Luận văn: TÍNH TOÁN THIẾT KẾ NỒI ĐƯỜNG HOÁ SẢN XUẤT BIA doc - Pdf 12


1
Luận văn
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ
NỒI ĐƯỜNG HOÁ SẢN
XUẤT BIA 2
PHẦN 1: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BIA
CHƯƠNG 1
NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT BIA

1.1 Malt đại mạch, nguyên liệu chính trong sản xuất bia
1.1.1 Đặc tính thực vật
Đại mạch thuộc nhóm thực vật có hạt, thuộc họ lúa mì. Đại mạch có hai
loại là đại mạch mùa đông và đại mạch mùa xuân, chu kỳ sinh trưởng của đại
mạch là khoảng 100-120 ngày, tất cả các giống đại mạch chia ra làm hai
nhóm chính là đại mạch hai hàng và đại mạch nhiều hàng. Trong công nghiệp
sản xuất bia nghười ta chủ yếu dùng đại mạch hai hàng vì loại đại mạch này
cho chất lượng bia cao, vị bia thơm ngon hơn loại bia được sản xuất từ đại
mạch nhiều hàng.
1.1.1 Thành phần hoá học của đại mạch
Thành phần hoá học của đại mạch rất phức tạp. Nó phụ thuộc vào
giống đại mạch, điều kiện đất đai, khí hậu từng vùng, kỹ thuật canh tác và
điều kiện bảo quản. Các chỉ số về thành phần hoá học của đại mạch là nhân tố
quyết định đến chất lượng bia và để kiểm tra xem đại mạch có đủ yêu cầu về
sản xuất bia không ta kiểm tra một số thành phần sau:

m

, cònloại hạt bé có kích thước
khoảng 2-10
m

. Trọng lượng riêng tinh bột khá cao khoảng 1,5-1,6; nhiệt
lượng khoảng 0,27Kcal/kg.
0
C. Vì vậy trong dung dịch chúng lắng xuống rất
nhanh. Tính chất này rất quan trọng trong quá trình chế biến dịch đường. Một
đặc điểm khác của tinh bột là khi hòa vào nước và nâng nhiệt độ lên thì tinh
bột sẽ hút nước và nở ra vì vậy thể tích tinh bột tăng lên rất nhanh đến một
thời điểm nhất định hạt tinh bột bị phá vỡ ra và bắt đầu hình thành dung dịch
keo, hiện tượng này gọi là hiện tượng hồ hoá tinh bột. Tinh bột sau khi hồ hoá
thì sẽ đường hóa nhanh hơn và triệt để hơn.
1.1.2.c Thành phần Xenlulo trong đại mạch
Xenlulo chủ yếu nằm trong vỏ trấu của đại mạch và chiếm khoảng 20%
chất khô của vỏ. Phân tử xenlulo bao gồm 2000-10000 gốc đường đơn
glucoza xếp thành mạch dài xoắn lại từng chùm. Do cấu trúc như vậy nên
xenluloza đóng vai trò đặc biệt quan trong quá trình lọc dịch đường vì lớp vỏ
trấu sẽ tạo lớp màng lọc lý tưởng.
1.1.2.d Thành phần Polyphenol và chất đắng

4
Polyphenol và chất đắng tập trung chủ yếu trong lớp vỏ đại mạch. Phần
lớn những hợp chất hoà tan trong bia đều là những dẫn xuất của Catechin.
Những hợp chất này có những tính chất có lợi cho sản xuất bia vì nó dễ dàng
kết hợp với Protit cao phân tử để tạo thành phức chất có khả năng dễ kết lắng
làm tăng độ bền của keo sản phẩm. Mặt khác sự hoà tan của Polyphenol vào

Enzim là hợp chất hữu cơ có hoạt tính sinh học rất cao, có cấu tạo phân
tử rất phức tạp và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công nghệ sản xuất
bia, trong giai đoạn hình thành hạt, hoạt lực của nhóm Enzim rất cao, đến giai
đoạn hạt chín hoạt lực của Enzim giảm một cách đáng kể và đến lúc sấy hạt
đến hàm ẩm 13% thì hầu hết các hệ Enzim trở thành trạng thái liên kết, đến
giai đoạn ngâm hạt thì hạt hút nước lúc này hệ Enzim được giải phóng khỏi
trạng thái liên kết và chuyển thành trạng thái tự do, đến giai đoạn ươm mầm
thì hoạt lực của Enzim đạt đến mức tối đa nhờ đó mà đến lúc đường hóa
chúng có khả năng thuỷ phần hầu như toàn bộ các hợp chất cao phân tử trong
nội nhũ của hạt thành chất chiết của dịch đường.

