Luận văn: Thực trạng tiết kiệm vật tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp - Pdf 12

\
Trang 1 Luận văn
Thực trạng tiết kiệm vật tư
trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh
nghiệp
\
Trang 2
Lời nói đầu

Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập chung việc sản xuât kinh doanh của doanh
nghiệp chủ yếu thực hiện theo chỉ thị, kế hoạch của nhà nước. Nhà nước chi vật tư
đến tận xưởng để các doanh nghiệp tiến hành sản xuất. Thời đó chưa có cạnh tranh
sản phẩm sản xuất ra được nhà nước phân phối và sử dụng. Do đó yếu tố tiết kiệm
vật tư chưa được các doanh nghiệp chú trọng nhiều. Tuy rằng thời đó chính phủ đã
đặt ra một số mức, định mức tiêu dùng vật tư nhưng chưa có hình thức rõ ràng để
khuyến khích các doanh nghiệp và công nhân tiến hành sản xuất tiết kiệm.
Khi mà nền kinh tế của đất nước đã chuyển sang cơ chế thị trường, yếu tố
cạnh tranh được đẩy mạnh và khốc liệt hơn. Mỗi một doanh nghiệp sản xuất muốn
tồn tại thì ngày càng phải phát triển và phải có cách thức, kế hoạch, chiến lựơc rõ
ràng để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác.
Đặc biệt hiện nay đất nước đang trong thời kỳ hội nhập với khu vực và thế
giới. Thị trường được mở rộng hơn đối với các doanh nghiệp trong nước đồng thời
thị trường trong nước cũng phải mở rộng để các doanh nghiệp nước ngoài vào sản
xuất và kinh doanh. Khi đó các doanh nghiệp việt nam sẽ phải cạnh tranh khốc liệt
hơn để tồn tại và phát triển. Trong điều kiện đó để tồn tại và cạch tranh được thì
mỗi doanh nghiệp cần phải có một chiến lược, kế hoạch rõ ràng cho doanh nghiệp
mình. Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến cạnh tranh là giá và chất lượng của hàng


Chương I:
Cơ sở lý luận về tiết kiệm vật tư của doanh nghiệp trong hoạt động kinh
doanh
\
Trang 4

1. Các khái niệm cơ bản về vật tư và tiết kiệm vật tư
1.1. Vật tư
1.1.1. Khái niệm
Vật tư là bộ phận cơ bản trong toàn bộ tư liệu sản xuát của xã hội,bao gồm
nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng và thiết bị máy móc.
1.1.2. Phân loại vật tư-kỹ thuật
 theo công dụng kinh tế có:
+Nguyên vật liệu: được dùng một lần trong quá trình sản xuất và giá
trị được chuyển toàn bộ vào sản phẩm.
+ Thiết bị máy móc: được sử dụng nhiều lần trong quá trình sản xuất
và giá trị được chuyển dần vào sản phẩm làm ra
 Theo sự đồng nhất về quy trình công nghệ là căn cứ và quy trình công
nghệ sản xuất các loại sản phẩm là vật tư kỹ thuật để phân thành các loại khác
nhau. Theo cách phân loại này tất cả các vật tư có quy trình công nghệ sản xuât
giống nhau hoặc gần như giống nhau được xếp cùng một loại bất kể nó được sản
xuất ở đâu và do đơn vị nào sản xuất.
 Theo nguồn cung ứng là phương pháp phân loại dựa vào nguồn vật tư

