TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
HỮU NGHỊ VIỆT-HÀN
KHOA KHOA HỌC MÁY TÍNH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGÀNH MẠNG MÁY TÍNH
ĐỀ TÀI
ỨNG DỤNG OPENVPN TRONG BẢO MẬT HỆ
THỐNG MẠNG CHO DOANH NGHIỆP
Sinh viên thực hiện: Lê Long Bảo
Lớp : CCMM03A
Niên khóa : 2009 - 2012
Cán bộ hướng dẫn : Lê Kim Trọng
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
Đà Nẵng, tháng 6 năm 2012
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn các
thầy giáo, cô giáo Khoa Khoa Học Máy Tính, những người đã dạy dỗ, trang bị cho em
những kiến thức bổ ích trong năm học vừa qua.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy Lê Kim Trọng, người đã tận tình
hướng dẫn em trong suốt quá trình làm đồ án.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô.
Đà nẵng, ngày 2 tháng 6 năm 2012
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
2
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Ý nghĩa
VPN Virtual Private Network
GNU General Public License
sẽ ứng dụng mô hình triển khai OpenVPN này cho các doanh nghiệp lớn, cũng như là
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhiệm vụ nghiên cứu là tìm hiểu để nắm rõ OpenVPN là gì, đưa ra các bảng so
sánh, phân tích, đánh giá ưu và nhược điểm của OpenVPN, các giao thức được sử dụng và
triển khai OpenVPN trên ubuntu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu:
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
5
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
- Hệ điều hành mã nguồn mở Ubuntu.
- Mô hình VPN và các giao thức liên quan.
Phạm vi nghiên cứu: Mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Tổng hợp từ các tài liệu tiếng anh cũng như tiếng việt đã thu thập được để làm
phần cơ sở lý thuyết, kết hợp với việc tìm hiểu các câu lệnh cài đặt, cấu hình liên quan
đến mã nguồn mở và OpenVPN, ứng dụng phần mềm máy ảo vmware để làm phần demo
thực nghiệm.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Ý nghĩa khoa học:
+ giúp sinh viên nắm được các kiến thức về mạng máy tính và phần mềm
nguồn mở.
+ Hiểu được cơ chế và cách thức làm việc của các giao thức bảo mật VPN
Ý nghĩa thực tiễn:
+ Giúp các nhân viên hoặc các doanh nghiệp có thể kết nối từ xa và an toàn
hơn.
+ Có thể ứng dụng mô hình triển khai OpenVPN cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
6. Nội dung đồ án.
Nội dung đồ án được trình bày trong gồm 4 chương:
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
Vào giữa thập niên 1980, người sử dụng dùng các máy tính độc lập bắt đầu chia sẻ
các tập tin bằng cách dùng modem kết nối các máy tính khác. Cách thức này được gọi là
điểm nối điểm, hay truyền theo kiểu quay số. Khái niệm này được mở rộng bằng cách
dùng các máy tính là trung tâm truyền tin trong một kết nối quay số. Các máy tính này
được gọi là sàn thông báo. Các người dùng kết nối đến sàn thông báo này, để lại đó hay
lấy đi các thông điệp, cũng như gửi lên hay tải về các tập tin. Hạn chế của hệ thống là có
rất ít hướng truyền tin, và chỉ với những ai biết về sàn thông báo đó. Ngoài ra, các máy
tính tại sàn thông báo cần một modem cho mỗi kết nối, khi số lượng kết nối tăng lên, hệ
thống không thể đáp ứng được nhu cầu.
Qua các thập niên 1950, 1970, 1980, 1990, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã phát triển
các mạng diện rộng WAN có độ tin cậy cao, nhằm phục vụ các mục đích quân sự và khoa
học. Công nghệ này khác truyền tin điểm nối điểm. Nó cho phép nhiều máy tính kết nối
lại với nhau bằng các đường dẫn khác nhau. Bản thân mạng sẽ xác định dữ liệu di chuyển
từ máy tính này đến máy tính khác như thế nào. Thay vì chỉ có thể thông tin với một máy
tính tại một thời điểm, nó có thể thông tin với nhiều máy tính cùng lúc bằng cùng một kết
nối. Sau này, WAN của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã trờ thành Internet.