5
Ngoài ra trong đại mạch còn có chứa rất nhiều chất khác có ảnh hưởng
đến công nghệ sản xuất bia cũng như chất lượng bia như các hợp chất của
Fitin, các hợp chất không có chứa N
2
và các hợp chất có chứa N
2
.
Trong công nghiệp sản xuất bia, đại mạch dùng để sản xuất Malt phải
có tỷ lệ nảy mầm và cường độ nảy mầm cao (thường tỷ lệ này chiếm khoảng
90%-95%). Malt đại mạch là hạt đại mạch được nảy mầm trong những điều
kiện nhân tạo có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. Nhiệm vụ của qúa trình nảy
mầm là tích luỹ và làm giàu hệ Enzim trong đại mạch mà không làm tiêu hao
nhiều tinh bột. Sau quá trình nảy mầm, trong những điều kiện tiêu chuẩn của
công nghệ, hạt đại mạch có nhiều thay đổi về thành phần hoá học. Dưới tác
dụng của Enzim, Hemilluloza, một số Polisacarit bị thuỷ phân tạo nên Hexoza
và Pentoza để xây dựng mô và rễ lá mầm. Các Enzim Amilaza phân huỷ tinh
bột (thường có từ 5%-10% tinh bột bị thuỷ phân ở giai đoạn này) tạo nên
Glucoza, Malttoza, Maltodetim và một lượng lớn sacaroza, phần lớn các loại

lượng chất béo nhiều,nên làm cản trở quá trình lọc và làm giảm độ bền keo
cũng như tăng khả năng tạo bọt của bia, vì vậy để sử dụng loại cốc này một
cách có hiệu quả thì trước lúc đưa vào chế biến dịch đường, ngô phải qua một
giai đoạn tách phôi và vỏ, để làm được việc này ta ngâm ngô vào trong nước
ấm 50
0
C có chứa SO
2
ở nồng độ 0,1-0,2%. Thời gian ngâm khoảng 30giờ-
50giờ với mục đích làm hạt ngô mềm ra để khi tách phôi hạt ngô được
nguyên vẹn. Khí SO
2
là tác nhân vừa ngăn ngừa sự phát triển của vi sinh vật,
vừa có tác dụng làm cho màng Protein bị trương lên, phân rã ra và khuếch tán
vào dung dịch.
1.4 Thóc nguyên lỉệu thay thế chính trong công nghệ sản xuất bia
1.4.1 Đặc trưng chung của thóc
Cây lúa là cây lương thực chính của gần nửa dân số thế giới, đặc biệt
được trồng nhiều ở các nước vùng Đông Nam Á. Sản lượng thóc trên toàn thế
giới tập trung chủ yếu ở Châu Á . Năm 1991 tổng sản lượng thóc trên toàn thế
giới là 521,4 triệu tấn thì sản xuất 478,6 triệu tấn, Châu Phi 12,3 triệu tấn và
châu đại dương 0,8 triệu tấn. Việt nam mấy năm gần đây sản lượng lúa tăng

7
lên đáng kể và sản lượng xuất khẩu ngày càng tăng. Lúa là cây ưa ẩm và ấm
nên trồng nhiều ở châu thổ, các vùng nhiệt đới và ôn đới.
1.4.2 Cấu tạo và tính chất của hạt thóc
Cấu tạo của hạt thóc bao gồm vỏ trấu, vỏ quả, vỏ hạt,lớp Alơrông,nội
nhũ và phôi. Tuỳ thuộc vào giống lúa và điều kiện phát triển của cây lương
thực mà vỏ trấu của hạt thóc dao động trong khoảng lớn 10%-33% trọng