giảm chi phí sản xuất, mà còn bảo đảm sản xuất khối lượng sản phẩm nhiều hơn,
tăng thêm của cải vật chất cho xã hội.
2. Vai trò của tiết kiệm vật tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.1. Giảm chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm từ đó giảm chí phí trên một
đơn vị sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm từ đó tạo cho doanh nghiệp nhiều lợi
nhuận hơn và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đây là một trong những vai trò vô cùng quan trọng của việc tiết kiệm vật
tư.Vật tư là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất của mỗi doanh
nghiệp. Trong sản xuất giá trị của vật tư thường chiếm từ 70%-80% giá trị của sản
phẩm, do đó khi ta tiết kiệm được dù chỉ là một lượng rất nhỏ vật tư sử dụng để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm thì tổng lượng vật tư ta tiết kiệm được rất lớn, khi
\
Trang 6
đó giá cả của sản phẩm sẽ giảm đi rất nhiều. Đất nước ta mới tiến hành đổi mới cải
cách nền kinh tế từ tập chung quan liêu (thời kỳ mà hầu hết vật tư sử dụng ở các
doanh nghiệp là do nhà nước cấp phát, nhà nước bao tiêu sản phẩm đầu ra cho
doanh nghiệp). Do đó, các doanh nghiệp sản xuất chỉ chú ý đến số lượng sản phẩm
sản xuất ra chưa chú ý đến chất lượng của sản phẩm nhiều và sức cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường. Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường các
thuận lợi đó của doanh nghiệp bị mất đi, mỗi doanh nghiệp phải tìm cho mình một
hướng đi để có thể đứng vững trên thị trường. Do mới chuyển đổi nền kinh tế nên
một trong các phương pháp để cạnh tranh hiệu quả thực hiện tiết kiệm vật tư ngay
ở khâu sản xuất sản phẩm.
2.2. Làm tăng quy mô sản xuất từ đó tạo ra nhiều sản phẩm hơn cho xã hội.
Thực hiện tiết kiệm vật tư từ đó ta có thể giảm chi phí đầu vào, sử dụng
những khoản đã tiết kiệm được đó để tăng thêm quỹ đầu tư tái mở rộng sản xuất
của doanh nghiệp từ đó tạo nhiều sản phẩm hơn cho doanh nghiệp và xã hội.
2.3. Góp phần nâng cao công xuất của máy móc thiết bị.
Trong quá trình cạnh tranh gay gắt như hiện nay mỗi doanh nghiệp muốn tồn

và tích cực sử dụng nguyên, vật liệu thay thế cho loại vật tư khan hiếm, nhập của
nước ngoài.
3.1. Hạ thấp trọng lượng thực của sản phẩm, hay là nâng cao hiệu quả sử dụng
nguyên, vật liệu chính trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
Do tính chất công nghệ và tính năng sử dụng vật liệu có khác nhau, cho nên
biện pháp hạ thấp định mức tiêu dùng nguyên, vật liệu phải vận dụng cụ thể, thích
hợp với điều kiện thực tế.
Đối với các loại vật tư cấu thành thực thể sản phẩm, tạo thành hình thái nhất
định ( như máy móc, chi tiết máy, đồ dùng bằng gỗ…) thì phải coi trọng giảm bớt
trọng lượng thực của sản phẩm, làm cho sản phẩm có khối lượng nhẹ hơn, giảm bộ
phận không cần thiết, hình dạng gọn hơn trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật
sản phẩm. Muốn vậy, cần nghiên cứu hoàn thiện thiết kế, thay đổi kết cầu sản
phẩm hoặc cải tiến phương pháp công nghệ.
Đối với các quá trình chế biến hóa thực phẩm, vấn đề quan trọng là tăng hiệu
quả sử dụng nguyên liệu, tức là tăng lượng nguyên liệu có ích trong từng đơn vị
\
Trang 8
sản phẩm. Trong trường hợp này muốn nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu
phải coi trọng thực hiện tốt quy trình công nghệ, bảo đảm chất lượng nguyên liệu
đưa vào chế biến và quy định phối chế nguyên liệu, thực hiện tốt quy phạm sử
dụng máy móc, thiết bị và hoàn thiện hệ thống máy móc, thiết bị sản xuất…
Không những đối với các loại nguyên liệu, vật liệu chính mà ngay cả các loại
vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, việc áp dụng những biện pháp tổ chức-kỹ thuật
trên đây cũng có tác dụng lớn bảo đảm sử dụng tiết kiệm các loại vật tư đó.
3.2. Không ngừng giảm bớt lượng phế liệu sinh ra, tích cực tận dụng phế liệu, sử
dụng tổng hợp nguyên, vật liệu.
Trong quá trình sử dụng vật tư, lượng phế liệu sinh ra càng nhiều thì mức tiêu
dùng vật tư cho đơn vị sản phẩm càng cao, lãng phí vật tư càng nhiều. Do đó, phải
phấn đấu hạn chế tới mức thấp nhất lượng phế liệu sinh ra, nhất là lượng phế liệu
do các nguyên nhân tổ chức và quản lý gây ra. Về vấn đề này, phải coi trọng các

quy trình công nghệ, cải tiến máy móc thiết bị… cho phù hợp điều kiện mới.
3.4. Tăng cường công tác tổ chức quản lý sử dụng vật tư
Đi đôi với các biện pháp tổ chức kỹ thuật phải rất coi trọng áp dụng các biện
pháp tổ chức và quản lý, như tăng cường công tác kiểm tra và hạch toán vật tư,
thực hiện tốt các chế độ quản lý vật tư, chế độ trách nhiệm vật chất và khuyến
khích lợi ích vật chất…
Chương II
Thực trạng tiết kiệm vật tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp

A. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
1. Việt Nam và hội nhập kinh tế quốc tế
1.1. Nền kinh tế Việt Nam khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
Nền kinh tế của nước ta là một nền kinh tế mở quy mô nhỏ, do đó chịu nhiều
sức ép từ bên ngoài. Hiện nay việt nam đã tiến hành mở rộng và quan hệ thương
mại với các nước. Đến naty, Việt Nam đã ký kết trên 70 hiệp định thương mại
\
Trang 10
song phương, trong đo, đáng chú ý là hiệp định thương mại Việt-Mỹ ký năm 2001.
Việt Nam đã lần lượt tham gia vào nhiêu tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế.
Bước phát triển có ính đột phá của quá trình này là Việt Nam chính thức gia
nhập ASEAN ngày 25/7/1995và tham gia các cơ chế liên kết ASEAN trong các
lĩnh vức đầu tư sở hữu trí tuệ, công nghệ thông tin…Tháng11/1998 Việt Nam trở
thành thành viên chính thức của diến đàn Hợp tác kinh tế châu A thái bình dương
(APEC), Khối kinh tế khu vực lớn nhất thế giới, chiếm hơn 80% kim ngạch buôn
bán, gần 2/3 đầu tư và hơn 50% viện trợ nước ngoài tại Việt Nam. Tháng 12/1994
Việt Nam gửi đơn xin gia nhập tổ chức Hiệp định chung về Thương mại và Thuế
quan(GATT). Tiền thân của Tổ chức thương mại thế Giới (WTO), một tổ chức
thương mại toàn cầu với 145 thành viên, hiện kiểm soát trên 90% tổng giá trị
thương mại giao dịch thế giới. Cho đến nay Việt Nam đã tiến hành chuẩn bị giai

Đúng như nhận định của Mác-Ănghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản:
“Đại công nghiệp tạo ra thị trường thế giới. Thay cho tình trạng cô lập trước kia
của các địa phương và dân tộc tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ
biến, sự phụ thược phổ biến giữa các dân tộc”. Hoặc như mọi suy tưởng khác của
các nhà kinh điển cho rằng: Giá rẻ của sản phẩm là những trọng pháo bắn thủng
vạn lý trường thành của các quốc gia.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
 Bức tranh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cực kỳ đa dạng và phức tạp.
Do đó, hiện có tình hình là trên thế giới cũng như trong một nước, thậm chí trong
cùng một trường đại học, một cơ quan nghiên cứu lý luận, đang có những quan
niệm và nhìn nhận khác nhau, thậm chí đối lập nhau về toàn cầu hóa và hội nhập
quốc té, thể hiện ở rất nhiều tài liẹu nghiên cứu và sách báo xuất bản, mặc dầu hầu
như không một ai phủ nhận trên thực tế có sự tông tại của xu thế toàn cầu hóa và
hoạt động hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh đó, đối với nước ta, điều dặc biết quan trọng là phải xuất phất
từ lợi ích và điều kiện cụ thể của nước ta, chủ động xem xét nhận biết xu thế diễn
biến của kinh tế thế giới, tự mình nhìn nhận những gì là thời cơ, lợi thế có thể và
cần tranh thủ, những gì là thách thức cần đối phó, là tiêu cức cần phòng hốn, để
độc lập xác định thái độ, chủ trương, phương án hội nhập một cách thích hợp, nhằn
mục tiêu: đi đôi với khai thác tối đa mọi tiềm năng nội lực, cần ra sức tanh thủ các
\
Trang 12
nguồn ngoại lực như là những nguồn lực bổ sung rất quan trọng cho phát triển kinh
tế-xã hội, tạo cho nền kinh tế nước ta vị thế có lợi trong phân công lao động quốc
tế trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo đảm an ninh quốc
gia và bản sắc dân tộc.
Nếu chỉ hạn chế trong nguồn lực hạn hẹp hiện có thì không thể đẩy nhanh nhịp
đọ phất triển kinh tê, khoong thể giải quyết sớm những vấn đề xã hội bức xúc
nhhuw việc lạm, xóa đói giảm nghèo Thậm chí nguy cơ tụt hậu xa hơn sẽ trở
thành hiện thực nghiệt ngã, phất sinh nhiều vấn đề kinh tế xã hội rất phức tạp. Ai

