Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Cơ khí Quang Trung - Pdf 12

Phần mở đầu
1. Trải qua hơn 10 năm đổi mới, cùng với việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ
chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà n-
ớc là sự ra đời của nhiều thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp nh ở nớc
ta hiện nay. Với xu hớng hội nhập Quốc tế (AFTA, APEC, WTO ) và trong t ơng
lai là việc xoá bỏ hàng rào thuế quan cũng đồng nghĩa với việc sẽ không nhận đợc
sự bảo hộ từ nhà nớc, cùng những u đãi trong kinh doanh thì việc canh tranh gay gắt
để tồn tại giữa các doanh nghiệp trong nớc với nhau và với doanh nghiệp nớc ngoài,
giữa các sản phẩm cùng loại trên thị trờng là không thể tránh khỏi. Để tồn tại và
phát triển, các doanh nghiệp phải thiết kế một cơ chế quản lí chặt chẽ và hệ thống
thông tin có hiệu quả. Vì thế ngoài các công cụ quản lý, các doanh nghiệp còn sử
dụng một trong những công cụ quan trọng nhất, hiệu quả nhất là hạch toán kế toán.
Từ hàng trăm năm trớc và có thể còn lâu hơn, đồng hành cùng sự phát triển của kinh
tế, con ngời đã sử dụng Kế toán nh một công cụ tối u để kiểm soát công việc kinh
doanh của mình. Không bao quát nh các công cụ quản lý, kế toán là nghệ thuật của
sự chi tiết, trên cơ sở ghi chép, phân loại, tổng hợp các dữ liệu của hoạt động sản
xuất kinh doanh và thông tin cho các nhà quản trị một cách chính xác, đầy đủ và kịp
thời nhất thực trạng của doanh nghiệp. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất,
kế toán càng thể hiện vai trò không thể thiếu của nó trong từng giai đoạn của quá
trình kinh doanh. Và trong đó kế toán nguyên liệu, vật liệu đợc xác định là khâu
trọng yếu, quyết định trong toàn bộ công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất.
2. Nguyên liệu, vật liệu không chỉ là một trong những yếu tố đầu vào quan
trọng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm mà nó còn là yếu tố tác động trực tiếp
đến chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp, quyết định đến thành bại của một doanh
nghiệp sản xuất. Đây còn là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp quan trọng phản ánh trình
độ sử dụng vật t, trình độ tổ chức công nghệ sản xuất sản phẩm, là cơ sở để kế toán
giá thành, tính đúng chi phí sản xuất cho từng đơn vị sản phẩm và tổng giá vốn hàng
bán. Các doanh nghiệp sử dụng càng nhiều loại NVL, chi phí NVL càng chiếm tỷ
trọng lớn trong giá thành sản phẩm thì việc quản lí NVL, quản lí chi phí NVL càng
đóng vai trò quan trọng. Hay nói cách khác đi, công tác kế toán NVL thực hiện một
cách khoa học, hợp lí, phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh

Nhà nớc một thành viên Cơ khí Quang Trung .
Đề tài đợc trình bầy với 3 phần chính:
Chơng 1: Các vấn đề chung về kế toán NVL trong các doanh nghiệp sản
xuất.
Chơng 2: Thực trạng công tác kế toán NVL tại Công ty TNHH Nhà nớc một
thành viên Cơ khí Quang Trung.
Chơng 3: Nhận xét và kiến nghị về công tác kế toán NVL tại Công ty TNHH
Nhà nớc một thành viên Cơ khí Quang Trung.
Do điều kiện thời gian không cho phép cũng nh do trình độ hiểu biết còn hạn
chế nên trong quá trình thực hiện luận văn không thể tránh đợc việc còn tồn tại rất
nhiều sai sót. Em rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và
bạn đọc để có thể hoàn thiện đợc luận văn tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của Thầy giáo Thạc sĩ
Đặng Ngọc Hùng cùng các cán bộ Phòng Tài chính Kế toán của Công ty Cơ khí
Quang Trung đã tạo điều kiện cho em thực hiện luận văn này.
Sinh viên
Trần Minh
Trang
Chơng 1
Những vấn đề lý luận cơ bản của công
tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh
nghiệp sản xuất
1.1 Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật
liệu trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1.1 Khái niệm, đặc diểm, vai trò của nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm
Nguyên liệu, vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất là đối tợng lao động một
trong ba yếu tố cơ bản để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp
dịch vụ - là cơ sở vật chất của sản phẩm.

