Báo cáo " Nguồn luật và một số kinh nghiệm giải thích pháp luật ở Nhật Bản " potx - Pdf 12



Nhµ n-íc vµ ph¸p luËt n-íc ngoµi
72 t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011

TS. Ph¹m Hång Quang *
hật Bản là quốc gia chịu ảnh hưởng của
hai hệ thống pháp luật tiêu biểu trên
thế giới nhưng xét về bản chất, cũng là một
thành viên của hệ thống pháp luật dân sự -
nơi có thể tìm thấy hầu hết các lĩnh vực của
đời sống xã hội đều được điều chỉnh bởi
pháp luật thông qua các bộ luật, nghị định,
thông tư của Nghị viện và Chính phủ trung
ương hay các văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau được ban hành bởi chính quyền
địa phương. Tuy nhiên, điều đó không có
nghĩa khi các chủ thể bắt gặp bất kì vấn đề gì
liên quan đến pháp luật và chỉ cần tập hợp,
tra cứu tất cả các văn bản pháp luật có liên
quan là có thể tìm ra phương hướng giải
quyết. Trong thực tế, các thẩm phán và luật
sư Nhật Bản khi giải quyết các vụ việc, tất
nhiên ngoài việc tìm kiếm những điều khoản
thích hợp nào đó trong các văn bản luật và
dưới luật, họ còn phải sử dụng đến các án lệ
(các bản án mẫu được ban hành bởi Toà án
tối cao hay các toà án cấp trên). Các bản án

(2)

Đạo luật của Nghị viện (horitsu, acts of
the Diet) là nguồn luật quan trọng thứ hai và
phổ biến của xã hội Nhật Bản. Hầu hết các
lĩnh vực đều có luật điều chỉnh và được tập
hợp trong hệ thống sáu ngành luật (Roppo)
xuất bản hàng năm bởi Nhà xuất bản pháp lí
danh giá Yuhikaku.
(3)
Nội các của Nhật Bản
và thành viên của mỗi viện (Thượng nghị
viện, Hạ nghị viện) đều có sáng kiến làm luật.
Các dự án luật đều được soạn thảo bởi các
công chức có thẩm quyền trong các bộ có liên
quan, được thẩm định về nội dung luật cũng
như các yếu tố kĩ thuật khác bởi Văn phòng
N
* Giảng viên Khoa hành chính-nhà nước
Trường Đại học Luật Hà Nội Nhà n-ớc và pháp luật n-ớc ngoài
tạp chí luật học số 8/2011 73
lp phỏp ca Ni cỏc (Cabinet Legislative
Bureau). i vi mt s d lut quan trng,
cỏc b cn xin ý kin thm nh ca Hi ng
kim tra h thng phỏp lut ca Ngh vin
(Shingikai, Deliberative Council).
(4)

nh c th trong Hin phỏp nhng trong thc
tin ỏp dng lut, trong trng hp cú xung
t gia cỏc quy nh trong iu c quc t
v cỏc o lut ca Ngh vin thỡ cỏc iu c
s c ỏp dng gii quyt v vic.
Cui cựng nhng c bit quan trng,
cỏc bn ỏn mu (hanrei, judicial precedents)
hay hỡnh thc gii thớch phỏp lut bi to ỏn
(cú tờn gi l cỏc quy tc ca to ỏn, the
rules of courts) cng l nhng ngun lut
quan trng v khụng th thiu trong i sng
phỏp lớ Nht Bn.
iu 77 Hin phỏp Nht Bn quy nh rừ:
To ỏn ti cao cú thm quyn t ra cỏc quy
tc ỏp dng lut (the rule-making power).
Theo ú, to ỏn cú th t ra cỏc quy tc v
th tc, v vic ỏp dng phỏp lut theo trỡnh
t to ỏn, cỏc vn liờn quan n s tham
gia ca lut s, cỏc nguyờn tc ni b to ỏn,
quy tc qun lớ hot ng t tng t phỏp.
iu 77 Hin phỏp quy nh: Kim sỏt viờn
cú trỏch nhim phi tuõn th tuyt i cỏc
quy tc c t ra bi Tũa ỏn ti cao.
(5)
iu
lut ny cng quy nh, trong trng hp cú
s vờnh nhau gia quy nh trong lut v quy
tc ca to ỏn thỡ quy nh trong lut luụn cú
hiu lc phỏp lớ cao hn. Thm quyn ban
hnh ra quy tc ca To ỏn ti cao ca Nht

thnh sỏch hay ng ti trờn trang web ca
To ỏn ti cao hoc c trớch dn trong cỏc
bi vit bỡnh lun ca cỏc hc gi. Vic
nghiờn cu cỏc bn ỏn mu, phõn tớch, bỡnh
lun, liờn h phỏt trin cỏc vn mang
tớnh lớ lun c xem l ni dung quan trng
trong vic o to c nhõn lut trong cỏc
trng i hc cng nh vic o to thm
phỏn, lut s trong cỏc trng lut v Vin
nghiờn cu v o to ngh lut ca To ỏn
ti cao (Legal Training and Research Institute).
2. Mt s kinh nghim v phng
phỏp gii thớch phỏp lut ca Nht Bn
Qua vic trỡnh by cỏc ngun lut ca
Nht Bn nờu trờn, cú th gii thiu mt vi
kinh nghim v phng phỏp gii thớch phỏp
lut Nht Bn nh sau:
Trc ht, cú th thy, cng nh hu ht
cỏc quc gia theo h thng lut dõn s, Nht
Bn cụng nhn tớnh cn thit ca cụng tỏc gii
thớch phỏp lut xut phỏt t quan im cho
rng: trong quỏ trỡnh lp phỏp, cỏc nh lp
phỏp khụng th lng c tt c nhng tỡnh
hung cng nh nhng khú khn khi mang
vn bn quy phm phỏp lut no ú ỏp dng
trong thc t cuc sng. Mt khỏc, hiu
lut v ph bin phỏp lut rng rói ti cụng
chỳng, luụn luụn khụng phi l iu d dng.
Vic gii thớch lut, ging nh Phỏp cho
rng Ngh vin cng cú th gii thớch o lut

