Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
“Tôi yêu truyện cổ nước tôi.
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa”
(Lâm Thị Mĩ Dạ)
Từ lâu, Tấm Cám đã được coi là truyện cổ tích thần kì tiêu biểu và hay nhất
Việt Nam. Nó đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của
dân tộc ta.Những giá trị đặc sắc về nội dung, những giá trị độc đáo về nghệ thuật
cùng với sức biểu cảm to lớn đã tạo nên sức cuốn hút cũng như sức sống vĩnh
cửu của truyện. Chính niềm yêu thích, lòng ham mê từ thuở nhỏ đối với “thế
giới cổ tích” Tấm Cám là nẻo đường đầu tiên dẫn người viết đến việc lựa chọn
đề tài của mình.
Một tác phẩm hay bao giờ cũng là một tác phẩm khó dạy. Đặc biệt
Tấm Cám lại là tác phẩm có nội dung đa tầng văn hoá và hết sức phong
phú nên việc giảng dạy càng khó hơn.
Thực tiễn cho thấy việc giảng dạy truyện cổ tích này là vấn đề
không dễ đối với mỗi giáo viên. Và đã có rất nhiều thầy cô băn khoăn,
trăn trở đi tìm hướng giảng dạy tốt nhất cho tác phẩm.
Đã nhiều năm, Tấm Cám được đưa vào chương trình văn học dân
gian lớp 7 – THCS. Do có nhiều tranh luận xung quanh truyện, nên từ
năm 1995 Tấm Cám không còn được dạy và học ở trường phổ thông. Đến
năm 2003, truyện lại được tuyển chọn vào sách giáo khoa thí điểm lớp
10THPT, được giảng dạy theo quan điểm mới – quan điểm tích hợp.
Như vậy, đối tượng giảng dạy đã thay đổi, quan điểm giảng dạy
không còn như trước, phương pháp giảng dạy tất yếu không thể giữ
nguyên như cũ. Vấn đề đặt ra là cần phải có một phương pháp giảng dạy
tác phẩm đúng đắn, giúp học sinh khám phá được giá trị nổi bật của
truyện, giúp các em phát huy năng lực nhận thức và cảm thụ thẩm mĩ của
mình
Rõ ràng, đây là vấn đề còn để ngỏ, thu hút tất cả những ai có nhiệt
Do tính chất tiêu biểu của Tấm Cám, qua việc nghiên cứu toàn diện
về truyện, Đinh Gia Khánh đã đề cập đến những vấn đề quan trọng của
chuyên ngành cổ tích học. Đó là tính dân tộc, tính quốc tế của truyện cổ
tích; là vấn đề hình thái biểu hiện của nội dung đấu tranh xã hội trong thể
loại này; là vấn đề phương pháp nghệ thuật trong truyện; là vấn đề tâm lý
của nhân dân khi sáng tác và lưu truyền tác phẩm văn học dân gian.
2
Những ý kiến này giúp người viết khai thác đúng đắn hơn những giá
trị của truyện Tấm Cám.
Tiếp theo là bài giảng Tấm Cám của Trần Gia Linh trong cuốn
“Giảng văn I” – Lương Văn Đang, Đinh Thái Hương (Biên tập) – NXB
Đại học và trung học chuyên nghiệp – H – 1982.
Sau khi lựa chọn bản kể của Đỗ Thận và khảo sát tư liệu (các bản kể
của người Kinh, của đồng bào miền núi và bản kể ở nước ngoài), tác giả
đưa ra cách phân tích gồm có 4 mục lớn sau:
Chủ đề.
Bố cục:
Từ đầu đến lúc cô Tấm ướm giày vừa như in.
Sự hoá kiếp qua 4 kiếp của cô Tấm.
Tấm trừng trị mẹ con Cám.
Nội dung, ý nghĩa.
Kết luận.
Cách giảng của Trần Gia Linh đã chia nhỏ tác phẩm, nhiều phần của
đoạn sau trùng ý với đoạn trước dẫn đến hiện tượng lặp trong phân tích.