cách hợp lý và tiết kiệm.
Nh vậy, có thể nói vật liệu có vai trò hết sức quan trọng trong doanh nghiệp
sản xuất. Việc tổ chức quản lý vật liệu có hiệu quả là yêu cầu bức thiết với mọi
doanh nghiệp . Quản lý tốt vật liệu sẽ cho phép doanh nghiệp sử dụng tốt hơn nguồn
vốn của mình, tiết kiệm các khoản chi phí, đảm bảo quá trình sản xuất đợc liên
tục.
1.1.2 Công tác quản lý nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1.2.1 Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
sản xuất
Từ những phân tích ở trên, ta thấy việc quản lý vật liệu có ý nghĩa sống còn với
doanh nghiệp. Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, quyết định
đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp theo của doanh nghiệp. Vì vậy, quản lý
nguyên vật liệu cần đợc thực hiện tốt từ khâu thu mua đến dự trữ và sử dụng.
Đối với khâu thu mua : doanh nghiệp phải quản lý về số lợng, qui cách, chủng
loại, giá mua và chi phí thu mua, thực hiện kế hoạch thu mua đúng tiến độ thời gian,
phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vật liệu là loại tài
sản thờng xuyên biến động nên các doanh nghiệp phải tổ chức thu mua liên tục để
đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất , chế tạo sản phảm và phục vụ cho các nhu
cầu khác của doanh nghiệp.
ở khâu sử dụng : Chi phí nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong chi phí
sản xuất kinh doanh. Mỗi biến động nhỏ về vật liệu đều ảnh hởng trực tiếp đến các
chỉ tiêu quan trọng của doanh nghiệp. Hoạt động quản lý ở khâu này thể hiện qua
việc thiết kế hệ thống danh điểm và đánh số danh điểm nguyên vật liệu, thiết kế thủ
tục lập và luân chuyển chứng từ, mở sổ hạch toán tổng hợp và chi tiết nguyên vật
liệu theo đúng chế độ quy định; theo dõi đợc sự biến động của nguyên vật liệu; Kết
hợp kiểm tra đối chiếu nguyên vật liệu giữa kho và phòng kế toán; Xây dựng chế độ
trách nhiệm vật chất trong công tác quản lý, sử dụng nguyên vật liệu cho toàn bộ
doanh nghiệp nói chung và cho các phân xởng, tổ, đội sản xuất nói riêng.
ở khâu dự trữ : vật liệu là một loại tài sản dự trữ có tần suất cao đòi hỏi doanh
nghiệp phải xây dựng định mức dự trữ, định mức hao hụt cũng nh xác định giới hạn

tiêu số lợng và giá trị trong quá trình vận động của vật t tại doanh nghiệp.
Thờng xuyên kiểm tra việc thực hiện định mức dự trữ vật liệu, kiểm tra việc
chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu, phát hiện ngăn ngừa và đề
xuất biện pháp xử lý vật liệu thừa thiếu, ứ đọng, kém hoặc mất phẩm chất. Tính toán
chính xác số liệu thừa thiếu thực tế đa vào sử dụng và đã tiêu hao trong quá trình
sản xuất kinh doanh, phân bổ chính xác giá trị vật liệu đã sử dụng.
Tham gia vào công tác kiểm kê đánh giá vật liệu theo chế độ quy định của nhà
nớc, lập báo cáo về vật liệu phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý, tiến hành phân
tích kinh tế tình hình thu mua, bảo quản, sử dụng và dự trữ vật liệu nhằm phục vụ
công tác quản lý vật liệu hợp lý trong sản xuất kinh doanh, hạ thấp chi phí sản xuất
kinh doanh.
1.2 Nội dung công tác kế toán nguyên vật liệu trong các
doanh nghiệp sản xuất
1.2.1 Phân loại nguyên vật liệu
Một sản phẩm thông thờng đợc cấu thành từ nhiều loại vật liệu khác nhau nên
chủng loại vật liệu trong một doanh nghiệp sản xuất là rất đa dạng và phong phú.
Trong điều kiện đó, doanh nghiệp không thể quản lý một cách chặt chẽ và tổ chức
hạch toán vật liệu đợc nếu không có sự phân loại hợp lý.
Phân loại vật liệu là sắp xếp các loại, thứ vật liệu cùng loại với nhau theo một
đặc trng nhất định nào đó thành từng nhóm. Phân loại sẽ giúp doanh nghiệp thống
nhất đối tợng quản lý, đối tợng hạch toán trong quá trình cung cấp, sử dụng và dự
trữ. Thông qua phân loại doanh nghiệp có thể dễ dàng lập danh điểm vật liệu bằng
mã số và xác định đói tợng của kế toán về mặt tài sản,vốn và chi phí.
Do mỗi loại vật liệu có có vai trò, công dụng và tính năng lý hoá khác nhau và
thờng xuyên biến động trong quá trình sản xuất, có rất nhiều cách phân loại vật liệu.
Nhìn chung, vật liệu đợc phân loại theo ba tiêu thức cơ bản sau là theo vai trò và
công dụng của vật liệu, chức năng của vật liệu đối với quá trình sản xuất và nguồn
hình thành vật liệu
Căn cứ vào vai trò và công dụng của vật liệu trong quá trình sản xuất
Cách phân loại này dựa trên công dụng của vật liệu trong quá trình sản xuất để