Ngh vin khi cn gii thớch o lut ca mỡnh
ban hnh, c tin hnh bi Chớnh ph thụng
qua cỏc Meirei hay Seirei, bi chớnh quyn a
phng thụng qua cỏc Jorei hoc ca To ỏn Nhµ n-íc vµ ph¸p luËt n-íc ngoµi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 75
tối cao khi ban hành ra các quy tắc.
2. Phương pháp giải thích có tính chất
bình luận. Phương pháp này thường được
thực hiện bởi các thẩm phán Tòa án tối cao,
toà án địa phương, các luật sư cũng như các
nhà nghiên cứu luật học thuộc các lĩnh vực
chuyên môn khác nhau. Các nhà giải thích
luật theo phương pháp này thường có xu
hướng nhấn mạnh các quan điểm, ý tưởng
của chủ thể lập pháp để làm rõ hơn các vấn
đề còn mơ hồ trong các quy định của pháp
luật. Khi hiểu được ý tưởng cũng như mục
đích của các nhà lập pháp thì các điều khoản
được cho là mơ hồ sẽ được làm rõ trong thực
tiễn áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, phương
pháp giải thích pháp luật này thường đề cập
và phân tích các vấn đề lí luận pháp luật có
liên quan. Các giáo sư luật, các luật sư và
thẩm phán có thể đưa ra các quan điểm trái
chiều trong việc bình luận các bản án cũng
như các điều khoản trong luật áp dụng, đưa
ra các vấn đề lí luận để các nhà làm luật có

nghĩa là gì, áp dụng trong trường hợp nào hơn
là sự giải thích về tính hợp lí, hợp tình trong
các bản án, tình huống pháp luật cụ thể.
4. Phương pháp giải thích mang tính
chính sách, định hướng xã hội. Đây là
phương pháp được đánh giá là mang tính
khách quan, vì nó đề cập khía cạnh khách
quan, cũng như những tác động mang tính
khách quan của đạo luật. Theo phương pháp
này, đạo luật nào đó sẽ được xem xét về tính
hiệu quả nhất định cho những sự thay đổi của
xã hội kể từ khi đạo luật đó được ban hành.
Phương pháp này không những chỉ được thực
hiện bởi các nhà làm luật mà còn cả các nhà
quản lí, hoạch định chính sách và bản thân
các thẩm phán của toà án. Phương pháp này
cho phép thẩm phán cân nhắc sự cần thiết
phải nghiên cứu sự phát triển mang tính liên
tục, thường xuyên của xã hội, cho phép họ có
thể sửa lại một phần nào đó trong văn bản cho
thích hợp với nhu cầu của xã hội. Đây có thể
xem là phương pháp giải thích pháp luật táo
bạo, trao quyền tự quyết lớn cho thẩm phán
trong việc giải quyết từng vụ việc cụ thể xuất Nhµ n-íc vµ ph¸p luËt n-íc ngoµi
76 t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011
phát từ những thay đổi khách quan, nhanh
chóng và tất yếu của xã hội mà bản thân các

Nghiên cứu về giải thích pháp luật ở Nhật
Bản cũng như việc học tập kinh nghiệm đối
với Việt Nam là vấn đề tương đối rộng và còn
nhiều điểm còn phải tranh cãi xuất phát từ
những đặc điểm khác nhau cơ bản, mang tính
lí luận trong hệ thống pháp luật của hai nước.
Khác với Việt Nam, thẩm phán khi xét xử
phải tuân theo các quy định trong pháp luật
hiện hành, tuy nhiên ở Nhật Bản, cũng giống
như ở Pháp theo Điều 4 Bộ luật dân sự:
“Thẩm phán không có quyền từ chối xét xử
với lí do không có luật xét xử”.
(6)
Như vậy,
mặc dù thuộc hệ thống luật dân sự với việc
tôn trọng luật thành văn, Pháp cũng có những
giải phóng nhất định cho thẩm phán trong
việc áp dụng luật thông qua việc cho phép
toà án có thể đặt ra các quy tắc.
Nhật Bản ghi nhận các quy tắc của toà án
hay các bản án mẫu là nguồn của luật được
xem là các hình thức giải thích pháp luật, bổ
sung cho những điểm khiếm khuyết của pháp
luật trong trường hợp cần thiết. Đây là kinh
nghiệm có thể chia sẻ với Việt Nam trong việc
mở rộng nguồn luật hay xác định lại nguồn
luật đồng thời mở rộng quyền toà án trong việc
phán quyết tất cả các lỗi của cơ quan công
quyền hay một chủ thể nào đó khi xâm hại đến
lợi ích cần bảo vệ của các tổ chức và cá nhân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status