Việc phân tích nghệ thuật tách rời với việc phân tích nội dung.
Năm 1991, Nguyễn Xuân Lạc đã “Thử đề xuất cách tiếp cận
truyện Tấm Cám theo tinh thần Phôncơlo học” (Tạp chí Văn hoá dân
gian – Số 3 – 1991) theo 6 mặt:
Cách cấu tạo cốt truyện.
Nhằm tranh luận với ý kiến của Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Thiêm đã
đặt ra vấn đề “Trao đổi về “giảng truyện Tấm Cám ở trường phổ
thông”. (Báo Giáo dục và thời đại – Số 34 – 22/8/1994). Đặng Thiêm
cho rằng “ý kiến của anh Hiến có phần không sát thực tế và phiến diện,
cực đoan” [26.13]. Từ việc chỉ ra cái hay của truyện Tấm Cám, chỉ ra
“Trong Tấm Cám đúng là có sự trả thù. Nhưng đó không phải là tư tưởng
chính của truyện, càng không phải là chủ đề. Đó chỉ là những môtip nghệ
thuật cần phải có để thực hiện quan niệm “ác giả, ác báo” của người sáng
tác, chứ nó không bao giờ được coi là mục đích giãi bày” [26.13], Đặng
Thiêm đã kết luận rằng: “Theo tôi, nếu giảng như anh Hiến, với học sinh
lớp 7 sẽ mất hết và chỉ được một bài học luân lí khô khan về chỉ nghĩa
nhân văn hiện đại mà thôi” [26.13].
Tiếp theo, trong Báo Giáo dục và thời đại số 39, ra ngày
26/9/1994, Bùi Văn Tiếng đã tham gia “Bàn về cách ứng xử nghệ
thuật của truyện cổ tích Tấm Cám”. Tác giả cho rằng “việc trả thù tàn
bạo” của Tấm là thường tình vì con người luôn luôn biến đổi, và “hàm
chứa tất cả mọi khả năng khôn ngu, thiện ác…”, ngay cả mụ dì ghẻ cũng
không phải hoàn toàn mất hết nhân tính vì mụ thương con. Quan điểm này
cho rằng, tác giả Tấm Cám “không đứng về phía mẹ con Cám đã đành mà
4
cũng không hẳn đứng về phía Tấm”. Vấn đề nhân vật trong Tấm Cám chỉ
là một “cách ứng xử nghệ thuật”.
Như vậy, ý kiến bàn về cách kết thúc truyện Tấm Cám là rất nhiều
song không phải là hoàn toàn thống nhất mà thậm chí có cả những ý kiến
trái chiều nhau. Trước tình hình đó mỗi giáo viên trên cơ sở tham khảo
phải biết tiếp thu chọn lọc để giải thích hợp lý cho học sinh về phần kết
của truyện cổ tích này.
Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với truyện Tấm Cám vẫn
không dừng lại ở đó.
Thứ nữa, có thể thấy đa số các bài viết đi vào phân tích, “thử đề
xuất cách tiếp cận truyện Tấm Cám” hay đi vào hướng dẫn cách giảng
dạy đoạn cuối truyện sao cho thích hợp chứ không đề xuất phương pháp
giảng dạy.
Đặc biệt, gợi ý của Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng: dạy Tấm Cám
nên đi theo từng tiến trình của cốt truyện trong bài viết “Tấm Cám và sự
bội ước cổ tích” là gợi ý hết sức quý báu và trực tiếp giúp người viết có
định hướng trong việc thực hiện đề tài của mình.
Tóm lại, từ thực tiễn nghiên cứu cho thấy chưa có công trình nào
bàn trực tiếp, cụ thể cách giảng dạy Tấm Cám từ một đặc điểm thi pháp
nổi bật: yếu tố thần kì nhằm tác động toàn diện đến học sinh THPT.
Tiếp thu thành tựu nghiên cứu về truyện Tấm Cám cũng như thành
tựu trong phương pháp dạy học văn hiện đại, luận văn đặt ra vấn đề: “Vai
trò và tác dụng của yếu tố thần kì trong dạy học Tấm Cám nhằm phát
huy năng lực nhận thức và cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10
THPT”.