công với các loại thách thức, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi,
điều quyết định là:
- Chủ động hội nhập quốc tế bằng một chương trình tổng thể với những
nội dung và lộ trình hợp lý; không bị động, lôi cuốn chạy theo, nhưng không do
dự, bỏ lỡ thời cơ, thậm chí phải biết sử dụng hội nhập quốc tế làm động lực thúc
đẩy sự phát triển tiến bộ của nền kinh tế. Thực tế vừ qua cho thấy : doanh nghiệp
nào chấp nhận cạch tranh, kể cả cạnh tranh quốc tế, ra sức cải tiến quản lý và công
nghệ thì không những làm chủ thị trường nội địa mà còn đứng vững trên thương
trường quốc tế. Không ít tiến bộ trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ đều là
kết quả của sự kết hợp nhân tố bên trong với nhân tố bên ngoài
Chương trình hội nhập phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội , phải đáp ứng yêu cầu của những định chế kinh tế quốc tế
mà nước ta cam kết
- Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện
đại hóa , hiện đại hóa với chất lượng và hiệu quả ngày càng cao , nhằm khai thác
tối đa mọi tiềm năng của đất nước , tạo ra những chuyển biến to lớn về cơ cấu lao
động, ngành nghề, vùng lãnh thổ, về hiện đại hóa từng bước nền kinh tế quốc dân
theo hướng kinh tế tri thức, gắn chặt thị trường trong nước với thị trường quốc tế,
tham gia ngày càng nhiều vào phân công lao động quốc tế một cách có lợi nhất
- Kiên trì đương lối đỏi mới , đưa đổi mới lên bước phát triển cao hơn
là xây dựng nhanh thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN : củng cố vai trò
chủ đạo của kinh tế nhà nước đi đôi với tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế
khác cùng phát triển ; cải tiến chế độ phân phối , kết hợp tăng trưởng kinh tế với
\
Trang 14
giải quyết các nhu cầu xã hội ; xây dựng quy hoạch, kế hoạch kinh tế ; kết hợp
“cung”; với “cầu”, coi “cầu” là điểm xuất phát , là đối tượng của “cung”; lấy chất
lượng và hiệu quả làm tiêu chuẩn hàng đầu ; kịp thời điều chỉnh bổ sung các chính
sách thương mại , tài chính, ngân hàng ; tăng cường và đổi mới chức năng quản lý
của Nhà nước.

nước và nhân dân ta có đủ bản lĩnh và khả năng khai thác những gì lợi thế của hội
nhập quốc tế , đồng thời đối phó thành công với nhiều loại thách thức phức tạp.
Thực tế vừa qua về cả hai mặt “được” và “chưa được” đều là những kinh nghiệm,
bài học bổ ích giúp chúng ta mạnh dạn chuyển qua bước phát triển mới của hội
nhập quốc tế.
B. Những lợi thế và bất lợi của doanh nghiệp trong cạnh tranh và nâng cao
khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
Trong thời kỳ hội nhập cuả nền kinh tế, cạnh tranh trên thương trường diễn ra
vô cùng gay gắt và khốc liệt, do đó đẩy mạnh khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trong thời kỳ này là vô cùng quan trọng và cấp thiết. Đặc biệt trong vấn đề
cạnh tranh về sản phẩm khi người tiêu dùng đang có xu thế tin tưởng vào nhãn
hiệu sản phẩm.
Khi hội nhập nền kinh tế nước ta với thế giới thị trường được mở rộng, các
doanh nghiệp nước ngoài sẽ tăng cường đầu tư công nghệ vào Việt Nam hơn nữa
do đó doanh nghiệp sẽ có điều kiện tiếp súc với thị trường rộng lớn trên thế giới và
nâng cao khả năng công nghệ sản xuất sản phẩm của mình. Hội nhập cũng đồng
nghĩa với việc mở rộng thị trường trong nước cho các doanh nghiệp nước ngoài
vào Việt Nam sản xuất và kinh doanh. Khi đó mức độ cạnh tranh trên thị trường sẽ
cao hơn rất nhiều, người tiêu dùng trong nươc do tiếp cận với nhiều sản phẩm với
mẫu mã khác nhau do đó yêu cầu về mẫu mã và chất lượng sản phẩm của họ là cao
hơn. Khi đó để đứng vững trên thị trường nội địa và thế giới doanh nghiệp không
chỉ không ngừng nâng cao chất lượng của sản phẩm, mà còn phải có cách thức sản
xuất, quản lý để giảm giá thành của sản phẩm, nâng cao uy tín, tiếng tăm của
doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nội địa và thế giới.
C. Tiết kiệm để cạnh tranh
\
Trang 16
Trong xu thế hội nhập với thị trường khu vực và thế giới, hàng hóa đòi hỏi
những tiêu chuẩn khá khắc khe về mẫu mã, chủng loại, chiến lược và giá thành.
Những năm gần đây, nhiều ngành công nghiệp trong nước nói chung, Thành phố