1.1.2. Khái niệm mạng máy tính
Mạng máy tính là tập hợp các máy tính độc lập kết nối với nhau theo một chuẩn kỹ
thuật nhất định. Hai máy tính gọi là nối mạng với nhau nếu chúng có khả năng trao đổi
thông tin. Phương tiện kết nối có thể là cáp đồng, cáp quang, sóng viba, hồng ngoại hoặc
vệ tinh.
Mạng máy tính có nhiều kích cỡ, cấu trúc và hình thức tổ chức khác nhau tùy
thuộc vào từng ứng dụng cụ thể của mạng máy tính. Tuy nhiên, chúng có thể phân thành
hai loại chính là: mạng có cấu trúc ngang hàng và mạng có cấu trúc Client – Server (máy
trạm –
máy
chủ)
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
8
nhỏ. MAN sử dụng các mạng tốc độ cao để kết nối các mạng LAN của trường học, chính
phủ, công ty, , bằng cách sử dụng các liên kết nhanh tới từng điểm như cáp quang.
1.2. MÔ HÌNH PHÂN TẦNG
1.2.1. OSI
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
10
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
Hình 1.3. Mô hình OSI
Mô hình OSI có 7 lớp và được thiết kế theo các nguyên tắc sau:
- Một lớp được tạo ra tương ứng với một khái niệm trừu tượng
- Một lớp thực hiện một chức năng hoàn chỉnh nào đó.
- Chức năng của mỗi lớp phải được chọn theo xu hướng phù hợp với các giao
thứcđã được chuẩn hóa
- Biên của các lớp phải được thiết kế sao cho tối thiểu hóa được lượng thông tin
truyền qua các giao diện
- Số lượng các lớp không quá ít để đảm bảo thực hiện đủ các chức năng cần thiết và
không được quá nhiều để kiến trúc của nó không trở nên cồng kềnh
1.2.1.1. Lớp vật lý
Lớp vật lý bao gồm việc truyền tải các tín hiệu trong môi trường từ máy tính này
đến máy tính khác. Lớp này gồm có các chi tiết kỹ thuật về các đặc tính điện và cơ như:
mức điện áp, định thời tín hiệu, tốc độ dữ liệu, độ dài truyền tải lớn nhất và các kết nối vật
lý của thiết bị mạng. Để một thiết bị hoạt động chỉ trong lớp vật lý, nó sẽ không có bất kỳ
kiến thức nào về dữ liệu mà nó truyền tải. Một thiết bị lớp vật lý chỉ truyền tải hoặc nhận
dữ liệu một cách đơn giản.
1.2.1.2. Lớp liên kết dữ liệu
Cung cấp khả năng chuyển dữ liệu tin cậy xuyên qua một liên kết vật lý. Lớp này
liên quan đến:
- Địa chỉ vật lý
- Mô hình mạng
- Cơ chế truy cập đường truyền
đến mạng đích. Lớp này quyết định đường đi từ máy tính nguồn đến máy tính đích. Nó
quyết định dữ liệu sẽ truyền trên đường nào dựa vào tình trạng, ưu tiên dịch vụ và các yếu
tố khác. Nó cũng quản lý lưu lượng trên mạng chẳng hạn như chuyển đổi gói, định tuyến,
và kiểm soát sự tắc nghẽn dữ liệu.Dữ liệu ở lớp này gọi packet hoặc datagram.
1.2.1.4. Lớp vận chuyển
Lớp vận chuyển phân đoạn dữ liệu từ hệ thống máy truyền và tái thiết lập dữ liệu
vào một luồng dữ liệu tại hệ thống máy nhận đảm bảo rằng việc bàn giao các thông điệp
giữa các thiết bị đáng tin cậy. Dữ liệu tại lớp này gọi là segment.
Lớp này thiết lập, duy trì và kết thúc các mạch ảo đảm bảo cung cấp các dịch vụ
sau:
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
12
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
- Xếp thứ tự các phân đoạn: khi một thông điệp lớn được tách thành nhiều phân
đoạn nhỏ để bàn giao, lớp vận chuyển sẽ sắp xếp thứ tự các phân đoạn trước khi ráp nối
các phân đoạn thành thông điệp ban đầu.