Đây là một việc làm mới mẻ và có ý nghĩa về nhiều mặt.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam rất phong phú; Số lượng truyện
cổ tích dạy theo chương trình thí điểm trong nhà trường THPT là hai
truyện (Tấm Cám, Chử Đồng Tử); song người viết chỉ đi vào tìm hiểu
truyện Tấm Cám từ góc độ phương pháp giảng dạy.
Vì khuôn khổ luận văn tốt nghiệp và thời gian có hạn, người viết chỉ
đề cập tới tác dụng của yếu tố thi pháp quan trọng nhất – “yếu tố thần kì”
trong giảng dạy Tấm Cám nhằm phát huy năng lực nhận thức và cảm thụ
thẩm mĩ của học sinh -Tức đi tìm phương pháp giảng dạy đúng đắn nhất
cho tác phẩm.
6
IV. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
+ Sách giáo viên.
+ Sách giáo khoa.
+ Vở ghi bài của học sinh.
Phiếu điều tra:
7
+ Giáo viên trả lời câu hỏi.
+ Học sinh trả lời câu hỏi.
Phương pháp phân tích và so sánh những vấn đề có liên quan đến đề tài.
Phương pháp xây dựng bài dạy theo mục đích đề tài.
VII. Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Thư mục tham khảo, luận văn
gồm ba chương:
Chương một: Những tiền đề lí luận của đề tài
Chương hai: Khảo sát và đánh giá việc dạy và học Tấm Cám theo
chương trình thí điểm ở trường THPT.
Chương ba: Phương hướng dạy học Tấm Cám từ việc nhận thức về
vai trò và tác dụng của yếu tố thần kì.
8
Phần Nội dung
Chương một. Những tiền đề lí luận của đề tài
I. Đổi mới phương pháp dạy học văn.
Văn chương bao giờ cũng là sản phẩm của tâm hồn, của trái tim và
khối óc người sáng tác. Văn chương có sức tác động sâu sắc đến bạn đọc,
đến cuộc sống con người. Trong nhà trường, so với các môn học khác,
môn văn vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật lại có khả năng bồi
dưỡng và phát triển tư duy thẩm mĩ cho học sinh một cách hiệu quả nhất.
Do vậy,việc tìm ra phương pháp dạy học thích hợp là hết sức cần thiết.
Hơn nữa, trước yêu cầu mới của xã hội, trước “Sự tiến bộ kì diệu
chuẩn bị trước của giáo viên. Nguồn kiến thức chỉ đóng khung trong vốn
hiểu biết của người thầy. Giáo viên đã từng “che khuất” mất tài liệu giảng
dạy, ít cho học sinh tiếp xúc trực tiếp và tự tìm kiếm kiến thức.
Với cách dạy văn đã quá lỗi thời, phiến diện hoá,đơn phương hoá,
với cách học văn mà học sinh chỉ đóng vai trò “thính giả”, “người ngoài
cuộc” hơn là “người tham gia”…hậu quả cuối cùng dễ nhận thấy học sinh
trở thành người thụ động,thiếu sáng tạo,ít cảm xúc,ít đồng cảm.
Muốn tạo sự phát triển trong dạy học văn thì nhiệm vụ cần thiết và
cấp bách là phải: đổi mới phương pháp dạy học văn.
I.1.2. Sự đổi mới trong phương pháp dạy học văn
Theo Phan Trọng Luận: “Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương mới đổi khác về mục đích, về con đường đạt đến mục đích, do đó
cũng đổi khác về cơ chế hoạt động dạy học cùng hàng loạt vấn đề về tiến
trình tổ chức giờ dạy, phương pháp tiếp cận tác phẩm ở học sinh”
[20.281].
Nếu mục đích của giờ học tác phẩm văn theo phương pháp cũ là
giáo viên truyền thụ lời giảng của mình, thì mục đích cao nhất trong
phương pháp dạy văn mới là làm sao để phát huy tính chủ thể của học
sinh dưới sự hướng dẫn của thầy.