Vật liệu khác bao gồm các loại đặc chủng của doanh nghiệp, phế liệu thu hồi,

Việc phân loại nh trên giúp nhà quản lý thấy rõ nội dung kinh tế, vai trò và tác
dụng của từng loại vật liệu trong quá trình sản xuất từ đó đa ra những biện pháp
quản lý và tổ chức hạch toán thích hợp nhằm nâng cao hiểu quả sử dụng vốn lu
động.
Tuy nhiên cách phân loại nh trên chủ yếu dựa vào vai trò của vật liệu trong quá
trình sản xuất kinh doanh, cho nên đối với doanh nghiệp này, vật liệu đợc sử dụng
nh nguyên vật liệu chính, còn đối với doanh nghiệp khác, vật liệu ấy lại đợc sử dụng
nh nguyên vật liệu phụ. Do đó việc phân loại này chỉ mang tính chất tơng đối.
Căn cứ vào mục đích sử dụng của vật liệu đối với quá trình sản xuất:
Theo cách chia này vật liệu đợc chia thành ba loại, vật liệu dùng cho sản xuất ,
vật liệu dùng cho quản lý, vật liệu dùng cho bán hàng.
Vật liệu dùng cho sản xuất là các loại vật liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất
sản phẩm, nh nguyên vật liệu chính, vật liệu dùng cho hoạt động quản lý phân x-
ởng.
Vật liệu dùng cho hoạt động bán hàng là những vật liệu phục vụ cho hoạt
động bán hàng của doanh nghiệp .
Vật liệu dùng cho hoạt động quản lý doanh nghiệp là những nguyên vật liệu
mà bị tiêu hao trong hoạt động quản lý trong doanh nghiệp .
Cách phân loại giúp doanh nghiệp quản lý, kiểm tra chi phí vật liệu của từng
hoạt động của doanh nghiệp để từ đó đa ra quyết định đúng trong quản lý và kinh
doanh.
Căn cứ vào nguồn hình thành của vật liệu:
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng có hai nguồn hình thành vật liệu, vật liệu thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp và vật liệu không thuộc quyển sở hữu của doanh
nghiệp.
Đối với vật liệu thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể
chia vật liệu theo thành:
Vật liệu mua ngoài là những vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh đợc

Các phơng pháp áp dụng trong đánh giá vật t, hàng hóa phải đảm bảo tính chất
nhất quán tức là kế toán lựa chọn phơng pháp nào thì phải áp dụng phơng pháp đó
trong suốt niên độ kế toán. Doanh nghiệp có thể thay đổi phơng pháp đã chọn nhng
phải đảm bảo phơng pháp thay thế cho phép trình bày thông tin kế toán một cách
trung thực và hợp lý hơn, đồng thời phải giải thích đợc sự thay đổi đó.
1.2.2.2 Các phơng pháp đánh giá
Đánh giá vật liệu nhập kho trong kỳ
o Với vật liệu mua ngoài:
Trị giá thực = Giá ghi trên + Chi phí thu mua khác trong
tế NVL hoá đơn quá trình thu mua
Trong đó, giá trên hoá đơn là giá mua không có thuế giá trị gia tăng (GTGT)
đối với doanh nghiệp tình giá theo phơng pháp khấu trừ, và là giá bao gồm thuế
GTGT đối với doanh nghiệp tính tính giá theo phơng pháp trực tiếp.
Chi phí thu mua bao gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản từ nơi mua
đến kho của doanh nghiệp, chi phí thuê kho bãi trung gian, công tác phí của cán bộ
thu mua, các khoản thuế , lệ phí phải nộp phát sinh trong quá trình thu mua và hao
hụt trong định mức đợc phép tính vào giá vật liệu. (Cũng đợc xác định trên cơ sở
phơng pháp tính thuế GTGT mà doanh nghiệp chọn )
o Với vật liệu tự chế;
Trị giá thực tế
NVL
= Trị giá thực tế
NVL xuất kho
+ Chi phí gia
công chế biến
Chi phí chế biến bao gồm các khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi
ra dể chế biến nguyên vật liệu.
o Với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến:
Giá thực tế nhập kho là giá thực tế của vật liệu xuất thuê ngoài gia công cộng
với chi phí bốc dỡ, vận chuyển đến nơi thuê gia công và từ nơi đó về doanh nghiệp,

