nhị  biến: Mức độ  ý  
nghĩa của mối quan hệ dựa vào quan hệ xác suất với p 
12,2

Bình 
thườn
g

77,7

Tốt

8,4


CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA NƯ CAN BÔ CÔNG NHÂN VIÊN
̃ ́
̣
 
CHƯC THUÔC ĐAI HOC ĐA NĂNG 
́
̣
̣
̣
̀ ̃
3.1. Thực trạng lo âu của nữ cán bộ công nhân viên chức
3.1.1. Mưc đô lo âu cua n
́ ̣
̉ ư can bô công nhân viên ch
̃ ́ ̣
ưc 

̉
̣
̉ ư can bô công nhân viên ch
̃ ́ ̣
ưć
 3.1.2.1. Biểu hiện về mặt cơ thể (theo thang đo lo âu Zung)
Những biểu hiện thường xuyên, dễ  nhận thấy nhất  ở  nữ  cán 
bộ  là: bàn tay thường khô, nóng (ĐTB = 3,30); đau đầu, cổ, lưng 
(ĐTB = 2,40); cảm thấy yếu, dễ mệt mỏi (ĐTB = 2,38); đau dạ dày 
và đầy bụng (ĐTB = 1,95); khó chịu, hoa mắt, chóng mặt (ĐTB = 
15


1,87), tim đập nhanh hơn mọi khi (ĐTB = 1,83). Ngủ  không ngon 
giấc (ĐTB = 1,81). 

Biểu đồ 3.2: Biểu hiện về mặt cơ thể khi có lo âu
3.1.2.2. Biểu hiện về mặt nhận thức
Biểu hiện ở mặt nhận thức  ở những nữ cán bộ  có rối loại lo âu là: 
nghĩ là mình đang bị trừng phạt (ĐTB = 2,98); tưởng tượng ra nhiều 
chuyện xấu (ĐTB = 3,25); trí nhớ  suy giảm, nhớ  lẫn lộn việc này 
sang việc khác (ĐTB = 2,96), suy nghĩ quá nhiều về  những việc đã 
xẩy ra (ĐTB = 3,58). Điểm trung bình chung về  mặt nhận thức là 
2,77.
Bảng 3.2: Biểu hiện về mặt nhận thức
Mức độ ảnh hưởng
Khôn Ít 
Thỉnh  Thườ
Các yếu tố
g   bao  khi thoảng ng 

8,6
42,8
41,6

ĐTB 
25 
nữ
3,58
2,16
3,25
1,67
2,96
2,98

278
nữ 

P

1,28
,97
1,48
,74
1,34
1,61



nản
Cảm   thấy   mình   là   người 
có lỗi 

7,2
50,8
0,0
14,5
10,1

5,8

ĐTB 

Thỉnh 
thoảng

Thườn

xuyên

25 
nữ

50,
7
26,
1
4,3



15,9

2,98

Không  Ít 
bao 
khi
giờ

29,
3

3,01

26,8

38,1

278
nữ 

P

1,44

.541

1,35



Biểu đồ 3.3: Biểu hiện về mặt hành vi
Trên đây cũng là những dấu hiệu cho những nữ cán bộ  có rối 
loạn lo âu, và cũng là những dấu hiệu giúp cho lãnh đạo, cho đồng 
17


nghiệp nhận ra cán bộ  của mình có thể  đang có những lo âu quá  
mức, từ đó có những hỗ trợ tích cực giúp cho nữ cán bộ giảm thiểu  
sự lo âu.
3.1.2. Nguyên nhân gây ra lo âu ở nư can bô 
̃ ́
̣
3.1.2.1. Nguyên nhân chung gây ra lo âu cho nữ cán bộ
Những vấn đề liên quan đến công việc (ĐTB = 5,56/10 điểm), 
tiếp theo là áp lực về việc học tập nâng cao năng lực (ĐTB = 4,86) 
và vấn đề liên quan đến sức khỏe (ĐTB = 4,48). Nhưng đối với 25  
nữ cán bộ có RLLA, mức điểm lo âu cao hơn hẳn và  thứ tự vấn đề 
gây ra lo âu cũng tương tự. Cụ  thể  là lo lắng về  công việc ĐTB =  
8,23; lo lắng về  nâng cao năng lực, ĐTB = 7,29 và lo lắng cho sức  
khỏe ĐTB = 7,89.   