Trong cơ chế dạy văn mới, quan hệ giữa các thành tố: tác phẩm –
giáo viên – học sinh là mối quan hệ đa phương, đan kết lên nhau. Văn bản
là đối tượng để phân tích, cảm thụ. Giáo viên đóng vai trò chỉ đạo. Học
10
sinh đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy và học, chủ động tham gia
vào quá trình nhận thức. Con đường đạt đến hiệu quả tự phát triển là sự
vận động tự thân của mỗi chủ thể học sinh. Vấn đề quan trọng của cơ chế
dạy học văn mới là vấn đề phát huy chủ thể học sinh: “Học sinh vừa là
mục tiêu, vừa là con đường, vừa là phương tiện”. [20.281]. Và dạy học
văn là: “phải từ học sinh, cho học sinh và bằng chính học sinh”.
của người viết.
Dạy học văn là dạy một loại hình nghệ thuật vì vậy phải khám phá
thế giới đó bằng những quy luật nghệ thuật của chính nó.
Trước đây do chưa nắm vững nguyên tắc này nên việc dạy học Văn
học dân gian nói chung, truyện cổ tích thần kì nói riêng chưa được hiệu
quả thiết thực (thậm chí còn mắc phải nhiều sai lầm). Phổ biến nhất (đặc
biệt là ở bậc trung học cơ sở) là cách dạy dễ dãi, đơn giản hoá tác phẩm
văn học dân gian. Chẳng hạn dạy truyện cổ tích thần kỳ mà chia nhân vật
cổ tích thành hai tuyến chính nghĩa và gian và rồi phân tích một cách sơ
lược, công thức theo lối xã hội học dung tục… Việc đồng nhất giữa văn
học dân gian và văn học viết, dạy văn học dân gian như dạy văn học viết
đã dẫn đến việc hiện đại hoá tác phẩm văn học dân gian , tước bỏ đi sắc
thái phôncơlo vốn là vẻ đẹp độc đáo và ý vị nhất của những truyện kể.
Dạy truyện cổ tích thần kì mà dạy từ con mắt của người hiện đại, dạy như
tác phẩm văn học viết thì chẳng những không khai thác được những giá trị
nổi bật của truyện mà còn hiểu sai, dạy sai tác phẩm.
Như vậy, do chưa có phương pháp tiếp cận đúng đắn một tác phẩm
dân gian (cụ thể là truyện cổ tích thần kì), hiểu chưa đúng, hiểu sai tác
phẩm dẫn đến lúng túng trong phương pháp giảng dạy. Giờ dạy vì thế rất
dễ hoặc thiên về nội dung tư tưởng, chính trị một cách gò bó, cứng nhắc,
hoặc thiên về hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ một cách phiến diện, trống
rỗng.
Để khắc phục những hạn chế trên “ cách dạy khoa học nhất là cách
dạy theo quan điểm thi pháp học”[18.52]. Dạy văn học dân gian theo thi
pháp Văn học dân gian, dạy truyện cổ tích phải đảm bảo những đặc trưng
thi pháp loại thể.
Truyện cổ tích là một thể loại lớn của văn học dân gian, gồm ba
biến thể: Truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tích
về loài vật. Trong đó, truyện cổ tích thần kỳ là biến thể tiêu biểu hơn cả
Đặc điểm bao trùm và nổi bật của thi pháp truyện cổ tích là “thế
Dạy học truyện cổ tích thần kì theo thi pháp loại thể phải giúp học
sinh thấy được đặc điểm của kiểu nhân vật bất hạnh (người em út, người
mồ côi, xấu xí, người đi ở…), của kiểu nhân vật kì tài (có sức khoẻ phi
thường, có tài nghệ kì lạ…), thấy nhân vật trong truyện cổ tích chưa được
cá thể hoá, chưa được tâm lý hoá - đó là “nhân vật chức năng”, “nhân vật
hành động”.