thứ NVL có giá trị lớn và có thể nhận diện đợc.
+ Phơng pháp bình quân gia quyền: Giá trị của loại hàng tồn kho đợc tính
theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tơng tự đầu kì và giá trị từng loại
theo hàng tồn kho đợc mua hoặc sản xuất trong kì (bình quân gia quyền cả kỳ dự
trữ). Giá trị trung bình có thể đợc tính theo thời kì hoặc vào mỗi khi lô hàng về, phụ
thuộc vào tình hình doanh nghiệp (bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập). Hoặc
cũng có thể tính trên cơ sở số vật liệu xuất kho và đơn giá bình quân cuối kỳ trớc
(bình quân gia kỳ cuối kỳ trớc).
Giá trị thực tế
NVL xuất kho
=
Số lợng
NVL xuất kho
x
Đơn giá bình
quân gia quyền
Trong đó giá đơn vị bình quân có thể tính một trong các phơng án sau:
Phơng án 1: tính theo giá bình quân gia quyền cả kì dữ trữ (còn gọi là giá bình
quân gia quyền toàn bộ luân chuyển trong kì)
Phơng án 2: Tính theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (còn gọi là
giá bình quân gia quyền liên hoàn)
Đơn giá
bình quân
gia quyền
sau mỗi
lần nhập
=
Giá trị thực tế NVL tồn
kho trớc khi nhập
+

+
Số lợng NVL nhập
kho trong kì
Giá thực tế
của NVL xuất
kho trong kỳ
=
Giá hạch toán
của NVL xuất kho
trong kỳ
x
Hệ số chênh lệch
giữa giá thực tế và giá hạch
toán
Hệ số chênh
lệch giữa giá thực tế
và giá hạch toán
của NVL
=
Giá thực tế của
NVL tồn kho ĐK
+
Giá thực tế của NVL
nhập kho trong kỳ
Giá hạch toán của
NVL tồn kho ĐK
+
Giá hạch toán của NVL
nhập kho trong kỳ
1.2.3 Kế toán chi tiết nguyên vật liệu

sổ, tính ra tổng số nhập, tổng số xuất và số tồn của từng thứ vật liệu rồi đối chiếu
với thẻ kho của thủ kho, lập báo cáo tổng hợp nhập, xuất tồn kho về mặt giá trị để
đối chiếu với bộ phận kế toán tổng hợp vật liệu-công cụ dụng cụ.
Phơng pháp thẻ song song có u điểm là đơn giản dễ làm, dễ kiểm tra đối chiếu
số liệu, đảm bảo sự chính xác thông tin, có thể cung cấp thờng xuyên cả về giá trị
và hiện vật của từng loại nhập- xuất tồn nhng lại ghi chép trùng lặp , khối lợng
ghi chép lớn. Hệ thống kho tàng tập trung.
Phơng pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có ít chủng loại vật liệu-công
cụ dụng cụ, khối lợng nhập xuất ít, phát sinh không thờng xuyên, áp dụng với kế
toán đã đợc chuyên môn hoá và sử dụng kế toán máy vi tính.
Sơ đồ 1.1 - Trình tự hạch toán chi tiết phơng pháp thẻ song song
Thẻ kho
Sổ chi tiết
NVL
Chứng từ xuất
Bảng tổng hợp
N-X-T
Chứng từ nhập
Sổ tổng hợp
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
1.2.3.2 Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển đợc hình thành trên cơ sở sự cải tiến một

nguyên vật liệu. Điểm nổi bật của phơng pháp này là sự kết hợp chặt chẽ việc hạch
toán nghiệp vụ thủ kho với việc ghi chép của phòng kế toán. Trên cơ sở kết hợp đó,
kế toán chỉ hạch toán về mặt giá trị của nguyên vật liệu, xoá bỏ đợc sự ghi chép
Thẻ kho
Bảng kê nhập
Phiếu xuất
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Bảng kê xuất
Phiếu nhập
Sổ kế toán
tổng hợp
Ghi hàng ngày
Đối chiếu kiểm tra
Ghi cuối tháng
trùng lắp giữa thủ kho và phòng kế toán, tạo điều kiện cho việc kiểm tra kế toán ,
đảm bảo số liệu ké toán chính xác, kịp thời.