 

Biểu đồ 3.4: Nguyên nhân gây lo âu ở nữ cán bộ
3.1.2.2.
Những nguyên nhân gây ra lo âu từ  chồng, con và gia  
đình
Các yếu tố  từ  phía người chồng/người yêu là: chồng/người yêu 
ham làm việc quá mức (ĐTB = 2,36); chồng/người yêu không tham  

cán bộ, cụ thể là ĐTBnữ RLLA   = 3,48, và ĐTBtổng 278 nữ   = 2,05. Những 
người có con nhỏ  (0­7 tuổi) lo vì con không chịu ăn, gầy, ít cân; 
những người có con từ 8­15 tuổi thì con có vấn đề  đặc biệt nào đó 
(bệnh tim nhẹ; bệnh về  mắt; tai…) hoặc trong thời gian này con 
đang nằm viện. Tiếp theo là lo lắng về  sức khỏe của bạn bè, họ 
hàng thân thiết (ĐTBnữ  RLLA   = 2,28; ĐTBtổng 278 nữ    = 1,86) và lo lắng 
cho sức khỏe của bố mẹ hai bên (ĐTBnữ RLLA = 2,00). 
TT
1
2
3
4
5

Bảng 3.5: Vấn đề liên quan đến sức khỏe 
Nội dung

25 nữ  ĐTB
RLLA 278 nữ
Lo lắng về sức khỏe của cá nhân
1,96
,68
Lo lắng về sức khỏe của chồng
1,56
,66
Lo lắng về sức khỏe của con
3,48
2,05
Lo lắng về sức khỏe của bố mẹ hai bên
2,00

Lo lắng về các khoản nợ của gia đình
3,32
Các khoản đầu tư trong gia đình
1,08
Điều kiện cơ  sở  vật chất của gia  đình: Nhà  ở  không  
2,64
tốt…

ĐTB
278 nữ
1,22
1,24
1,94
,73
1,89

Lo lắng về  công việc được xem là nguyên nhân chính gây ra 
rối loạn lo âu cho nữ cán bộ thuộc ĐH Đà Nẵng. Cụ thể là: nữ cán  
bộ cho rằng mình có áp lực công việc, công việc quá nhiều (ĐTB = 
3,56); làm công việc không đúng năng lực (ĐTB = 3,52); thiếu sự hỗ 
trợ  của đồng nghiệp (ĐTB = 3,52); và các yếu tố  khác là lãnh đạo 
đòi hỏi quá cao trong công việc (ĐTB = 3,24) và làm việc không  
đúng với nhu cầu/mong đợi của cá nhân (ĐTB = 3,20). Áp lực về 
việc phải đi học thêm, nâng cao trình độ  chuyên môn (ĐTB = 3,55)  
là yếu tố quan trọng khiến cho nhiều nữ cán bộ lo âu ở mức độ cao. 
So sánh tương quan giữa các yếu tố, với p 

Làm việc không phù hợp với nhu cầu/mong đợi
Ý kiến của cá nhân không được tôn trọng, công nhận
Có sự bất đồng trong cơ quan/đơn vị làm việc
Lãnh đạo đòi hỏi quá cao trong công việc
Áp lực công việc (công việc quá nhiều)
Thiếu sự hợp tác/ hỗ trợ của đồng nghiệp
Áp lực về  việc phải đi học thêm, nâng cao trình độ  chuyên  
môn

3,20
2,52
2,88
3,24
3,56
3,52
3,55

1,40
1,21
1,12
1,25
1,21
1,32
1,41

Từ những phân tích ở trên, và khi thống kê lại, chúng tôi nhận  
thấy, những yếu tố  hàng đầu, là nguyên nhân gây lo âu nhiều nhất 
cho nữ cán bộ là: Áp lực công việc quá nhiều; Áp lực về việc phải  
tiếp tục đi học nâng cao trình độ  chuyên môn; Đang làm công việc  


21

3,56
3,55
3,52
3,52
3,48
3,32
3,24
3,2
2,64
2,6

278 nữ
1,21
1,41
2,22
1,32
2,05
1,94
1,25
1,4
1,89
0,96


3.1.3. Cach 
́ ưng pho v
́

cảnh thực tế của 
mình
Sử dụng chất kích 
thích (rượu/ bia/ hút 
thuốc…)
Đi Chùa/ cầu cúng
Tìm người tâm sự 
(bạn bè/ trung tâm tư 
vấn…)
Tìm thầy bói

Khôn
g bao 
giờ

Ít 
khi

26,1

ĐTB

Mức độ 
tương 
quan (r)

