đề tài vai trò của tri thức khoa học công nghệ đối với việc phát triển kinh tế ở việt nam - Pdf 12


Luận Văn
Đề Tài: Vai trò của tri thức khoa học công
nghệ đối với việc phát triển kinh tế ở Việt
Nam
1
Mục lục
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 3
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5
1. Nội dung lý luận triết học 5
2. Vai trò của tri thức khoa học công nghệ đối với việc phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay 12
III. KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
2
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế giới đã bước vào thế kỷ 21 với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
- công nghệ (KH - CN). Ngày nay KH - CN được ứng dụng rất nhiều vào cuộc
sống của con người. Đặc biệt, ứng dụng tri thức KH - CN trong phát triển kinh
tế là một hướng đi đúng.
Ở các nước phát triển hiện nay, nền kinh tế phát triển có ứng dụng tri
thức KH - CN. Đối với Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế
theo định hướng XHCN, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn trong 15
năm đổi mới vừa qua, song nền kinh tế vẫn còn kém phát triển so với các nước
khu vực và thế giới, đồng thời đang gặp phải những thách thức không nhỏ: đó
là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực do xuất
phát của Việt Nam quá thấp, lại phải phát triển trong môi trường cạnh tranh
quyết liệt. Sự khác biêt về trình độ công nghệ của Việt Nam so với các nước
phát triển là rất lớn, nhìn chung công nghệ nước ta tục hậu so với trình độ
chung của thế giới khoảng 3, 4 thập kỷ.
Quá trình CNH - HĐH dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động giữa các ngành, đặc biệt là sự chuyển lao động từ nông nghiệp sang

thiết hiện nay, và gắn chặt hơn nữa KH - CN với kinh tế xã hội.
4
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Nội dung lý luận triết học
a. Ý thức
Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực
thể độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức
đến mức coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật
chất. Còn các nhà triệt học duy vật đều thừa nhận vật chất tồn tại khách quan
và ý thức là sự phản ánh sự vật đó. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi quan niệm
siêu hình - máy móc nên họ đã coi ý thức là sự phản ánh sự vật một cách thụ
động, giản đơn, máy móc, mà không thấy được tính năng động sáng tạo của ý
thức, tính biện chứng của quá trình phản ánh.
Khách với các quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên
cơ sở lý luận phản ánh coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào
trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
Ý thức theo nghĩa thông thường theo một số quan niệm của khoa học
chuyên ngành, ý thức thờng được hiểu là tính có chủ ý. Nhưng theo nghĩa triết
học được hiểu theo nghĩa là toàn bộ những sự phản ánh tinh thần của con
người về thế giới khách quan. Phản ánh là năng lực, khả năng của một hệ
thống vật chất ghi nhận và tái hiện những đặc điểm, những tính chất của một
hệ thống khác. Phản ánh là nhiệm vụ phổ biến của một tổ chức.
Xét về cấu trúc ý thức bao gồm những yếu tố; tri thức, sự hiểu biết, tâm
lý, tình cảm, ý chí con người, lý tưởng, ước mơ con người. Trong đó nhân tố
tri thức là trung tâm bao hàm biểu hiện nhất định. Tri thức là nhân tố quan
trọng nhất của ý thức, bất cứ một hình thức phản ánh của ý thức chỉ là tồn tại
một khi trong nó có tri thức.
b. Bản chất của ý thức.
5
Theo Mac nói: “Ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ

C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993. t.23, tr. 35
6
học hết sức trìu tượng và khái quát cao. Những khả năng ấy càng nói lên tính
chất phức tạp và phong phú của đời sống tâm lý - ý thức ở con người mà khoa
học còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất của những
hiện tượng ấy.
Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho
nên quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người là quá trình
năng động sáng tạo thống nhất ba mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Sự trao
đổi này mang tính chất hai chiều, có định hướng, có chọn lọc các thông tin cần
thiết.
Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh
thần. Thực chất, đây là quá trình “sáng tạo lại” hiện thực của ý thức theo
nghĩa: mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.
Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thức khách quan, tức quá trình
hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm
thành cái thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng
vật chất ngoài hiện thực. Trong giai đoạn này, con người lựa chọn những
phương pháp, phương tiện, công cụ để tác động vào hiện thực khách quan
nhằm thực hiện mục đích của mình.
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng
tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ
của sự phản ánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần. Sáng
tạo và phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức. Ý thức là sjư phản ánh vào
chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động,
sáng tạo của bộ óc.
Ý thức là một hiện tượng xã hội. Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền
với hoạt động thực tiễn lịch sử, chịu sự chi phối không chỉ các quy luật sinh
học mà chủ yếu là của quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều

8
đồng thời đã xác định bộ óc của con người là một tổ chức sống đặc biệt có cấu
trúc tinh vi và phức tạp bao gồm khoảng 14-15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào
này có liên hệ với nhau và với các giác quan, tạo thành vô số những mối liên
hệ thu nhận, điều khiển hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên
ngoài qua các phản xạ không điều kiện và có điều kiện. Quá trình ý thức và
quá trình sinh lý trong bộ óc không đồng nhất, không tách rời, không song
song mà là hai mặt của một quá trình sinh lý thần kinh mang nội dung ý thức.
Khi khoa học - kỹ thuật tạo ra những máy móc thay thế cho một phàn lao động
trí óc của con người thì không có nghĩa là máy móc có ý thức như con người.
Máy móc là một kết cấu kỹ thuật do con người tạo ra, còn con người là một
thực thể xã hội. Máy không thể thay thế cho hoạt động trí tuệ của con người,
không thể sáng tạo lại hiện thức dưới dạng tinh thần trong bản thân nó như
con người. Do đó chỉ có con người với bộ óc của nó mới có ý thức.
Nhưng tại sao bộ óc con người - một tổ chức vật chất cao - lại có thể
sinh ra được ý thức? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải nghiên cứu mối liên
hệ vật chất giữa bộ óc với thế giới khách quan. Chính mối liên hệ vật chất ấy
hình thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào óc con người.
Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất. Phản ánh là
sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất
khác trong quá trình tác động qua lại của chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ
thuộc vào cả hai vật. (vật tác động và vật nhận tác động). Trong quá trình ấy,
vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động. Đây là điều
quan trọn để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Trong quá trình tiến hóa của thế giới vật chất. Các vật thể càng ở bậc
thang cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu.
Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh là
những phản ánh vật lý, hóa học. Những hình thức phản ánh này có tính chất
thụ động, chưa có định hướng sự lựa chọn. Hình thức phản ánh sinh học đặc
trưng cho giới tự nhiên sống là bước phát triển mới về chất trong sự tiến hóa

10
sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận
cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới
hạn đó ra, sự đối lập đó là tương đối
(1)
. Ý thức chính là đạc tính của một dạng
vật chất sống có tổ chức cao mà thôi.
 Nguồn gốc xã hội
Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan
trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ; điều kiện quyết định cho sự ra đời
của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. Ý thức ra đời cùng với quá
trình hình thành bộ óc con người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã
hội.
Lao động theo C.Mác, là một quá trình diễn biến giữa người và tự
nhiên, một quá trình trong đó bản thân con người đóng góp vai trò môi giới,
điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên. Lao
động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại. Lao động cung cấp
cho con người những phương tiện cần thiết để sống, đồng thời lao động sáng
tạo ra cả bản thân con người. Nhờ có lao động, con người tác ra khỏi giới
động vật. Một trong những sự khác nhau căn bản giữa con người với động vật
là ở chỗ động vật sử dụng các sản phẩm có sẵn trong giới tự nhiên, còn con
người thì nhờ lao động mà bắt giới tự nhiên phục vụ mục đích của mình, thay
đổi nó, bắt nó phục tùng những nhu cầu của mình. Chính thông qua hoạt động
lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh
được thế giới khách quan, mới có ý thức về thế giới đó.
Sự hình thành ý thức không phải là quá trình thu nhận thụ động, mà đó
là kết quả hoạt động chủ động của con người. Nhờ có lao động, con người tác
động và thế giới khách quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính,
những kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng
nhất định, và các hiện tượng ấy tác động vào bộ óc người, hình thành dần