Nguyên tắc hạch toán:
Tại kho, thủ kho ghi chép sự biến động của vật liệu về mặt số lợng. Còn kế
toán vật t theo dõi sự biến động vật liệu thông qua phiếu giao nhận chứng từ và sổ
số d.

Trình tự hạch toán:
Tại kho : Tơng tự nh hai phơng pháp trên sau khi ghi vào thẻ kho, thủ kho tập
hợp toàn bộ các chứng từ nhập xuất phát sinh trong ngày hoặc trong kỳ theo từng
danh điểm vật liệu và phân loại chứng từ nhập xuất riêng. Căn cứ vào kết quả
phân loại, thủ kho lập phiếu giao nhận chứng từ trong đó ghi số lợng, số hiệu chứng
từ của từng danh điểm vật liệu.
Phiếu giao nhận chứng từ lập riêng cho từng loại phiếu nhập kho một bản,

Chứng từ xuấtChứng từ nhập
Thẻ kho
Bảng luỹ kế N-
X-T
Bảng giao
nhận chứng
từ nhập
Bảng giao
nhận chứng
từ xuất
Sổ tổng hợp N-
X-T
Đối chiếu kiểm tra
Tóm lại, có thể nói mỗi mô hình hạch toán chi tiết kế toán nguyên vật liệu đều
có những u điểm, nhợc điểm nhất định, thích hợp trong điều kiện này lại không
thích hợp trong điều kiện khác. Kế toán mỗi doanh nghiệp phải dựa vào đặc điểm,
yêu cầu quản lý của đơn vị mình để lựa chọn phơng pháp hạch toán chi tiết phù hợp
nhất, tận dụng hết các u điểm vốn có của phơng pháp đã lựa chọn, thực hiện theo
đúng nguyên tắc hạch toán.
1.2.4 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu là việc ghi chép sự biến động về mặt giá
trị của vật liệu trên các sổ kế toán tổng hợp. Tuỳ theo đặc điểm vật liệu của công ty
mà kế toán có thể sử dụng một trong hai phơng pháp là kê khai thờng xuyên và
kiểm kê định kỳ.
1.2.4.1 Theo phơng pháp kê khai thờng xuyên
Khái niệm
Phơng pháp kê khai thờng xuyên là phơng pháp hạch toán tổng hợp theo dõi
và phản ánh một cách thờng xuyên , liên tục tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu-
công cụ dụng cụ trên sổ sách kế toán.
Theo phơng pháp này, các tài khoản nguyên vật liệu đợc dùng để phản ánh số

Số d Nợ: Phản ánh trị giá vốn thực tế NVL tồn cuối kì
TK cấp hai của TK 152:
TK 152 có thể chi tiết theo cơ cấu, chủng loại nguyên vật liệu của doanh
nghiệp. Tài khoản 152 thờng đợc chi tiết thành:
- 152.1 : Nguyên vật liệu chính.
- 152.2 : Nguyên vật liệu phụ
- 152.3 : Nhiên liệu
- 152.4 : Phụ tùng thay thế.
- 152.5 : Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản.
- 152.8 : Vật liệu khác ( phế liệu , vật t đặc chủng, .. )

Tài khoản 151- Hàng đang đi đ ờng :
Tài khoản này dùng để theo dõi các loại vật t mua ngoài đã thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp nhng cuối kỳ cha kiểm nhận nhập kho theo nơi bảo quản quy
định. Tài khoản 151 đợc chi tiết theo từng loại vât t đang đi đờng tính tới ngày cuối
kỳ.
Kết cấu TK 151
+ Bên Nợ : Phản ánh giá trị hàng đi đờng tăng trong kỳ.
+ Bên Có : Phản ánh giá trị hàng đang đi trên đờng cuối kỳ trớc đã về nhập
kho hoặc chuyển thẳng cho bộ phận sử dụng.
+ D Nợ : Phản ánh giá trị hàng đã mua nhng còn đang đi đờng (đầu kỳ hoặc
cuối kỳ).
Ngoài ra trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản liên
quan khác nh : TK 133, TK331, TK 111, TK 112, TK 627, TK 141, TK 641, .
* Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp thì các
nghiệp vụ hạch toán kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tơng tự. Chỉ khác là
nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ, thuế GTGT sẽ đợc
h¹ch to¸n vµo tµi kho¶n 133 cßn doanh nghiÖp ¸p dông thuÕ GTGT theo ph¬ng
ph¸p trùc tiÕp sÏ céng c¶ thuÕ GTGT vµo gi¸ gèc hµng mua.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status