hoạt động ở chế độ non tải, khoảng 60%, điều này làm giảm hiệu suất của động cơ,
gây lãng phí năng lượng. Hiện nay, các nhà máy sản xuất trong ngành Nhựa sử
dụng công nghệ ép phun và công nghệ ép đùn, mà các lọai máy này đều có bộ
phận sinh nhiệt để nung keo đến trạng thái nóng chảy để ép kéo tạo ra sản phẩm.
Các vòng gia nhiệt này có nhiệt độ khá cao, trên 200
0
C, nhưng lại để trần gây mất
nhiệt rất nhiều. Điều này dẫn đến tổn thất điện năng dùng để gia nhiệt cho điện trở
bù vào phần nhiệt bị mất đi, đồng thời làm cho môi trường làm việc nóng hơn,
phải dùng nhiều quạt gió hơn để giải nhiệt nên việc sử dụng điện nhiều hơn. Từ
việc kiểm toán năng lượng thí điểm ở một số nhà máy cho thấy, tiềm năng tiết
kiệm năng lượng rất lớn, nếu các điều kiện kinh tế, kỹ thuật cho phép thì nhiều nhà
máy sản xuất trong ngành Nhựa tiết kiệm được một khoản năng lượng từ 20 -
40%.
Tuy nhiên, việc tiết kiệm năng lượng trong ngành Nhựa về mặt kỹ thuật nên
chia làm 2 phần đó là tiết kiệm về mặt kỹ thuật và tiết kiệm về các biện pháp quản
lý. Trong quản lý, cần có cản bộ chuyên trách quản lý năng lượng, định mức suất
tiêu hao năng lượng, tránh thời gian máy chạy không tải, dừng máy không lý do,
tuyên truyền nâng cao ý thức tiết kiệm năng lượng Trong biện pháp kỹ thuật, cần
bố trí hệ thống dây dẫn hợp lý, nhất là việc cân bằng tải ở 3 pha các nhánh của hệ
thống điện trong nhà máy. Biện pháp này khá đơn giản nhưng có khả năng tiết
kiệm được 3% tổng lượng điện tiêu thụ của nhánh đó. Khi dòng điện 3 pha không
cân bằng, chúng có thể phân tích thành 3 thành phần thứ tự là thứ tự thuận, thứ tự
nghịch và thứ tự không. Thành phần thứ tự nghịch và thứ tự không có thể gây nên
tổn thất trong hệ thống phân phối, ít nhất cũng trên đường dây truyền tải. Bên cạnh
đó, dòng thứ tự không trên dây trung tính có thể gây hư hỏng thiết bị, gây mất an
toàn cho người vận hành. Việc bọc bảo ôn những nơi có nhiệt độ cao gây thất thoát
nhiệt ra môi trường xung quanh như đầu lò nung keo của nhà máy ép phun, đầu lò
của máy thổi, bọc nòng xi lanh gia nhiệt có thể tiết kiệm được 10% tổng năng
lượng tiêu thụ. Đã có doanh nghiệp sử dụng công nghệ máy ép đùn chạy bằng

