báo cáo tốt nghiệp hệ thống xử lí nước thải - Pdf 12

Báo cáo tốt nghiệp
Hệ thống xử lí nước thải1
MỤC LỤC
1
1
2
LỜI MỞ ĐẦU
Nước là một tài nguyên quí của con người. Mọi hoạt động sản xuất sinh hoạt đều cần
dùng nước. Chính vì vậy mà hàng ngày có một lượng lớn nước được tiêu thụ và đồng thời
cũng ngần ấy lượng nước thải được thải ra môi trường. Hà Nội là một trong những thành
phố lớn nhất của Việt Nam. Lượng nước thải của thành phố thải ra hàng ngày là rất lớn và
chủ yếu tập trung vào ba nguồn lớn là: nước thải sinh hoạt, từ sản xuất và từ bệnh viện.
Tuy nhiên , hệ thống sử lí nước thải của thành phố lại chưa có, còn của các doanh nghiệp
thì lại chỉ có một số ít doanh nghiệp có hệ thống sử lí ,còn lai hầu như là thải trực tiếp ra
môi trường từ đó gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khoẻ đời
sống của nhân dân, ảnh hưởng tới sản xuất cũng như gây mất mĩ quan đô thi.
Ở Hà Nội hiện nay, khi mà hệ thống thoát nước của thành phố chưa đáp ứng với mức
phát triển hiện nay của thành phố, cũng như quy mô dân số và các cơ sở sản xuất ở trong
thành phố. Do vậy việc thoát nước chủ yếu thông qua việc thải ra các con sông đào hay các
cống trong thành phố. Sông Tô lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông chảy trong
thành phố có nhiệm vụ tiêu thoát nước trong thành phố là sông Sét, Lừ, Kim Ngưu và Tô
Lịch. Nó là con sông ô nhiễm nhất và cũng là con sông có nhiều vấn đề liên quan đến môi
trường do số lượng dân cư sống hai bên bờ sông là khá đông đúc.
Sông tô Lịch hiện nay đang là con sông mà hệ thống nước mặt đang bị ô nhiễm
nghiêm trọng nhất ở Hà Nội hiện nay. Nhà Nước và thành phố hiện nay cũng đang thực

xuất. để xác định mức phí người ta căn cứ vào chi phí cần thiết để làm giảm một đơn vị ô
nhiễm.
Pháp lệnh về phí và lệ phí của Uỷ Ban thường Vụ Quốc hội khoá 10 (số 38/2001 PL-
UBTVQH 10 ngay 28/8/20001 ) qui định: “phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả
khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được qui định trong danh mục phí”.
Danh mục phí thuộc lĩnh vực môi trường được qui định tại mục A . Khoản 10 pháp
lệnh gồm 11 khoản trong đó các loại phí liên quan tới môi trường như sau:
- Phí bảo vệ môi trường
- Phí thẩm định báo cáo tác động môi trường
- Phí vệ sinh.
- Phí phòng chống thiên tai.
- Phí sử dụng an toàn bức xạ.
- Phí thẩm định an toàn bức .
Riêng phí bảo vệ môi trường được tại nghị định số 57/2002NĐ-CP ngày 3/6/2002
của chính phủ qui định chi tiết thi hành pháp lệnh phí và lệ phí qui định thành 6 loại như
sau.
- Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
- Phí bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than đá và các
nguyên liệu khác.
- Phí bảo vệ môi trường với chất thải rắn.
- Phí bảo vệ môi trường tiếng ồn.
- Phí bảo vệ môi trường đối với sân bay, nhà ga bến cảng, phí bảo vệ môi trường với
viêc khai thác dầu mỏ, khí đốt và khoảng sản khác.
Như vậy phí bảo vệ môi trường nói chung và phí nước thải nói riêng có thể được
hiểu là một khoản nghĩa vụ tài chính mà các tổ chức, cá nhân phải trả khi được hưởng một
5
dịch vụ về môi trường. Có thể nói đây là một công cụ quản lí cần thiết cho các nhà hoạch
định chính sách cũng như các nhà quản lí nhằm đạt được các mục tiêu môi trường. Và đây
cũng là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các tổ chức và là một nhu cầu tất yếu của xã hội
nhằm đảm bảo vệ môi trường.