Trong thời gian thuỷ phân 4 giờ ở nhiệt độ 65
0
C dưới tác dụng của Amilaza
tinh bột gạo thuỷ phân 31,3% còn tinh bột đại mạch thuỷ phân 96,3%. Để
thuỷ phân được tốt thì tinh bột gạo cần được hồ hoá và đường hoá tốt. Về
thành phần hoá học, gạo có hàm lượng tinh bột lớn nên dịch chiết nhiều.
Nhưng trong gạo hàm lượng hợp chất Nitơri nhiều nên trong nấu bia cần có
những biện pháp thích hợp.
1.5 Hoa Hublông
Hoa Hublông là nguyên liệu cơ bản, rất quan trọng trong công nghệ sản
xuất bia. Hoa Hublông làm bia có vị đắng dịu, hương thơm rất đặc trưng, làm
tăng khả năng tạo bọt và giữ bọt, làm tăng độ bền keo và làm ổn định độ bền
sinh học của sản phẩm, do những đặc tính đặc biệt như vậy nên hoa Hublông
luôn giữ vai trò duy nhất về tạo mùi cho bia trong công sản xuất bia.
Thành phần hoá học của hoa Hublông phụ thuộc vào chủng loại giống ,
điều kiện khí hậu, đất gieo trồng, kỹ thuật canh tác Thành phần hoá học của
hoa Hublông bao gồm:
 Nước : 11%-13%;
 Protêin: 15%-21%;
 Xenlulôza: 12%-14%;
 Chất khoáng: 5%-8%;
 Tinh dầu thơm: 0,3%0-1%;
 Hợp chất khác: 26%-28%;
Trong các phành phần chính được nêu ra ở trên có trị nhất là chất đắng và
tiếp theo là tinh dầu thơm.

9
CHNG 2
QUY TRèNH CễNG NGH SN XUT BIA



10
thích hợp của Malt phụ thuộc vào cấu trúc của nó tức là phụ thuộc vào độ
nhuyễn của hạt. Nếu Malt kém nhuyễn thì chế độ nghiền mịn với nội nhũ là
cần thiết để thu nhận được hàm lượng chất chiết lớn nhất. Còn nếu Malt có độ
nhuyễn tốt thì mức độ nghiền có thể thô hơn. Mức độ nghiền còn phụ thuộc
vào thiết bị và phương pháp lọc bã. Nếu lọc bã bằng phương pháp dùng máy
lọc ép khung bản thì ta có thể nghiền ở mức độ mịn hơn, còn nếu lọc bã bằng
thùng lọc đáy bằng thì mức độ nghiền Malt phải thô hơn.
Malt sau khi được nghiền được chuyển đến công đoạn đường hoá
nguyên liệu nghiền. Mục đích của quá trình đường hoá là nhằm chuyển về
dạng hoà tan tất cả những chất có phân tử lượng cao nằm dưới dạng không
hoà tan của bột Malt, chúng sẽ cùng với chất hoà tan trong tinh bột tạo thành
chất chiết của dịch đường. Trong trong Malt thường có sẵn 15% chất không
hoà tan điều này nói lên rằng phần lớn chất trong Malt ở dạng không hoà tan.
Thông thường hiệu suất chất hoà tan trong dịch đường là từ 75%- 78% chất
khô của Malt, nghĩa là trong quá trình đường hoá hàm lượng chất hoà tan sẽ
tăng từ 60%-63%. Sự phân cắt các chất hữu cơ phức tạp trong Malt là kết quả
của sự tác dụng của hệ thống men sẵn có trong Malt. Thực chất của các quá
trình ở giai đoạn này là sự thủy phân các hợp chất cao phân tử dưới xúc tác
của Enzim, trong thành phần sản phẩm thuỷ phân chiếm nhiều nhất về khối
lượng là là đường và Dextrim. Vì lý do này mà ta gọi toàn bộ quá trình thuỷ
phân ở giai đoạn này là bằng tên gọi đơn giản là quá trình đường hoá. Cháo
Malt sau khi nấu xong được đưa sang công đoạn lọc dịch đường.
Cháo Malt sau khi đường hoá xong gồm hai phần: Phần đặc và phần
loãng. Phần đặc bao gồm tất cả những phần tử nhỏ không hoà tan của bột và
phần loãng là dung dịch nước chức năng tất cả những chất hoà tan của Malt,
ta gọi là dịch đường. Mục đích của quá trình lọc là nhằm tách phần lỏng riêng
ra khỏi phần đặc. Đặc trưng của cháo Malt là trong đó có rất nhiều phần tử
rắn.Trong quá trình lọc những phần tử rắn này sẽ tạo thành một lớp nguyên