13
Các môtip nghệ thuật là “những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc
trưng vừa mang tính bền vững của truyện dân gian”[18.70]. Nó mang tính
phôncơlo đậm đặc và góp phần quan trọng để tạo nên cái sắc thái dân gian
của truyện. Vì vậy tiếp cận và giảng dạy truyện cổ tích không thể không
chú ý đến các môtip nghệ thuật đó.
Con đường hiệu quả nhất của việc dạy học truyện cổ tích thần kì là
con đường dạy theo thi pháp. Có như vậy mới giúp chúng ta tiếp cận, khai
thác truyện cổ tích đúng hướng, tránh được việc tiếp cận theo hướng xã
hội học, tránh được việc phân tích như phân tích một truyện hiện đại. Từ
đó mà có được phương pháp giảng dạy thích hợp tác động vào cả trí tuệ,
và tâm hồn của học sinh.
Tóm lại, những quan điểm đổi mới về phương pháp dạy học văn nói
chung, về phương pháp dạy truyện cổ tích thần kì nói riêng là những tiền
đề lí luận đầu tiên để người viết trên cơ sở đó mà tìm tòi và triển khai đề
tài mình đã lựa chọn.
II. Tấm Cám trong nhà trường phổ thông.
Truyện kể dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng có vai trò
rất lớn trong việc giáo dục, giáo dưỡng đối với thế hệ trẻ trong nhà
trường. Nó đem lại cho học sinh những hiểu biết cực kì phong phú và đa
dạng về cuộc sống của nhân dân qua các thời đại; “trí khôn dân gian” đã
đem đến cho thế hệ trẻ hôm nay những bài học bổ ích, thấm thía, góp
phần bồi đắp tâm hồn dân tộc cho thế hệ trẻ.
giải và cũng đơn giản thôi, không đến mức phải né tránh để không dạy
truyện này (trong thực tế, những năm qua chúng ta đã dạy và không có gì
gay cấn lắm). Nhiều người cho rằng không nên bỏ truyện này, bởi trong
hành trang tinh thần các em khi bước vào đời, mà thiếu truyện Tấm Cám
thì đó là một điều thật đáng tiếc” [18.40].
Chính giá trị đích thực bền vững của Tấm Cám đã giúp truyện được
đưa vào giảng dạy ở chương trình lớp 10THPT theo nguyên tắc xây dựng
chương trình như sau:
Bám sát mục tiêu đào tạo người lao động mới.
Bảo đảm nguyên tắc kế thừa và phát triển.
Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung
chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp
giảng dạy.
(Chương trình trung học phổ thông dự thảo).
Sau đây người viết xin trình bày một số ý kiến về việc lựa chọn này.
15
II.2.1. Về mức độ hợp lý của việc chọn học Tấm Cám
Việc chọn Tấm Cám đưa vào chương trình lớp 10 THPT theo người
viết là sự lựa chọn hợp lý và hoàn toàn đúng đắn. Sở dĩ như vậy là vì:
Thứ nhất , Tấm Cám là một truyện cổ tích tiêu biểu và có thể coi là
hay nhất Việt Nam. Nó cũng là một kiểu truyện phổ biến trên thế giới.
Tấm Cám có một giá trị lớn về nội dung, về nghệ thuật, đồng thời là một
truyện có tác dụng giáo dưỡng, giáo dục học sinh sâu sắc. Vì vậy việc lựa
chọn giảng dạy một tác phẩm hay, có giá trị về nhiều mặt là việc lựa chọn
sáng suốt.
Thứ hai , đối tượng học sinh lớp 10 đã có sự phát triển về tư duy lí
luận, về trình độ nhận thức nên việc chọn tác phẩm Tấm Cám để giảng
dạy là rất hợp lý. Khác hẳn học sinh lớp 7 THCS, học sinh lớp 10 đã có
thể nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề khái quát về xã hội trong truyện
Sách giáo viên (Bộ 1) hướng dẫn trong khi dạy giáo viên có thể giới
thiệu với học sinh bản kể có cách kết thúc là Tấm giết Cám, làm mắm
cho dì ghẻ… và cho rằng: Truyện Tấm Cám thể hiện quan niệm và mơ
ước về sự chiến thằng tuyệt đối của người Việt Nam. Vì vậy mà truyện có
bản kể trên. Sự trừng phạt của Tấm là thay mặt cái thiện, tiêu diệt cái ác,
điều đó đã từng làm không ít người hả hê. Nhưng hình thức trừng phạt ấy
khiến cho nhiều người cảm thấy rùng rợn, ấn tượng về cô Tấm hiền lành,
đôn hậu trở nên không đẹp. Vì vậy SGK không chọn bản kể trên.