6
các nhà máy xí nghiệp. ở hầu hết các nước OECD phí sử dụng hệ thống thoát nước thải là
công trình công cộng, chịu sự quản lí và giám sát của chính quyền địa phương. Do đó, các
hộ gia đình và cơ sở sản xuất thường phải trả lệ phí do sử dụng hệ thống công cộng này.
Từ kinh nghiệm, cũng như thực tế của các quốc gia đã làm trước chúng ta có thể thấy
rằng, phí bảo vệ ô nhiễm môi trường nói chung và phí nước thải nói riêng được áp dụng là
một thực tế khách quan và cũng là xu hướng chung và tất yếu của thế giới
Còn với nước ta phí bảo vệ môi trường có mục đích khuyến khích các nhà sản xuất,
kinh doanh đầu tư giảm thiểu ô nhiễm, thay đổi hành vi ô nhiễm theo hướng tích cực cho
môi trường, có lợi cho môi trường. Ngoài ra phí bảo vệ môi trường còn có mục đích khác
là tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước để đầu tư khắc phục và cai thiện môi
trường. Với mục đích này, phí bảo vệ môi trường là công cụ kinh tế được xây dựng trên
nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền đóng góp tài chính để khắc phục ô nhiễm môi
trường và cải thiện môi trường ” và ai hưởng lợi từ việc môi trường trong lành phải đóng
phí khắc phục ô nhiễm.
II.1. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP).
Nguyên tắc này bắt nguồn từ sáng kiến do tổ chức hợp tác kinh tế và phat triển
(OECD) đề ra vào các năm 1972 và 1974. PPP qui định năm 1972 có quan điểm những tác
nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng chống ô nhiễm.
PPP năm 1974 chủ trương rằng, các tác nhân gây ô nhiễm thi ngoài việc tuân thủ theo các
chỉ tiêu đối với việc gây ô nhiễm thì còn phải bồi thường thiệt hại cho những người bị thiệt
hại do ô nhiễm này gây ra. Nói tóm lại, theo nguyên tắc PPP thì người gây ô nhiễm phải
chịu mọi khoản chi phíđể thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền thục
hiện, nhằm đảm bảo môi trương ở mức chấp nhận được.
II.2. Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền(BPP)
Nguyên tắc BPP chủ trương rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường
cần được bảo trợ bởi những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho
việc gây ô nhiễm. Nguyên tắc BPP cũng tạo ra một khoản thu cho nhà nước, mức phí tính
theo đầu người càng cao và càng nhiều người nộp thì số tiền thu được càng nhiều. Số tiền
thu được từ BPP được thu theo nguyên tắc các cá nhân muốn bảo vệ môi trường và những

+ hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong nước tính bằng mg/l
+ Đặc tính các chất gây ô nhiễm. Mỗi chất gây ô nhiễm khác nhau có một mức thu
phí tối đa và tối thiểu khác nhau, tuỳ theo mức độ độc hại của mỗi loại chất và được quy
đinh tại nghị định 67. Các chất gây ô nhiễm chủ yếu được qui đinh trong luật là: BOD,
COD, TSS, Hg, Pb, As, Cd.
Stt
Chất gây ô nhiễm có trong nước thải
Mức thu
(đồng/kg chất gây ô nhiễm có trong
nước thải)
Tên hoá chất Kí hiệu Tối thiểu Tối đa
1 Nhu cầu ô xy sinh hoá A
BOD
100 300
2 Nhu cầu ô xy hoá học A
COD
100 300
3 Chất rắn lơ lửng A
TSS
200 400
4 Thuỷ ngân A
Hg
10.000.000 20.000.000
5 Chì A
Pb
300.000 500.000
6 Arsenic A
As
600.000 1.000.000
7 Cadmium A

phải làm giảm lượng gây ô nhiễm, từ đó nâng cao chất lượng môi trường. Với nguồn thu từ
phí nước thải, chinh phủ có thể đầu tư trở lại môi trường thực hiện các công việc khảo sát
đo đạc, lập báo cáo, thực hiện các công việc quản lí cũng như các công trình về môi
trường. Khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp cũng như xây dựng hệ
thống sử lí nước thải, đổi mới công nghệ.
Song vấn đề đặt trong giai đoạn đầu của chương trình thu phí ô nhiễm đối với nước
thải là có thể xác định phí nói trên với tất cả các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ở Hà Nội hay
không?