Bicacbonat và cacbonat thường gây ra ảnh hưởng xấu đến chất lượng của dịch
đường, ngược lại độ cứng cacbonat không bé hơn 2,1 thì kết quả vẫn tốt. Ta
cần chú ý rằng khi rửa bã không nên tránh tổn thất chất hoà tan mà rửa quá
lâu, như vậy lượng Tamin hoà tan sẽ tăng lên gây cho bia đắng. Mặt khác

12
nhiệt độ trong khi lọc được quá 78
0
C vì trong quá trình lọc bia vẫn còn một
lượng tinh bột không hoà tan,ở nhiệt độ cao này có thể xảy ra hiện tượng hồ
hoá tinh bột nhưng không đường hoá kịp và do đó làm cho bia đục.
Cháo Malt sau khi đường hoá xong được chuyển sang công đoạn đun
sôi với hoa Hublông. Mục đích của quá trình đun sôi dịch đường với hoa
Hublông là nhằm làm ổn định thành phần và tạo cho bia có mùi thơm, vị đắng
đặc trưng của hoa Hublông. Đồng thời trong lúc này cũng xảy ra một số quá
trình khác như sự khử hay độ nhớt hạ xuống Một số trong những quá trình
ấy đã làm thoả mãn những yêu cầu về kỹ thuật song bên cạnh đó có một số
quá trình lại gây tác dụng ngược lại mà ta không mong muốn. Nước đường
sau khi lọc cùng với nước rửa bã thường bị đục và trong nước thường có chứa
một số chất keo không ổn định hoặc các vi sinh vật còn sót vì thế qua quá
trình đun sôi này ta loại trừ được những yếu điểm trên, làm ổn định thành
phần hoá học của dịch đường và tạo điều kiện cho bia có thành phần và chất
lượng đạt yêu cầu. Ngoài ra quá trình đun sôi dịch đường với hoa Hublông
còn giúp cho bia có độ bền sinh học và khả năng tạo bọt tốt. Một trong những
biện pháp thông dụng nhất hiện nay là đun sôi trực tiếp dịch đường với ha
Hublông.
Toàn bộ sản phẩm của quá trình nấu dịch đường với hoa Hulbông
chuyển sang công đoạn làm lạnh và lắng trong dịch đường. Dịch đường sau
khi đun sôi với hoa Hublông cần làm nguội đến nhiệt độ thích hợp cho từng
loại bia trước khi lên men. Đồng thời quá trình này sẽ tạo thuận lợi cho quá
14 CHƯƠNG 3
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ NỒI ĐƯỜNG HOÁ

3.1 Quá trình đường hoá
Nguyên liệu sau khi nghiền nhỏ sẽ được hoà trộn với nước trong thiết
bị đường hoá. Nước sẽ được cung cấp vào nồi đường hoá với một lượng vừa
đủ tuỳ thuộc vào chủng loại bia và đặc tính kỹ thuật của thiết bị. Trong môi
trường giàu nước các hợp chất thấp phân tử có sẵn trong nguyên liệu sẽ hoà
tan vào nước và trở thành chất chiết của dịch đường sau này. Các hợp chất
chứa Phốtpho sẽ bị tác động bởi nhóm enzim và khi nhiệt độ của khối dịch
tăng lên đến nhiệt độ thích hợp thì dưới sự tác động của hệ enzim thuỷ phân
các hợp chất cao phân tử bị phân cắt thành sản phẩm thấp phân tử và hoà tan
vào nước để trở thành chất chiết của dịch đường, thực chất các quá trình ở

với bột Malt ở thùng trộn sơ bộ sau đó đưa vào nồi hồ hoá. Nhiệt độ nước
dùng trộn bột Malt khoảng 38-40
0
C. Nhiệt độ nước cần phải điều chỉnh sao
cho khi trộn thì một hỗn hợp có nhiệt độ 35-37
0
C . Sau khi trộn đều toàn bộ
bột Malt với nước ta để như vậy một thời gian ngắn để cho các thành phần rắn
lắng xuống dưới. Sau đó khoảng 1/3 khối lượng hồ Malt bơm sang nồi đường
hoá, phần hồ Malt này ta gọi là thứ 1. Ta bắt đầu từ từ tăng nhiệt độ lên đến
50-55
0
C và ta giữ ở nhiệt độ này khoảng 5-10 phút. Khoảng thời gian nghỉ
này người ta gọi là thời gian nghỉ Protit bởi vì trong thời gian này men
protaza sẽ hoạt động và tạo thành sản phẩm protit có phân tử lượng thấp. Sau
khi nghỉ nhiệt độ tăng lên đến 70-73
0
C ở nhiệt độ này sẽ kết thúc sự đường
hoá của Malt. Bình thường phần hồ Malt thứ nhất sẽ đường hoá trong 15-20
phút sau đó tăng nhiệt độ lên để đun sôi cháo malt trong khoảng 20 phút, do
đun sôi mà các hạt tinh bột còn lại sẽ bị nát ra và bắt đầu tạo thành hồ tinh
bột. Cả quá trình nấu phần thứ một mất khoảng 2 giờ. Sau khi cháo Malt của