Còn Sách giáo viên (Bộ 2) thì cho rằng: Truyện cổ tích thần kì có
không ít yếu tố cổ xưa được bảo lưu. Mô típ mụ phù thuỷ ăn nhầm phải
thịt con mình thường lặp đi lặp lại trong nhiều truyện cổ tích Châu Âu.
Nhưng trong truyền thống cảm nhận của dân gian, người ta không quan
tâm đến tính chất dã man của sự việc mà chỉ quan tâm đến mức độ của sự
trừng phạt. Vì vậy, mẹ con dì ghẻ phải chịu sự trừng phạt cao nhất. Và
cho rằng: Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, những quan niệm nhân đạo
mới đã hình thành và phát triển. Vì vậy đoạn truyện này có thể gây phản
cảm đối với học sinh lớp 10. Do đó, người biên soạn SGK đã “mạnh dạn
lược bỏ” đoạn kết thúc.
Theo ý kiến của bản thân tôi, trong giảng dạy Tấm Cám ở trường
phổ thông rất không nên cắt bỏ phần kết thúc của truyện. Bởi đây là một
truyện đã quá quen thuộc với các em ngay từ thưở nhỏ. Các em đã từng
biết đến kết thúc này, nếu cắt bỏ sẽ gây độ “hẫng” và sự băn khoăn trong
các em.
17
Vấn đề đặt ra không phải là cắt bỏ phần kết thúc truyện mà phải giải
thích làm sao cho hợp lý về cách kết chúc đó. Bởi đối tượng học ở đây
không còn là học sinh mẫu giáo hay THCS.
Khi giảng dạy cần giúp các em thấy được đặc trưng của truyện cổ
tích thần kì là giải quyết mọi vấn đề trong hiện thực theo quan điểm và
THCS. Đây là một hướng đi đúng.
Học Ngữ văn trong nhà trường không thể tách rời ba bộ phận Văn,
Tiếng Việt và Làm văn vốn là những yếu tố hợp thành sinh động của
chương trình. Mỗi văn bản văn chương ưu tú cung cấp bao dữ kiện cho sự
trau dồi và hoàn thiện Tiếng Việt và là mẫu mực cho việc Làm văn.
Ngược lại, kiến thức về Tiếng Việt và Làm văn cũng giúp cho chúng ta
am hiểu hơn về cái kì diệu trong mỗi văn bản văn chương do các nhà văn
sáng tạo nên.
Vì thế học Ngữ Văn theo tinh thần tích hợp là một yêu cầu quan
trọng đối với mỗi học sinh.
Học Ngữ văn phải hướng vào cuộc sống để tận dụng kiến thức và để
sống đúng, sống đẹp. Đó là quan điểm văn hoá và thực tiễn của việc học
Ngữ văn hiện nay.
Một điểm mới quan trọng khác là sách giáo khoa được viết ra để
học sinh tự học. Tự học là chiến lược của xã hội học tập ngày nay.
Theo quan điểm trên “Tấm Cám” được soạn ra theo hướng:
Có mục “Kết quả cần đạt” là những tiêu chí để học sinh tự định
hướng trong quá trình học tập cũng như tự đánh giá.
Có câu hỏi hướng dẫn “ Đọc – Hiểu” sau mỗi văn bản để gợi ý, dẫn
dắt học sinh tự mình chiếm lĩnh tác phẩm
Phần “Luyện tập” giúp học sinh vận dụng kiến thức để thông hiểu
lí luận và hình thành kĩ năng thực hành cần có.