10
PHẦN II. HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM
I. Khái quát chung
I.1. Đặc điểm tự nhiên của thành phố Hà Nội
Hà nội nằm ở 20 độ 57 phút vĩ bắc và 105 độ 35 phút – 106 độ 25 phút độ kinh
đông. Từ bắc xuống nam dài nhất khoảng 93 km, từ đông sang tây rộng nhất khoảng 30
km.
Hà Nội nằm trong vùng nhiệt đới gío mùa, độ ẩm trung bình trong năm là 81-82%
tháng cao nhất vào khoảng 85-86%. Nhiệt độ trung bình có chiều hướng tăng, năm 1985 là
23,5 độ C, từ năm 1990-1995 nhiệt độ trung binh là 24 độ C ( có năm lên tới 24,1 độ C )
hàng năm bình quân có từ 8-10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đi qua. Tổng lượng mưa trong
năm, theo thống kê thì trong những năm gần đây có nhiều biến động, tuy nhiên trung bình
hàng năm khoảng 1500 mm. Số ngày mưa từ 140-160 ngày trong năm.
Sông Tô Lịch thuộc nội thành Hà Nội, nó dài 13.5 km rộng từ 30-40m sâu khoảng từ
3-4 m. Đầu nguồn bắt đầu từ kênh đào cũ Thụy Khê thuộc khu vực Phan Đình Phùng. Nó
qua Từ Liêm và dịa hạt quận Thanh Trì rồi cùng ba con sông khác chảy đổ vào sông Nhuệ
qua Đầm Thanh Liệt. Sông được cải tạo bằng nguồn vốn vay ODA, hai bên bờ sông được
thành phố cải tạo có xây kè đá và các hệ thống thoát nước thải trực tiếp vào trong lòng
sông qua rất nhiều các ống cống lớn nhỏ của các hộ dân cư và các doanh nghiệp trên địa
bàn.
Tình trạng ô nhiễm do nước thải của thành Phố Hà Nội. Nước thải của thành phố Hà

Các chỉ tiêu Vị trí Cầu Mới Vị trí Nghĩa đô
Ph 7.7-8.2 7.5
Chất rắn lơ lửng (mg/l) 230-570 211
CDO (mg/l) 183-325 149
BOD (mg/l) 21-120 40.2
NO
3
(mg/l) 0.39 0.61
NH
4
(mg/l) 5.3-17.1 9.6
H
2
S (mg/l) 3.2
Nguồn: Đinh Văn Sâm năm 1996
Sông Tô lịch có độ ô nhiễm cao như vậy có thể kể ra đây một số nguồn thải chính là:
Bệnh viện Lao.
Bệnh viện nhi Thuỵ Điển.
Bệnh viện phụ sản.
Bệnh biện giao thông.
Nhà máy giầy Thượng Đình.
Nhà máy cao su Sao Vàng
Nhà máy lever Haso
Nhà máy bóng đèn.
Nhà máy bia Hà Nội.
Nhà máy Trung Kính
Nhà máy nhựa Đại kim
Nhà máy Sơn tổng hợp.
Ngoài những bệnh viện đã thống kê ở trên sông còn tiếp nhận những nguồn nước thả
từ sinh hoạt với khối lượng nước lớn và không kém phần độc hại. Phần lớn nước thải ra