16
phần 1 được đun sôi, ta bơm ngược vào nồi hồ hoá lúc này cánh khuấy trong
nồi hoạt động với tốc độ lớn nhất, đồng thời bơm từ từ như vậy sẽ hạ thấp
nhiệt độ của cháo Malt xuống, nếu không làm như vậy men sẽ bị phá huỷ hay
ngừng hoạt động. Sau khi trộn đều phần Malt thứ 1 đã đun sôi với toàn bộ hồ
Malt ta có được hỗn hợp có nhiệt độ từ 50-52
0


17

Hình 2: Đồ thị phương pháp đun sôi ba phần
1. Nhiệt độ từng phần cháo Malt
2. Nhiệt độ những phần còn lại trong nồi hồ hoá
3.3.2 Phương pháp đun sôi hai phần
Đây là phương pháp thông dụng nhất đặc biệt là đối với sản xuất bia
vàng. Phương pháp này tiến hành như sau: Hoà lẫn bột malt với nước ở nhệt
độ 50-52
0
C và để yên trong khoảng 30 phút cho các phần tử rắn lắng xuống.
Trong khoảng thời gian này các men protoza có điều kiện thuận lợi để hoạt
động. Sau đó khoảng 2/3 hồ malt được bơm vào nồi đường hoá và bắt đầu
đun nóng để nâng nhiệt độ lên đến 70-72
0
C. Quá trình đường hoá sau 15-20
phút lại tiếp tục được đun nóng đến nhiệt độ sôi. Cháo Malt được đun sôi
trong 15-30 phút. Thời gian đun sôi phụ thuộc vào mức độ phân huỷ Malt và
loại bia cần sản xuất .nếu Malt phân huỷ kém và bia sản xuất là loại bia đen
thì thời gian đun sôi dài. Sau khi trộn phần thứ một đã đun sôi với phần còn
lại trong nồi hồ hoá ta điều chỉnh nhiệt độ này khoảng 65
0
C và giữ ở nhiệt độ
này 15-20 phút trong thời gian này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho men
Amilaza hoạt động. Sau đó ta bơm tất cả sang nồi đường hoá và nâng nhiệt độ
lên đến 70-72
0
C. sau khi đường hoá xong ta đun sôi trong khoảng 15-20 phút.
Toàn bộ quá trình này mất khoảng 4 giờ.

70
0
C để cho Malt đường hoá. Sau khi đường hoá xong ta bơm dịch đường
hoá này sang vào bộ phận lọc dịch đường.Toàn bộ phương pháp này mất
khoảng 3 giờ. Chú ý trong quá trình đường hoá các cánh khuấy phải hoạt
động liên tục để tránh sự quá nhiệt cục bộ và làm cho bột Malt và gạo không
bị bám dính vào đáy nồi gây khê cháy.
Ngoài ra còn có rất nhiều phương pháp khác nhưng ứng dụng thực tế rất ít
như:
 Phương pháp đường hoá rút ngắn thời gian.
 Phương pháp đường hoá với sự gia tăng nhiệt độ.
 Phương pháp đường hoá với sự giảm nhiệt độ.
Trên đây là các phương pháp đường hoá mỗi một phương pháp đều có
những ưu nhược điểm khác nhau nên vì thế chọn phương án thiết kế ta cần
2
30
20
10
1 3
4
65
7
100
80
70
60
50
40
110
90


Khối lượng(Kg) Trọng lượng(Kg/m
3
)

Gạo 150 750
Malt 300 650
Đường 10 1130
Nước 2300 974.89

3.4.1 Khối lượng riêng bã khô

20
Khối lượng riêng bã khô là khối lượng của các chất sẽ tạo thành bã
trong quá trình lọc Khối lượng riêng bã khô tính theo công thức:

2
2
1
1
.
1
.
11
xx
bk


[Trang5-I]
Trong đó:

= )(30
100
20.150
Kg
Vậy ta suy ra phần trăm Malt không hoà tan.
x
1
= %4,71
30
75
75



Phần trăm gạo không hoà tan:
X
2
=100%-71,4%=28,6%
Vậy:
10.8,14
750.100
6,28
650.100
4,711

bk

-3
3
10

Trong đó :
hp

:Khối lượng riêng của huyền phù;Kg/m
3
.
bk

:Khối lượng bã khô;Kg/m
3.