- Kiểm soát lỗi: khi có phân đoạn bị thất bại, sai hoặc trùng lắp, lớp vận chuyển sẽ
yêu cầu truyền lại.
- Kiểm soát luồng: lớp vận chuyển dùng các tín hiệu báo nhận để xác nhận. Bên gửi
sẽ không truyền đi phân đoạn dữ liệu kế tiếp nếu bên nhận chưa gởi tín hiệu xác nhận
rằng đã nhận được phân đoạn dữ liệu trước đó đầy đủ.
1.2.1.5. Lớp phiên
Lớp này có chức năng thiết lập, quản lý, và kết thúc các phiên thông tin giữa hai
thiết bị truyền nhận. Lớp phiên cung cấp các dịch vụ cho lớp trình bày. Lớp Session cung
cấp sự đồng bộ hóa giữa các tác vụ người dùng bằng cách đặt những điểm kiểm tra vào
luồng dữ liệu. Bằng cách này, nếu mạng không hoạt động thì chỉ có dữ liệu truyền sau
điểm kiểm tra cuối cùng mới phải truyền lại. Lớp này cũng thi hành kiểm soát hội thoại
giữa các quá trình giao tiếp, điều chỉnh bên nào truyền, khi nào, trong bao lâu. Ví dụ như:
RPC, NFS, Lớp này kết nối theo ba cách: Haft duplex,Simplex, Full-duplex.
1.2.1.6. Lớp trình diễn
điệp hoặc một chuỗi các byte liên tục. Chương trình ứng dụng sẽ gửi dữ liệu đi dưới dạng
nào đó mà nó yêu cầu đến lớp giao vận.
1.2.2.2. Lớp giao vận
Nhiệm vụ cơ bản của lớp giao vận là cung cấp phương tiện liên lạc từ một chương
trình ứng dụng này đến một chưng trình ứng dụng khác. Việc thông tin liên lạc đó thường
được gọi là end-to-end. Mức chuyên trở có thể điều khiển luông thông tin. Nó cũng có thể
cung cấp sự giao vận có độ tin cậy, bảo đảm dữ liệu đến nơi mà không có lỗi và theo đúng
thứ tự. Để làm được điều đó, phần mềm protocol lớp giao vận cung cấp giao thức TCP,
trong quá trình trao đổi thông tin nơi nhận sẽ gửi ngược trở lại một xác nhận (ACK) và
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
14
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
nơi gửi sẽ truyền lại những gói dữ liệu bị mất. Tuy nhiên trong những môi trường truyền
dẫn tốt như cáp quang chẳng hạn thì việc xy ra lỗi là rất nhỏ. Lớp giao vận có cung cấp
một giao thức khác đó là UDP.
1.2.2.3. Lớp internet
Nhiệm vụ cơ bản của lớp này là xử lý việc liên lạc của các thiết bị trên mạng. Nó
nhận được một yêu cầu để gửi gói dữ liệu từ lớp trên cùng với một định danh của máy mà
gói dữ liệu phía được gửi đến. Nó đóng segment vào trong một packet, điền vào phần đầu
của packet, sau đó sử dụng các giao thức định tuyến để chuyển gói tin đến được đích của
nó hoặc trạm kế tiếp. Khi đó tại nơi nhận sẽ kiểm tra tính hợp lệ của chúng, và sử dụng
tiếp các giao thức định tuyến để xử lý gói tin. Đối với những packet được xác định thuộc
cùng mạng cục bộ, phần mềm Internet sẽ cắt bỏ phần đầu của packet, và chọn một trong
các giao thức lớp chuyên trở thích hợp để xử lý chúng. Cuối cùng, lớp Internet gửi và
nhận các thông điệp kiểm soát và xử lý lỗi ICMP.
1.2.2.4. Lớp giao tiếp mạng
Lớp thấp nhất của mô hình TCP/IP chính là lớp giao tiếp mạng, có trách nhiệm
nhận các IP datagram và truyền chúng trên một mạng nhất định. Người ta lại chia lớp giao
tiếp mạng thành 2 lớp con là:
- Lớp vật lý: Lớp vật lý làm việc với các thiết bị vật lý, truyền tới dòng bit 0, 1 từ ni
chỉ có các liên kết logic với nhau. Liên kết logic của một tầng được thực hiện thông qua
các tầng dưới và phải tuân theo những quy định chặt chẽ, các quy định đó được gọi giao
thức của tầng.