4
+
mg/l - 27 1
Coli-form PC/100ml - 49.10
5
10000
Do đặc điểm khí hậu miền Bắc là nhiệt đới gió mùa một năm chia làm hai mùa rõ rệt
mùa khô và mùa mưa. vào mùa mưa lượng mưa tuơng đối lớn, trong khi đó mùa khô hạn
chế hơn. Do đó lượng nước sông Tô Lịch thay đổi theo mùa. Vì vậy có sự chênh lệch nồng
độ các chất ô nhiễm có trong nước.
Bảng 2. Chất lượng nước sông Tô Lịch theo hai mùa.
Chất lượng nước sông Tô Lịch tại cống Bưởi
Các chỉ tiêu (mg/l) Mùa mưa Mùa khô
PH 8.5 8.8
BOD 15.5 18.88
COD 31.2 34
SS 28 38
NO
3
-
0.25 0.45
NH
4
2.33 6.7
Nguồn: Công ty tư vấn xây dựng Hà Nội.
Qua số liệu của bảng trên ta có thể nhận thấy:
13
a) Về mùa khô, nước sông bị ô nhiễm nặng. Hàm lượng BOD và COD đều vượt quá
chỉ tiêu cho phép, BOD đo dược khoảng 25 mg/ldến 30 mg/l. hàm lượng các chất hữu cơ
NO

doanh lãn ngoài quốc doanh. Đặc biệt ở quận cầu Giấy có khu công nghiệp Thượng Đình
đây là một nguồn gây ô nhiễm lớn khi mà khu công nghiệp này hàng ngày thải một lượng
lớn nước thải vào sông. Không những thế bệnh viện cũng là một nguồn gây ô nhiễm chính
và khá nguy hiểm đến môi trường.
Một nguyên nhân khác là hiện nay thành phố Hà Nội chưa có hệ thống sử lí nước
thải trước khi đổ ra môi trường, con các doanh nghiệp hiện nay thì chưa có nhiều doanh
14
nghiệp có các hệ thống sử lí nước thải, việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án
ở nước ta vẫn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc khi mà các nhà đầu tư chỉ coi nó
là nghĩa vụ chứ chưa coi đây là một vấn đề cần thiết và quan trọng với môi trường và
doanh nghiệp. Dẫn tới khi một nhà máy được xây dụng xong thì bao nhiêu nước thải chưa
qua sử lí đều đổ vào sông hồ. Theo báo cáo hiên trạng môi trường Hà Nội năm 2003 lượng
nước thải trong tổng số 500.000 m
3
được thải ra môi trường hàng ngày chỉ có khoảng 6%
được sử lí và đạt tiêu chuẩn, số còn lại được thải ra ngoài môi trường. Đây cũng là địa bàn
có nhiều các công ty các doanh nghiệp, các cơ sỏ sản xuất.
Do dân số nước ta đa phần làm nông nghiệp có thói quen tuỳ tiện, trong khi đó người
dân ở hai bên bờ sông tuy sống ở đô thị lớn nhưng đây chỉ là hệ quả của việc đô thị hoá
của nước ta trong mấy năm qua dẫn tới có một số người chưa thoát khỏi tập quán cũ
thường xuyên vứt rác xuống dòng sông. Có thể nói lòng sông Tô Lịch ngoại trừ việc ô
nhiễm nước thải còn có cả ô nhiễm rác thải. Hàng ngày các công nhân của công ty môi
trường Hà Nội đều phải đi vớt rác từ dưới lòng sông. Ngoài ra còn từ một số nguyên nhân
khác gây nên ô nhiễm của sông.
Qua phân tích cho thây thành phâng các chất ô nhiễm có trong nước sông bao gồm
nhiều loại chất khác nhau nhưng chủ yếu gồm những loại chất sau: BOD, COD, Hg, Pb,
chất rắn lơ lửng(SS), coliform, nitơ tổng hợp NH
4
+
PH, DO v.v… các chất này có nồng độ