2. Vai trò của tri thức khoa học công nghệ đối với việc phát triển kinh tế ở Việt
Nam hiện nay
a. Quan niệm về KH - CN
12
 Quan niệm về khoa học
Trong lịch sử phát triển tư duy của nhân loại có rất nhiều các quan niệm
khác nhau về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã
hội; mặt khác phụ thuộc vào trình độ nhận thức. Xét về phương diện xã hội,
khoa học là một hiện tượng xã hội có nhiều mặt, trong đó biểu hiện sự thống
nhất giữa những yếu tố vật chất và những yếu tố tinh thần. Về phương diện
triết học, khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc biêt. Đặc biệt, bởi vì
khoa học không chỉ phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội,
những chân lý của nó được thực tiễn xã hội kiểm nghiệm mà khoa học còn là
kết quả của quá trình sáng tạo logic, của trực giác thiên tài. Còn bởi vì, khoa
học (cùng với công nghệ) là những yếu tố ngày càng có vai trò đặc biệt quan
trọng của lực lượng sản xuất, quyết định trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất nói riêng, của phương thức sản xuất và của xã hội nói chung. Về phương
diện nhận thức luận, khoa học là giai đoạn cao của nhận thức - giai đoạn nhận
thức lý luận.
Ngày nay, quan niệm về khoa học được phổ biến với những đặc trưng
cơ bản sau dây:
- Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người
và về tư duy của con người. Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội
tại, bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy luật
khách quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá trình nhận thức
của con người từ trực quan sinh động, đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn, dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết, Như
vậy, tri thức khoa học không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực, mà còn
được kiểm nghiệm qua thực tiễn.

khai (trong tương quan với khoa học cơ bản), trong việc vận dụng các quy luật
tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh
thần ngày càng cao của con người.
14
Hai là, công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất
- kỹ thuật, hay đó là sự thể hiện cụ thể của tri thức khoa học đã được vật thể
hóa thành các công cụ, các phương tiện kỹ thuật cần cho sản xuất và đời sống.
Ba là, công nghệ bao gồm các cách thức, các phương pháp, các thủ
thuật, các kỹ năng có được nhờ dựa trên cơ sở tri thức khoa học và được sử
dụng vào sản xuất trong các ngành khác nhau để tạo ra các sản phẩm.
Ngày nay, trong thời địa của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới,
hay cách mạng thông tin công nghệ lần thứ năm, khi mà khoa học đang trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí tuệ con người đang giữ vai trò động lực
trực tiế và quyết định sự phát triển của công nghệ nói riêng, và xã hội nói
chung thì quan niệm về công nghệ, các thành phần cấu trúc của nó lại một lần
nữa có sự mở rộng và phát triển rất cơ bản.
b. Vai trò của tri thức KH - CN trong việc phát triển kinh tế ở Việt
Nam hiện nay
Công nghiệp hóa là con đường phát triển tất yếu của tất cả các nước trên
thế giới. Bởi vì, mục đích quan trọng nhất của công nghiệp hóa là phát triển
sản xuất xã hội, trước hết là phát triển lực lượng sản xuất, nhằm thỏa mãn các
nhu cầu ngày càng tăng của con người và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Ngày nay, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa. Sự gắn kết
chặt chẽ giữa công nghiệp hóa với hiện đại hóa hiện nay là sự đổi mới về chất,
là nhu cầu mới của sự phát triển xã hội và cũng là quy định mới của thời đại.
Điều này, trước tiên, được quyết định bởi sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng
của khoa học và công nghệ và vai trò ngày càng tăng của chúng đối với nền
sản xuất xã hội nói riêng, đối với toàn bộ đời sống xã hội nói chung. Trong
những giai đoạn phát triển trước đây của xã hội loài người, sản xuất còn tách
rời khoa học và công nghệ và thường là vượt trước sự phát triển của khoa học

tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và từ đó, trực tiếp đi vào sản
xuất và dịch vụ của xã hội. Bằng cách này, lực lượng sản xuất xã hội không
ngừng được bổ sung và đổi mới theo hướng gia tăng tính hiện đại, tiên tiến.
16
Ngày nay xu hướng vận động chung của lực lượng sản xuất hiện đại là
không ngừng thay thế dần các trang thiết bị kỹ thuật, các quy trình, hệ thống
công nghệ chưa hoàn thiện (cho năng suấtt thấp, tiêu hoa nhiều nguyên, nhiên
vật liệu, thải bỏ nhiều các chấy gây ô nhiễm môi trường v.v ) bằng những
thiết bị, những hệ thống công nghệ cao, công nghệ làm sạch, mang nhiều hàm
lượng tri thức. Điều này chỉ có thể thực hiện được bằng con đường phát triển
khoa học và công nghệ. Như vậy, khoa học và công nghệ đã thúc đẩy sự phát
triển của lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại, và đó là tiền đề, là cơ sở của
hiện đại hóa nền sản xuất xã hội, vì lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định
trong một phương thức sản xuất.
Con người với tri thức nghề nghiệp, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm
sản xuất là một yếu tố cực kỳ quan trọng của lực lượng sản xuất. Khoa học và
công nghệ cũng có vai trò to lớn, quyết định trong việc biến đổi yếu tố con
người trong lực lượng sản xuất theo chiều hướng hiện đại. Khoa học và công
nghệ đã đến với con người thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt động
thực tiễn, đã trang bị cho con người những tri thức lý luận và kinh nghiệm cần
thiết để họ có thể nhanh chóng vận hành tốt và thích nghi với các trang thiết bị
kỹ thuật hiện đại, tiên tiến trong sản xuất, cũng như có đủ năng lực giải quyết
những tình huống phức tạp, có vấn đề trong sản xuất và đời sống. Mặt khác,
sự thường xuyên đổi mới theo hướng hiện đại dần của các trang thiết bị kỹ
thuật, công nghệ trong sản xuất và đời sống đã buộc con người - với tư cách là
yếu tố của lực lượn sản xuất - phải luôn nỗ lực học tập, thường xuyên trau dồi
kiến thức, nghiệp vụ, chuyên môn để khỏi bị đào thải ra khỏi quá trình sản
xuất xã hội, để có thể nhanh chóng thích ứng với cuộc sống hiện đại. Chính
nhờ vậy mà trình độ và chất lượng của đội ngũ những người lao động không
ngừng được nâng cao và được hiện đại hóa theo đà phát triển của khoa học và

(1)
.
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành TW khóa VII.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.42
18
Vai trò nền tảng, động lực và then chốt của khoa học và công nghệ đối
với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng, đối với sự phát triển xã
hội Việt Nam nói chung, được biểu hiện trên những mặt cụ thể sau đây:
Một là, khoa học và công nghệ có vai trò quyết định trong việc trang bị
và trang bị lại các máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tiên
tiến cho nền sản xuất xã hội nói riêng, cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân
nói chung, nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng
cường sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế
giới, v.v với mục tiêu không ngừng cải thiện và nâng cao mức sóng của
người dân, sự phồn vinh và sức mạnh của xã hội Việt Nam. Đó là nhiệm vụ
đầu tiên, quan trọng nhất của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta hiện nay. Trên thực tế, nước ta đã tiến hành công nghiệp hóa từ
đầu những năm 60 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan, đặc biệt là chưa gắn kết được công nghiệp hóa với hiện đại
hóa, mà cho đến nay, lực lượng sản xuất của nước ta chủ yếu vẫn ở trong tình
trạng lạc hậu, các trang thiết bị, máy móc phần lớn là thủ công, thủ công bán
cơ giới. Nhìn chung, trình độ phát triển công nghệ nước ta, về cơ bản, chỉ mới
đạt ở giai đoạn 1 và 2 trong 7 giai đoạn phát triển công nghệ mà các nước
công nghiệp phát triển đã trải qua - đó là nhập công nghệ để thỏa mãn nhu cầu
tối thiểu (nhập toàn bộ hoặc nhập phụ tùng các trang thiết bị và cả dây chuyền
lắp ráp), và mới chỉ có tổ chức hạ tầng kinh tế ở mức tối thiểu để tiếp thu công
nghệ nhập. Do vậy, cả năng suất lao động và chất lượng các sản phẩm do nền
sản xuất xã hội tạo ra vẫn còn rất thấp so với mặt bằng chung của thế giới,
không đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và toàn cầu.