1. Đánh giá trình độ hoàn thành kế hoạch sứ dụng vật tư
1.1. Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tổng khối lượng dùng vật tư, là chỉ tiêu so sánh
giữa khối lượng vật tư thực tế đã sử dụng(M1) với tổng khối lượng vật tư hạn t tư.
Tổng khối lượng vật tư thực tế đã dùng xác định bằng công thức: mức kế
hoạch(Mn) trong thời kỳ đó, chỉ tiêu này tính riêng cho từng loại vật tư
M1 = M2 + M3 – M4
Trong đó:
M1: Lượng vật tư thực tế đã dùng trong kỳ
M2: Lượng vật tư còn lại đầu kỳ
\
Trang 19
M3: Lượng vật tư nhận trong kỳ
M4: Lượng vật tư còn lại cuối kỳ
Chỉ tiêu lượng vật tư thực tế dùng có thể cao hay thấp không những do trình
độ sử dụng tiết kiệm hay lãng phí vật tư, mà còn phụ thuộc ở mức hoàn thành kế
hoạch sản xuất sản phẩm vượt hay hụt mức kế hoạch. Do đó, phải xét đến chỉ tiêu
hoàn thành định mức tiêu dùng vật tư.
1.2. Tỷ lệ hoàn thành định mức tiêu dùng vật tư (I
m
) là chỉ tiêu so sánh giữa mức
tiêu dùng vật tư thực tế cho đơn vị sản phẩm (m
1
) với định mức tiêu dùng vật tư
(m
n
) mà xí nghiệp giao cho phân xưởng. Chỉ tiêu này nêu lên trình độ chấp hành
định mức tiêu dùng vật tư, tình hình sử dụng tiết kiệm hay lãng phí vật tư của phân
xưởng trong mỗi thời kỳ.
I
m

Công thức tính hệ số này là: K
p
= P
1
/ M
Giữa hai hệ số trên có quan hệ lấn nhau, với cùng khối lượng nguyên vật
liệu tiêu dùng (M), hệ số thành phẩm càng lớn thì hệ số phế liệu càng nhỏ tương
ứng.
Do đó, ta còn có thể tính được các hệ số trên như sau:
K
p
=1 - K
t
hoặc là K
t
=1 - K
p
\
Trang 20
1.3.3. Hệ số sử dung phế liệu (K
lp
) là chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng lượng phế
liệu sinh ra dùng lại làm vật liệu hoặc để sản xuất mặt hàng khác, là tỷ số giữa
lượng phế liệu được thu hồi, lợi dụng (L
p
) với lưọng phế liệu sinh ra (P
1
).
Công thức tính hệ số này là: K
lp

nhất trí, vì có một bộ phận vật tư kỹ thuật còn lưu lại dưới hình thức dự trữ để đảm
\
Trang 21
bảo cho quá trình sản xuất và xây dựng khỏi bị gián đoạn. Do đó, thống kê cung
ứng vật tư kỹ thuật không những nghiên cứu tình hìng cung ứng, tình hình nhập
vật tư kỹ thuật mà còn nghiên cứu tình hình sử dụng và dự trữ vật tư đã được cung
ứng. Trong thống kê chất lượng vật tư cung ứng được đánh giá qua một số phương
pháp sau:
2.1. So sánh tỷ trọng các loại phẩm cấp.
Căn cứ tiêu chuẩn chất lượng, người ta chia một loại vật tư ra nhiêu loại
phẩm cấp thể hiện sự khác biệt về chất lượng của nguyên vật liệu. Do đó, vật tư có
chất lượng tốt chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số cung ứng, thể hiện chất lượng loại
vật tư cung ứng đó là tốt. Vì vậy trong phân tích có thể tính tỷ trọng của từng loại
phẩm cấp và so sánh giữa thực tế và kế hoạch, giữa các thời kỳ và các khu vực để
nghiên cứu chất lượng của vật tư
2.2. Hệ số phẩm cấp
Hệ số phẩm cấp là một chỉ tiêu tương đối tính bằng công thức bình quân số
học gia quyền. Hệ số phẩm cấp càng nhỏ thể hiện chất lượng vật tư càng tốt.
Công thức tính hệ số phẩm cấp:
H= c*q/  q
Trong đó:
H: Hệ số phẩm cấp
c : Phẩm cấp vật tư
q: Lượng vật tư đã cung cấp.
2.3. Giá bình quân phẩm cấp.
Đây là một chỉ tiêu bình quân được tính bằng công thức bình quân số học gia
quyền, trong đó lượng biến là lượng từng loại phẩm cấp và quyền số là lượng từng
loại phẩm cấp vật tư đã cung cấp. Giá bình quân phẩm cấp càng lớn, thể hiện chất
lượng vật tư càng tốt, chứng tỏ đơn vị, trạm đã cung ứng phần lớn vật tư phẩm cấp,
chất lượng bảo đảm.
\
Trang 23
Chương III
Phương hướng và các giải pháp để nâng cao khả năng tiết kiệm vật tư của
doanh nghiệp
A. Định hướng lâu dài cho tiết kiệm vật tư
1.1. Phải xây dựng được các định mức tiêu dùng vật tư trong việc sản xuất sản
phẩm. Đây là một công việc hết sức khó khăn và đòi hỏi không chỉ doanh nghiệp
mà cả nhà nước cùng phải cùng nhau xây dựng.
Trong quá trình sản xuất sản phẩm việc định ra các địch mức tiêu dùng vật tư
là vô cùng quan trọng. Xây dựng định mức thì ta mới có thể xây dựng được kế
hoạch, chiến lược phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng của sản phẩm, hạ giá
thành sản phẩm từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời
kỳ mới.
- Công tác định mức phải đưa ra được các định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến
để giảm chi phí vật tư.
- Nhà nước phải tiến hành sây dựng hệ thống hoàn chỉnh các mức, các tiêu
chuẩn hao phí để đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế quốc dân.Từng bước hoàn
chỉnh hệ thống mức từ phân xưởng đến xí nghiệp, đến ngành trong toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.
- Tổ chức, đánh giá tình hình thực hiện mức trên tất cả các mặt.
+ Tổ chức thực hiện sản xuất theo các mức đã đề ra
+ Phổ biến kinh nghiệm thực hiện các mức trong nề kinh tế quốc dân
+ Xây dựng hoàn thiện chế độ quản lý mức tiêu dùng vật tư
1.2 . Trong quá trình sản xuất phải dựa vào tiến bộ kỹ thuật và công nghệ trong quá