OH
C
2
0
75

:khối lượng riêng của nước ở 75
0
C;Kg/m
3
.
C
1
:Nồng độ pha rắn trong huyền phù.
Nhiệt độ nước lấy ở vì ở nhiệt độ 75
0
C vì ở nhiệt độ này quá trình
đường hoá tinh bột xảy ra với hiệu suất cao nhất .
Tra sổ tay quá trình và thiết bị trong công nghiệp hoá chất ta có:

2300
70
150
300
3075




Vậy:
4
10.43.10
676
038.0
9,974
038.011




hp


Suy ra :
)/(959
10.43,10
1
3
4
mKg

750
150
650
300
 =3(m
3
)
Ta tính thể tích nồi đường hoá nồi đường hoá :

22
V
Tb
= )(5
6,0
3
6,0
3
1
m
V

3.4.4 Độ nhớt huyền phù
Độ nhớt huyền phù tính theo công thức:
)5.41(
1
X

[Trang 34-IV]
Trong đó :
X: Nồng độ pha rắn trong huyền phù tính theo phần thể tích.





hp
V
VV

Vậy ta suy ra:
Giá trị độ nhớt của huyền phù:
)/(10.7148,2)
100
2,5
.5,41(10.2,2
333
mNs




3.5 Tính cơ khí nồi đường hoá
3.5.1 Tính đáy nồi
Để đảm bảo chất lượng bia và đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực
phẩm ta chọn vật liệu làm nồi là thép không rỉ.
Đặc tính của thép không rỉ:
+Giới hạn chảy : [
c

]=240.10
6

n

 .2
.
8,3
.D
1
t

,(m)


IITrang 385

Trong đó
P
n
:áp suất hơi giữa hai lớp áo hơi;N/m
2
.
Theo tài liệu


VII
thì ta chọn giá trị P
n
=2.5-39(at).
D
t
:Đường kính thân nồi,m.

3

Trong đó :
C
1
: Bổ sung do ăn mòn, với thép không rỉ thì giá trị này thường không
đáng kể nên lấy C
1
=0;
C
2
: Giá trị bổ xung cho hao mòn, vì môi trường làm việc không ăn mòn
nên ta cũng bỏ qua giá trị C
2
.
C
3
: Dung sai do chiều dày, phụ thuộc vào chiều dày tấmvật liệu làm
nồi.

h

: Hệ số bền hàn phụ thuộc vào dạng mối hàn, ta chọn phương
pháp hàn hồ quang tay, hệ số bền hàn tương ứng là
h

=0,95.
h
b
: hệ số kích thước, phụ thuộc vào đường kính thiết bị .

=20(mm).
+Chiều cao phần đáy elíp:h
b
=400(mm).
+Chiều cao đáy:h=h
0
+h
b
=420(mm)
Ta chế tạo đáy và nắp cùng kích thước như nhau đễ dễ dàng gia công chế tạo .
3.5.1.2 Kiểm tra bền đáy nồi và nắp nồi
Ta có:

25


).( 6,7
)(.2
11
0
1
2
CShK
P
CShD
bh
b
t




6
10.196

(N/m
2
)

6
6
10.200
2,1
10.240
2,1

C

(N/m
2
)
Vậy

<
2,1
C

Nên đáy nồi đạt bền.
Biết kích thước của đáy nồi và nắp nồi ta suy ra thể tích nồi đường hoá:
Thể tích nồi :
V=2V

5.
4
6,1.14,3
8
6,1
.14,3.
3
4
23


 H

Suy ra chiều cao phần hình trụ : 5,1


H
Vậy chiều cao nồi đường hóa : H=
H

+2.1,6=1,5+3,2=4,7(m)
3.5.2 Tính vỏ nồi
3.5.2.1 Tính chiều dày thân nồi
Chiều dày thân nồi được tính theo công thức:
S
2
=0,5.D
t
.(


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status