- Những câu hỏi hay bài tập có đánh dấu (*) dành cho học sinh
giỏi và tạo điều kiện để các em cùng bàn bạc, tranh luận.
Tóm lại, việc giảng dạy Tấm Cám theo quan điểm tích hợp là cần
thiết và hoàn toàn đúng đắn. Từ đó, mỗi giáo viên cần xây dựng các tình
huống để học sinh tự bộc lộ hứng thú, chủ động tích cực tham gia quá
trình tiếp nhận – khơi đúng mạch nguồn những giá trị đặc sắc của tác
phẩm ,đồng cảm và thấu hiểu tác phẩm ở mức cuối.
19
dân gian nhất. Bởi vì đây là lứa tuổi hết dại nhưng chưa khôn, hết nhỏ
nhưng chưa lớn. Mà truyện dân gian, nói chung lại thích hợp với hai đối
tượng cách xa nhau về tuổi đời là trẻ nhỏ và người lớn.” [29.168].
20
Sở dĩ như vậy là vì tuổi thơ vốn yêu những điều kỳ diệu trong cổ
tích, tuổi già thích chiêm ngiệm những triết lý dân gian. Còn học sinh lớp
10 (lứa tuổi 14 – 15) lại không có đặc điểm đó.Tư duy lí luận phát triển
khiến các em không tin vào những điều kì diệu trong cổ tích song lại chưa
thể tự rút ra những triết lý sâu sắc.
Thời gian cổ tích ra đời và thời gian hiện tại quá xa cách và khác
biệt gây khó khăn cho sự đồng cảm của các em. Trong thời đại mới, nền
khoa học phát triển, lượng thông tin, báo chí, sách truyện, phim ảnh ngày
càng phổ biến rộng rãi nên các em có khả năng hiểu biết về khoa học một
cách khá chính xác. Vì thế tư duy của các em ít giao đồng với tư duy duy
vật thô sơ của người xưa.
Thời kỳ ảo tưởng và thần kì đã đi qua, học sinh đang bắt đầu quá
trình hình thành tính cách. Trong khi đó nhân vật truyện cổ tích là nhân
vật chức năng, nhân vật không mang cá tính, nhân vật không có tính cách:
hoặc là tốt thì “tốt một cách lý tưởng” hoặc xấu thì cũng “xấu một cách lý
tưởng” (Chữ dùng của Lê Trường Phát). Vì thế con người cổ tích càng trở
nên lệ thuộc vào sự giúp đỡ của lực lượng thần kì. Sức hấp dẫn của cổ
tích nghiêng về chất trữ tình và ước mơ, khát vọng. Phải trải qua quá trình
tái hiện, tái tạo, tìm hiểu, phân tích và so sánh thì học sinh mới hiểu tác
phẩm.
Những khó khăn này dẫn đến yêu cầu cần có một phương hướng tác
động đến học sinh một cách đúng đắn.
III.3. Phương hướng tác động
Từ những vấn đề trên, ta thấy việc cải tiến phương pháp và nâng cao
hiệu quả giảng dạy truyện dân gian ở trường THPT trước hết là việc phát
thiên hướng của nó là sáng tạo ra những điều kì diệu khác thường. Mục
đích của sự sáng tạo là thoả mãn lý tưởng đạo đức đang mâu thuẫn với
một môi trường xã hội nhất định.
Những ước mơ thầm kín về hạnh phúc, những khao khát về một xã
hội đề cao những tình cảm cao thượng đều có thể tìm thấy trong khung
cảnh huyền diệu của thế giới tưởng tượng hoang đường chứa nhiều phép
màu, tượng trưng cho sự cứu trợ và lẽ công bằng.
IV.1.1. Khái niệm và biểu hiện
Yếu tố thần kì là một trong những đặc điểm thi pháp tiêu biểu của
truyện cổ tích thần kì.
22
ở đây, thuật ngữ yếu tố thần kì (hay yếu tố kì diệu) dùng để chỉ sự
tưởng tượng, hư cấu – Nó là sản phẩm, là kết quả của những hư cấu dưới
ánh sáng của trí tưởng tượng kì ảo và bay bổng của nhân dân.