nhân viên phân xưởng hơn.
Tất cả các định hướng trên được xây dựng và lựa chọn để áp dụng trong tất cả
các khâu vận động nguyên liệu trong quá trình tái sản xuất, từ khâu thiết kế sản
\
Trang 25
phẩm, lựa chọn và sở chế nguyên liệu, tổng hợp sử dụng nguyên liệu, đến việc tận
thu tận dụng phế liệu, phế phẩm.
Cùng với việc nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ chế tạo, cũng như
hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý cần phải nâng cao năng lực làm chủ
của đội ngũ người lao động. Bởi vì chính họ là những chủ thể quyết định đến việc
quản lý vật tư nói chung và sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật tư nói riêng.
2. Các giải pháp nâng cao khả năng tiết kiệm vật tư của doanh nghiệp trong
quá trình sản xuất sản phẩm.
2.1. Mỗi doanh nghiệp cần phải xây dựng được chiến lược lâu dài của sản phẩm.
Hiện nay trong nền kinh tế mở cửa cạnh tranh diễn ra găy gắt vòng đời của
sản phẩm ngắn. Do đó chiến lựơc lâu dài để phát triển sản phẩm là rất quan trọng.
Doanh nghiệp cần phải sâydựng một kế hoạnh, chiến lược để đảm bảo lợi nhuận
thu đựơc từ sản phẩm là nhiều nhất có thể. Xây dựng đựơc chiến lược lâu dài của
sản phẩm để doanh nghiệp có hình thức kế hoạch sử dụng vật tư cho phù hợp với
điều kiện của doanh nghiệp, từ đó có cách thức tiết kiệm vật tư cho phù hợp.
Trong chiến lược vế sản phẩm thì doanh nghiệp không nên đặt mục tiêu số
một là lợi nhuận mà đưa lợi nhuận nên làm mực tiêu số hai. Thay vào đó cần chú ý
tới sức cạnh tranh lâu dài của sản phẩm (như không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm, các chế độ dịnh vụ đi kèm thuận tiện…, tích cực tìm các biện pháp để
tiết kiệm vật tư để từ đó giảm giá thành sản phẩm). Doanh nghiệp cần phải có một
tần nhìn lâu dài về phát triển sản phẩm, đầu tiên là phải chiếm lĩnh thị trường thu
hút khách hàng đến mua sản phẩm của doanh nghiệp mình, lấy mục tiêu phục vụ,
thoả mãn nhu cầu của khác hàng là mục tiêu chính. Chỉ có làm được như vậy thì
doanh nghiệp mới có thể dứng vững trên thị trường nội địa. Còn để thâm nhập vào
thị trường thế giới thì chỉ như vậy thôi thì chưa đủ, doanh nghiệp cần phải nâng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status