Hình 1.5. Mô hình truyền thông đơn giản 3 tầng
Trong kiến trúc phân tầng, một số mô hình được phát triển
o Mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở OSI
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
16
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
o Mô hình Internet : TCP/IP
Xét trên phương diện lập trình với máy tính, ta xét mô hình phân tầng thu gọn:
Nói chung trong truyền thông có sự tham gia của các thành phần: các chương trình ứng
dụng, các chương trình truyền thông, các máy tính và các mạng. Các chương trình ứng
dụng là các chương trình của người sử dụng được thực hiện trên máy tính và có thể tham
gia vào quá trình trao đổi thông tin giữa hai máy tính. Trên một máy tính với hệ điều hành
đa nhiệm (như Windows, UNIX) thường được thực hiện đồng thời nhiều ứng dụng trong
đó có những ứng dụng liên quan đến mạng và các ứng dụng khác. Các máy tính được nối
với mạng và các dữ liệu được trao đổi thông qua mạng từ máy tính này đến máy tính
khác.
Việc gửi dữ liệu được thực hiện giữa một ứng dụng với một ứng dụng khác trên
hai máy tính khác nhau thông qua mạng được thực hiện như sau: Ứng dụng gửi chuyển
dữ liệu cho chương trình truyền thông trên máy tính của nó, chương trình truyền thông sẽ
gửi chúng tới máy tính nhận. Chương trình truyền thông trên máy nhận sẽ tiếp nhận dữ
liệu, kiểm tra nó trước khi chuyển giao cho ứng dụng đang chờ dữ liệu.
Với mô hình truyền thông đơn giản người ta chia chương trình truyền thông thành
ba tầng không phụ thuộc vào nhau là: tầng ứng dụng, tầng giao vận và tầng tiếp cận
mạng.
Tầng tiếp cận mạng liên quan tới việc trao đổi dữ liệu giữa máy tính và mạng mà
nó được nối vào. Để dữ liệu đến được đích máy tính gửi cần phải chuyển địa chỉ của máy
tính nhận cho mạng và qua đó mạng sẽ chuyển các thông tin tới đích. Ngoài ra máy gửi
1.4. PHÂN LOẠI MẠNG MÁY TÍNH
1.4.1. Theo khoảng cách địa lý
Phân làm 4 loại: mạng cục bộ, mạng đô thị, mạng diện rộng, mạng toàn cầu
- Mạng cục bộ (Local Area Networks - LAN): cài đặt trong phạm vi tương đối hẹp,
khoảng cách lớn nhất giữa các máy tính nối mạng là vài chục km.
- Mạng đô thị (Metropolitan Area Networks - MAN): cài đặt trong phạm vi một đô
thị, một trung tâm kinh tế xã hội, có bán kính nhỏ hơn 100 km.
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
18
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
- Mạng diện rộng (Wide Area Networks - WAN): phạm vi của mạng có thể vượt qua
biên giới quốc gia và thậm chí cả lục địa.
- Mạng toàn cầu (Global Area Networks - GAN): phạm vi rộng khắp các lục địa.
1.4.2. Theo kỹ thuật chuyển mạch
Phân làm 3 loại: mạng chuyển mạch kênh, mạng chuyển mạch thông báo, mạng
chuyển mạch gói.
1.4.3. Theo cơ chế hoạt động
Cơ chế hoạt động dựa theo mô hình chuẩn OSI và TCP/IP thông qua các lớp.
CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ PHẦN MỀM NGUỒN MỞ
2.1. KHÁI NIỆM PHẦN MỀM NGUỒN MỞ
2.1.1. Lịch sử phát triển phần mềm mã nguồn mở
Việc sử dụng hệ điều hành UNIX và các công cụ hỗ trợ đi kèm đã khiến cho các
nhà phát triển phần mềm cảm thấy bản quyền hạn chế sự sáng tạo của họ. Năm 1983, dự
án GNU ra đời, do Richard Stallman sáng lập. Dự án này phát triển thành Tổ chức phần
mềm tự do FSF (Free Software Foundation). Tổ chức này tập hợp các nhà phát triển
thường xuyên sử dụng UNIX, hướng tới mục tiêu là phát triển các công cụ tương tự như
của UNIX nhưng hoàn toàn tự do và mã nguồn mở. GCC (GNU C Compiler) là sản phẩm
đầu tiên, cho phép phát triển các sản phẩm khác, vi là chương trình soạn thảo thông dụng,
…và các sản phẩm khác
Năm 1988 các nỗ lực ủng hộ PMMNM (Phần mềm mã nguồn mở) đã hình thành
nguồn mở (ví dụ như GPL – General Public License) mà không cần xin phép ai, điều mà
họ không được phép làm với phần mềm nguồn đóng (tức là phần mềm thương mại).
2.1.1.2. Các thao tác trên phần mềm mã nguồn mở
Trên phần mềm, có thể thực hiện các thao tác:
Sản xuất phần mềm: Nghiên cứu nhu cầu của người sử dụng, thiết kế, coding,
compiling và releasing
Cài đặt phần mềm: Để có thể sử dụng, phần mềm cần được cài đặt. Cài đặt là
thao tác ghi các mã cần thiết cho việc thực hiện môi trường vào bộ nhớ thích hợp để
người sử dụng có thể sử dụng
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
20
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
Sử dụng phần mềm: Cài đặt và sử dụng phần mềm trên máy tính. Máy tính này
có thể là máy tính cá nhân, máy chủ, máy tính công cộng,…Tùy theo từng bối cảnh việc
sử dụng phần mềm có thể có các ràng buộc khác nhau (cài trên một máy, cài trên nhiều
máy, cài trên nhiều CPU,…). Các phần mềm có bản quyền thường bảo vệ việc sử dụng
phần mềm bằng serial key, active code và có những trường hợp bằng khóa vật lý.
Thay đổi phần mềm: Trong quá trình sử dụng có thể xuất hiện nhu cầu thay đổi.
Việc thay đổi này có thể được tiến hành bởi nhà tác giả sản xuất phần mềm, hoặc có thể
do một người khác. Để thay đổi tính năng phần mềm cần có mã nguồn của phần mềm.
Nếu không có mã nguồn có thể dịch ngược để thu mã nguồn từ mã thực hiện. Mã nguồn
phần mềm có thể được phân phối theo nhiều kênh khác nhau (mạng, lưu trữ, truyền tay,
lây nhiễm).
Các thao tác khác: Phân tích ngược mã nguồn, phân tích giao diện, mô phỏng,
thực hiện luân phiên,…Phần mềm được quản lý bởi các quy tắc về bản quyền và sở hữu
trí tuệ, cho phép thực hiện hoặc không thực hiện các thao tác nói trên trong các điều kiện
khác nhau.
Bản quyền phần mềm: Là tài liệu quy định việc thực hiện các thao tác trên phần
mềm. Có thể có các bản quyền phần mềm sở hữu, bản quyền cho phần mềm miễn phí /
phần mềm chia sẽ, bản quyền cho phần mềm tự do và mã nguồn mở.
bộ biên dịch. Shell nhận các câu lệnh từ người sử dụng, và gửi các câu lệnh đó cho nhân
thực hiện. Nhiều shell được phát triển, linux cung cấp một số shell như: desktops,
windows manager, và môi trường dòng lệnh. Hiện nay chủ yếu tồn tại 3 shell: Bourne,
Korn và C Shell. Bourne được phát triển tại phòng thí nghiệm, Bell và C Shell được
phát triển cho phiên bản BSD của Unix, Korn shell là phiên bản cải tiến của Bourne
Shell. Những phiên bản hiện nay của Unix, bao gồm cả Linux, tích hợp cả 3 shell trên.
Cấu trúc file quy định cách lưu trữ file trên đĩa. File được nhóm trong các thư mục.