- Cơ sở chăn nuôi công nghiệp tập trung;
- Cơ sở cơ khí, sửa chữa ô tô xe máy tập trung.
- Cơ sở khai thác chế biến khoáng sản.
- Cơ sở nuôi tôm công nghiệp; cơ sở sản xuất và ươm tôm giống;
- Nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lí nước thải tập trung.
16
b) Nước thải sinh hoạt là nước thải ra môi trường từ:
- Hộ gia đình;
- Cơ quan nhà nước
- Đơn vị vũ trang nhân dân;
- Trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng của các tổ chúc, cá nhân;
- Cơ sở rửa ô tô xe máy; bệnh viện phòng khám chữa bệnh; nhà hàng, khác sạn;cơ sở
sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác;
III. Mục tiêu của việc thu phí bảo vệ môi trường.
Chính sách thu phí bảo vệ môi trường với nước thải công nghiệp đã được chính phủ
ban hành thông qua nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường với nước thải
(bao gồm nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp) ngày 13/6/2003 và chính thức có
hiệu lực vào ngày 1/1/2004. bên cạnh đó ngày 18/12/2003, Bộ tài chính và Bộ Tài nguyên
và Môi trường đã ban hành thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNTN đẻ hướng
dẫn thực hiện nghị định này. Tuy nhiên cho đến tháng 4/2004 vẫn chưa có địa phương nào
trên cả nước thực hiện thu phí bảo vệ môi trường và phí nước thải với công nghiệp. Và mãi
tới tháng 9/2004 mới có tin tức về việc thu phí nước thải của một số địa phương.
Mục tiêu hàng đầu của chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công
nghiệp là làm cho doanh nghiệp thay đổi hành vi theo hướng thân thiện với môi trường;
nghĩa là Chính phủ mong muốn doanh nghiệp giảm ô nhiễm, chứ không đơn thuần là thu
được nhiều phí từ phía doanh nghiệp. Tổ chức thực hiện chính sánh thành công, chính chỉ
là nhằm đạt được những mục tiêu đó.
Tuy nhiên muốn đạt đựoc mục tiêu cũng phải có thời gian. Theo các nhà kinh tế,
thời gian trung bình đẻ đạt mục tiêu trên phải mất khoảng 3 năm đẻ có thể nhìn nhận hiệu
quả của một chính sách, nó là khoảng thời gian thường dùng cho ‘trung hạn”.

vệ môi trường.
Doanh nghiệp muốn giảm thiểu tải lượng ô nhiễm so với tải lượng ô nhiễm hiện tại
bằng cách nào đi nữa cũng phụ thuộc vào khả năng tài chính của bản thân doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có qui mô lớn và có nguồn tài chính tốt sẽ dễ dành đầu tư cho hệ thống sử lí,
thuê công ty thu gom, và giảm sản lượng… hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và yếu
kém về tài chính. Doanh nghiệp có tài chíh mạnh sẽ dễ dàng thuê đất trong khu vực công
nghiệp,dễ dàng trong việc đâut tư nhà xưởng để di dời ra khỏi khu vực hiện tại hơn các
doanh nghiệp yếu kém. Và giải quyết vấn đề này cần khuyến khích về thuế doanh nghiệp.
các doanh nghiệp vừa và nhỏ có doanh thu thấp do đó có ít tiền và khó đàu tư cho cơ sở hạ
tầng và các kiến thúc kĩ thuật cần thiết để áp dụng các biện pháp kĩ thuật môi trường.
Ý thức doanh nghiệp là một phần quan trọng trong việc đảm bảo được rằng các
chính sách về môi trường có thể được các doanh nghiệp thực hiện. Các doanh nghiệp
thường các biện pháp làm giảm ô nhiễmc môi trường đồng nghĩa với việc giảm đi lợi
nhuận của doanh nghiệp hoặc làm tăng thêm chi phí. Do đó việc thực hiện nó chỉ có những
doanh nghiệp vừa có mục đích kinh tế vừa có “ý thức giữ gìn môi trường”.
18
Ý thức bảo vệ môi trường có ảnh hưởng đến hành vi của doanh nghiệp với môi
trường, tuy nhiên việc lượng hoá là rất khó. í thức bảo vệ môi trường có xác suất rất lớn
đến doanh nghiệp thực hiện các biện pháp giảm ô nhiễm khi thông tin hoàn hảo và biện
pháp cưỡng chế mạnh. Tuy nhiên nó không phải là vấn đề quan trọng mà vấn đề ở đây là
phản ứng của doanh nghiệp trước mức phí mà chính phủ đưa ra. Để có hiệu lực cao mức
phí cũng phải cao mới mong đạt được những mục tiêu đề ra.
Nếu mức phí quá thấp, doanh nghiệp sẽ thích việc đóng phí hơn là tìm cách giảm
thải đầu tư vào một quy trình công nghệ làm giảm ô nhễm. Nếu thực hiện chính sách này
thì chính sách của chính phủ sẽ khó mà đạt được mục đính bảo vệ trường khi đó chính sách
thu phí môi trường sẽ không còn đạt được hiệu quả mong muốn. Còn nếu thực hiện thu phí
quá cao so với chi phí làm giảm lượng nước thải ra môi trường, khi đó các doanh nghiệp
thích đầu tư làm giảm lượng thải ra môi trường, nhưng quá cao sẽ bị nhà sản xuất chống
đối, gây mất ổn định vĩ mô.
Phí ô nhiễm môi trường phải đủ mức cao để có hiêu lực đối với mọi đối tượng tiêu dùng,