Yếu tố thần kì xuất hiện nhiều ở các thể loại văn học dân gian, kể cả
văn học hiện đại. Nhưng yếu tố thần kì của cổ tích mang đặc trưng riêng.
Yếu tố tưởng tượng trong thần thoại là yếu tố tưởng tượng không tự
giác. Với tư duy nhận thức của người nguyên thuỷ thì tất cả các yếu tố đó
đều là có thật. Họ thực sự tin rằng có một thế lực siêu nhiên là các thần
điều khiển các hiện tượng tự nhiên.
Ngược lại, hư cấu trong cổ tích là “hư cấu chủ tâm mang tính nghệ
thuật” (Prốp). Con người sử dụng yếu tố kì diệu nhằm thể hiện mơ ước
của mình chứ không tin điều đó là có thực.
Trong các tác phẩm hiện đại cũng có yếu tố hoang đường kì ảo song
hư cấu ở đây là bịa như thật, nghĩa là nó mang tính chất điển hình, có thể
thấy ngoài cuộc đời. Còn yếu tố kì diệu của cổ tích không thể tồn tại
ngoài cuộc đời.
Như vậy, yếu tố thần kì của cổ tích mang nét đặc sắc riêng biệt.
Yếu tố thần kì trong truyện cổ tích có thể là những nhân vật thần kì
nên những tình huống li kì, hấp dẫn từ đầu đến cuối truyện.
ở đâu thiếu lôgíc nhất, ở đó xuất hiện yếu tố thần kì. Yếu tố này có
thể coi là phương tiện thay thế cho sự lý giải của tác giả dân gian đối với
những thời điểm không có lôgíc. “Muốn tạo cái thật phải dựa trên sự gây
ảo tưởng về cái thật”.
Nhờ có yếu tố thần kì mà kết thúc của truyện cổ tích bao giờ cũng là
một kết thúc có hậu. Yếu tố thần kì không chỉ phản ánh hiện thực mà còn
phản ánh quan niệm đạo đức, quan niệm thẩm mĩ và mơ ước của nhân
dân. Nó đóng vai trò lớn về nhiều mặt trong việc hình thành một thế giới
cần có, một thế giới “như mong ước”. Nó là một phương tiện nghệ thuật,
một thủ pháp nghệ thuật làm nên chất men say của thể loại truyện cổ tích
thần kì dân gian.
IV.2. Đặc sắc của yếu tố thần kì trong truyện cổ tích Tấm Cám
Qua phần trên, ta thấy yếu tố thần kì có vai trò rất quan trọng trong
thế giới cổ tích. Tấm Cám là một trong những truyện cổ tích thần kì hay
và tiêu biểu nhất trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Do đó yếu tố hư
cấu, yếu tố thần kì cũng được thể hiện đậm nét.
24
Có thể nói Tấm Cám tập trung nhiều nhất và đầy đủ nhất các loại
yếu tố thần kì. Nếu trong “Sọ Dừa”, “Trầu Cau” yếu tố thần kì tập trung ở
sự biến hoá, sự hoá thân của nhân vật, ở “Cây tre trăm đốt”, yếu tố thần kì
bao gồm: sự giúp đỡ của Bụt, của cây tre thần kì… thì ở Tấm Cám, yếu
tố thần kì có cả sự xuất hiện của Bụt, sự giúp đỡ của gà trống, đàn chim
sẻ và sự hoá thân của nhân vật…
Hình ảnh ông Bụt có nguồn gốc từ Đức Phật nhưng đó là Đức Phật
đã được dân gian hoá. Đây là hình ảnh gần gũi với nhân dân. Nó khác hẳn
với nhân vật thần kì: Tiên hay Thần ở các nước khác. Tiên hay thần của
truyện cổ tích các nước có thể tượng trưng cho may hay rủi, thiện hay ác.
Bụt của truyện cổ tích của ta chỉ có thể là tượng trưng cho cái thiện đầy