Thỉnh 
thoảng

Thườ

2

.485

7,2

15,
9

26,1

50,8

3,25

1,63

.462

14,5

26,
1

42,0

17,4

3,32


Ước có phép màu
Tham gia các câu lạc 
bộ văn nghệ, thể 
thao
Đi du lịch

2,2
4,9

4
10,
8
5,9
7,0

3,2

3,2

50,3

43,2

3,16

2,13

.502

3,8


3,2
3,08

2,09
2,01

.399
.475

Xem xét mức độ  tương quan giữa tính cách (hướng nội/hướng  
ngoại)  đến cách thực hiện các giải pháp trên, kết quả  cho thấy 
những cán bộ  có tính hướng nội (người ít nói, ít bày tỏ;…) thường 
sử  dụng cách thức sử  dụng chất kích thích, bỏ  nhà đi đâu đó nhiều  
hơn nữ  cán bộ  có tính hướng ngoại (hay chia sẻ, có nhiều bạn bè; 
hoạt động bề nổi nhiều…), và những lúc căng thẳng, những người 
hướng nội sẵn sàng tham gia các câu lạc bộ  văn nghệ, thể  thao 
nhiều hơn so với lúc không lo lắng (ĐTBhướng nội = 3,14 và ĐTBhướng 
ngoại   = 2,72). Chúng tôi cho rằng, có thể  tự  đánh giá mình là người  
hướng nội, nhưng những lúc căng thẳng, những người hướng nội  
lại có nội lực mạnh mẽ hơn so với những người cho rằng mình là 
người hướng ngoại.
Kết quả   phân tích   số  liệu  cũng  cho thấy, những nữ  cán  bộ 
hướng ngoại lại tìm đến phương án đi chùa,  ước có phép màu, tìm 
thầy bói nhiều hơn số còn lại (ĐTBhướng ngoại   = 2,98 và ĐTBhướng nội = 
1,73).
Một số cách thức khác nhằm ứng phó với lo âu được các nữ cán 
bộ tự đề xuất như: 
 ­ Nói với người khác về vấn đề khó khăn mình đang gặp và nói 
rõ cảm giác của mình. Nếu không tìm được người cụ  thể, có thể 

̣
̣
̀ ̃
3.2.1. Anh h
̉
ưởng cua lo âu đên chât l
̉
́
́ ượng sông c
́ ủa nữ cán 
bộ
Phân tích số  liệu nghiên cứu cho thấy, những lo âu ảnh hưởng 
đến chất lượng sống của nữ  cán bộ  rõ rệt nhất là: hiệu quả  công 
việc giảm sút (ĐTBnữ  RLLA = 3,25 và ĐTBtổng 278 nữ    = 2,31, cao nhất), 
điều này cũng phù hợp với kết quả nguyên nhân gây ra lo âu nhiều 
nhất là từ công việc. Tiếp đến là không muốn ở trong nhà (muốn đi 
ra khỏi nhà), đồng thời khi đã đi ra khỏi nhà thì lại không muốn về 
nhà, tâm trạng bị lẫn lộn cảm xúc (ĐTBnữ RLLA = 3,04 và ĐTBtổng 278 nữ 
= 1,72, thứ hai). 
Những điều phân tích trên đây chứng minh giải thuyết 5.1 của  
đề tài, lo âu co anh h
́ ̉
ưởng đên đanh gia cua n
́ ́
́ ̉ ữ can bô đôi v
́ ̣ ́ ới mức  
đô hai long v
̣ ̀ ̀ ơi cuôc sông hiên tai
́
̣

còn trẻ, tuổi từ 23­25, là những người mới vào trường/ở lại trường.  
Những người tự  đánh giá sức khỏe của mình kém hơn thấy lo âu 
hơn người khác và những người cho rằng mình có tính cách hướng  
nội cũng lo lắng hơn những người khác trong cùng sự  kiện, tình 
huống.
Bảng 3.10:  Mức độ ảnh hưởng lo lắng, căng thẳng đến cuộc sống
Nội dung 
1 Cảm thấy không hạnh phúc

Mức độ (%)
Không 
bao giờ

Ít khi

Thỉnh 
thoảng

2,7

10,8

41,1

24

Thường 
xuyên

45,4

3,2
8,1

56,2
61,6
53,5

4,3
4,3

11,9
35,1

51,4
45,4

3,04

1,72

28,1
32,4
34,6

2,84
3,52
3,19

1,75
2,31

25 nữ

2,91
3,05
3,18

2,93
3,25
3,05

3,02
2,78
2,98

2,80
3,15
2,96

p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status