V. Kiến nghị
Để nhằm nâng cao hiệu quả của việc thu phí nước thải cũng như đạt đựoc mục đích
của thu phí là vấn đè môi trường. Mà cụ thể ở đây là nâng cao chất lượng nước tại sông Tô
Lịch, theo em ngoài biện pháp thu phí trên còn thực thi thêm một số biện pháp.
Vì nước sông Tô Lịch chủ yếu là nước thải chưa được sử lí nên việc cần thiết là phải
có một nhà máy sử lí nước thải tập trung tại một số địa điểm cụ thể. Ngoài ra một số biẹnn
pháp khác như sủ dụng giấy phép sả thải, theo đó một công ty tìm cách xả lượng thải theo
giấp phép mà mình có được.
Nhà nước nên có nhũng chính sách ưu dãi với nhũng doanh nghiệp gây ô nhiễm và
phải di dời về thuế cũng như về vốn. Thục hiện các phương tiện thông tin đại chúng đẻ
giúp cho moi người và các doanh nghiệp hiểu được tầm quan trọng của môi trường, từ đó
nâng cao ý thúc của doanh nghiệp. sử dụng pháp luật như là biện pháp cứng rắn với các
doanh nghiệp không tuân thủ các vấn đề môi trường.
Nếu có thể thục hiện, chúng ta có thể đào thêm một đoạn sông tô Lịch nối liền với
sông Hồng. Như thế ta có thể đưa nước từ sông Hồng chảy vào sông Tô Lịch từ đó làm
giảm mức độ ô nhiễm tại sông Tô Lịch, hình thành nên đầu nguồn của sông và từ đó có thể
phân thoát lũ cho sông Hồng khi vào mùa mưa.
KẾT LUẬN
Môi trường là một vấn đề lớn trên thế giới và Việt Nam. Nước ta hiện nay có một
tốc độ phát triển kinh tế cao của khu vực và thế giới, chính vì thế mà trong những năm gần
đay có nhiều vấn đè môi trường nảy sinh ở nước ta. Tình trạng môi trường ở một số nơi đã
lên mức báo động. Quá trình phát triển kinh tế thường đi kèm với ô nhiễm môi trường.
Song nếu ta sử dụng tốt các sông cụ kinh tế thì chúng ta cũng có thể bảo vệ môi trường.
Hà Nội là thủ đô của Việt Nam là trung tâm văn hoá chinh trị xã hội của đất nước.
Song các sông ở Hà Nội đều bị ô nhiẽm khá nghiêm trong.Hiên trạng môi trường sông Tô
Lịch là đáng báo động nó cho thấy hệ thống cơ sỏ hạ tầng của thành phố Hà Nội như vậy là
chưa tương xứng với sự phát triển của thành phố. Môi trường sông cũng chính là hình ảnh
chung của các con sông tại các thành phố lớn của nước ta hiện nay. Và nếu không có biện
pháp khắc phục thì trong chúng ta sẽ phải gánh chịu hậu quả.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status