Mỗi thư mục có thể chứa file và các thư mục con khác. Một số thư mục là các thư mục
chuẩn do hệ thống sử dụng. Người dùng có thể tạo các file/ thư mục của riêng mình
cũng như dịch chuyển các file giữa các thư mục đó. Hơn nữa, với Linux người dùng có
thể thiết lập quyền truy nhập file/ thư mục, cho phép hay hạn chế một người dùng hoặc
một nhóm truy cập file. Các thư mục trong Linux được tổ chức theo cấu trúc cây, bắt
đầu bằng thư mục gốc (root). Các thư mục khác được phân nhánh từ thư mục này
Kernel, shell và cấu trúc file cấu thành nên cấu trúc hệ điều hành. Với những thành
phần trên người dùng có thể chạy chương trình, quản lý file, và tương tác với hệ thống.
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
22
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
2.2.2. Giao tiếp trên môi trường Linux
Terminal: Khái niệm Terminal xuất hiện từ xa xưa khi các hệ thống máy tính rất
lớn, người sử dụng không tương tác trực tiếp với hệ thống mà thông qua các Terminal ở
xa. Các hệ thống Terminal này gồm màn hình và bàn phím, ngày nay do kích thước bé
đi nên các Terminal này chính là máy tính của người sử dụng.
Console: Ngoài ra hệ thống Linux nói chung hay các máy chủ dịch vụ của các hệ
điều hành khác nói riêng đều cung cấp cho người quản trị một giao diện Terminal đặc
biệt gọi là Console. Trước kia console tồn tại dưới dạng một cổng giao tiếp riêng biệt,
còn ngày nay dưới dạng một Console ảo cho phép mở cùng lúc nhiều phiên làm việc
trên một máy tính.
Trình soạn thảo vi: Chương trình vi là một chương trình soạn thảo mạnh mà gần
như chắc chắn được tìm thấy trên tất cả các hệ điều hành họ Linux, bởi kích thước và
nhau theo yêu cầu của người sử dụng, bổ sung thêm một tệp chứa danh mục và vị trí của
các tệp được gộp. Tệp chứa danh mục này được gọi là tệp thư mục. Về phần mình, tệp thư
mục cũng có thể được gộp vào với các tệp, khác để tạo thành thư mục.
Với cách nhóm tệp như vậy, trong hệ thống sẽ có 2 loại tệp cơ bản:
- Tệp thông thường chỉ chứa dữ liệu.
- Tệp thư mục chỉ chứa danh mục các tệp và các thư mục con nằm trong thư mục đó.
Các tệp và các thư mục kết hợp với nhau tạo ra một hoặc nhiều cây thư mục, trong
đó có các tệp thông thường là các nút lá. Nút gốc của các cây là các điểm cố định để từ
đó có thể truy cập được nút lá trong cây. Ở dưới HĐH Linux, các tệp và thư mục tạo
thành một cây duy nhất có thư mục gốc ký hiệu là / - (thư mục gốc). Các thư mục con
thường gặp của thư mục gốc là các thư mục:
- /bin: thư mục tệp chương trình cơ bản.
- /boot: thư mục chứa hạt nhân của HĐH.
- /etc: thư mục chứa tệp cấu hình.
- /dev: thư mục các tệp thiết bị.
- /home: thư mục chứa dữ liệu người sử dụng.
- /lib: thư viện hệ thống.
- /usr: thư muc ứng dụng.
- /var: thư mục dữ liệu cập nhật.
- /proc: thư mục chứa các dữ liệu của nhân hệ điều hành và BIOS.
Sinh viên: Lê Long Bảo – MM03A Trang
24
Ứng dụng OpenVPN trong bảo mật hệ thống mạng cho doanh nghiệp
Các tệp thư mục lưu trữ các thư mục con và tệp. Các thư mục con và tệp đều được
đặt tên. Giống như trong HĐH Windows, Linux cho phép tên tệp có thể dài đến 255 ký
tự, có thể bao gồm các ký tự đặt biệt.
Để truy cập được vào các thư mục và tệp, xuất phát từ các nút gốc truy cập vào các
thư mục con cho đến khi đến được tệp cần thiết. Tập hợp tên của các thư mục con từ nút
gốc đến tệp cần truy cập, phân cách các tên bằng dấu /, gọi là đường dẫn tuyệt đối đến
tệp. Trong mọi trường hợp, luôn luôn có thể dùng đường dẫn tuyệt đối để tham chiếu tới