cơ sở để con người vươn lên tự toàn thiện về mọi mặt, đặc biệt là về năng lực
trí tuệ. Trước hết, thông qua quá trình giáo dục, đào tạo, khoa học và công
nghệ sẽ trang bị cho con người những tri thức khoa học và công nghệ cần thiết
để một mặt, giúp họ có thể am hiểu, sử dụng và khai thác một cách tích cực,
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà nội, 2001, tr.91
20
có hiệu quả những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, và mặt khác, có thể sáng tạo
ra công nghệ mới.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, tuy đã qua hơn 40 năm công nghiệp
hóa, nhưng nhìn chung, nền sản xuất, đặc biệt là lực lượng sản xuất vẫn còn
rất lạc hậu. Với gần 80% dân số là nông dân, 70% lao động là lao động nông
nghiệp, với cơ cấu nền kinh tế quốc dân đang hiện hành “nông nghiệp - công
nghiệp - dịch vụ”, với một truyền thống xã hội ít “trọng nông”, “trọng
thương”, v.v. đã và đang là những rào cản rất lớn đối với con người Việt Nam
trong việc tiếp cận với khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại. Hơn nữa,
tư duy kinh nghiệm - một lối tư duy truyền thống phổ biến - đã ăn sâu vào xã
hội Việt Nam từ bao đời nay. Không ai phủ nhận vai trò của tư duy kinh
nghiệm trong đời sống. Tuy nhiên, trên bình diện phát triển khoa học và công
nghệ hiện nay thì tư duy kinh nghiệm là không thể đủ, mà nhất thiết phải trang
bị tư duy lý luận, tư duy khoa học - công nghệ. Ph. Ăngghen đã từng viết:
“Một dân tốc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể
không có tư duy lý luận”
(1)
. Sự hạn chế về mặt tư duy lý luận là một điểm yếu
trong truyền thống dân tộc, mà ngày nay, chúng ta phải phấn đấu vượt qua
mới có thể tiếp thu và sáng tạo ra những tri thức khoa học và công nghệ hiện
đại, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Kho tri thức khoa học và công nghệ là vô tận và luôn đổi mới. Do đó,

làm ăn còn tiềm năng và triển vọng, đồng thời biết khép cửa lại, rút lui đúng
lúc khi tiềm năng trong lĩnh vực đó đã cạn kiệt v.v
Công nghệ thông tin đã chính thức đi vào nước ta khoảng hơn chục năm
nay và hệ thống thông tin khoa học - công nghệ quốc gia trải qua hơn 30 năm
hoạt động đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển khoa học và công
nghệ nói riêng, vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung. Tuy
nhiên, đối với nước ta, đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, còn rất nhiều
vấn đề phức tạp, nan giải và bất cập. Đặc điểm nổi bật của sự phát triển công
nghệ thông tin trong thời gian qua ở nước ta là chưa gắn kết được các giải
pháp công nghệ (việc trang bị các máy móc kỹ thuật công nghệ thông tin) với
(2)
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà nội, 2001, tr.91
22
các giải pháp về tổ chức quản lý, chuẩn hóa thông tin và với công tác đào tạo,
huấn luyện chuyên viên kỹ thuật, những người sử dụng, quản lý thông tin. Vì
vậy mà trong nhiều trường hợp, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại đã được
thiết lập đầy đủ, nhưng không vận hành được do thiếu thông tin, thiếu nhân
viên kỹ thuật. Cho đến năm 2000, nguồn nhân lực thông tin khoa học - công
nghệ nước ta vẫn còn quá mỏng và yếu kém, chưa đủ sức đáp ứng so với nhu
cầu thực tế. Số người làm công tác thông tin khoa học - công nghệ chuyên
nghiệp mới chỉ có 3000 người, trong đó, số người có trình độ đại học chiếm
66,3%, trên đại học chiếm 6,45%
(3)
.
Bốn là, khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng trong việc hoàn
thiện cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và xã hội. Nhiệm
vụ quan trọng của công tác tổ chức, quản lý là liên kết các yếu tố trang thiết bị,
máy móc kỹ thuật, con người và thông tin lại với nhau thành một tổ hợp vận
hành hợp lý, đồng điều nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định, mà ở đây là mục

sau. Phát triển lâu bền là “sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con người đi
đôi với nhiệm vụ bảo vệ các hệ sinh thái”
(1)
, nghĩa là phải hớng đến ba mục
tiêu cơ bản: 1. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và an toàn; 2. Mục tiêu xã
hội - nhân văn; 3. Mục tiêu bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi
trường sống, hay mục tiêu sinh thái. Do vậy, để có thể phát triển xã hội một
cách lâu bền, phải kết hợp một cách hài hòa, đầy đủ 4 yếu tố cơ bản: yếu tố
kinh tế, yếu tố con người (dân số), yếu tố môi trường, ính thái và yếu tố công
nghệ.
Nhiệm vụ trọng tâm của khoa học và công nghệ là cung cấp những
trang thiết bị kỹ thuật hiện đại thông qua các công nghệ cao, công nghệ sách
để con người khắc phục được những hậu quả tiêu cjư cdo chính những phương
tiện kỹ thuật chưa hoàn thiện trước đây gây ra (xử lý các chất thải độc hại,
phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên ); xây dựng những quy trình công nghệ
mới không có chất thải, những khu sản xuất liên hợp mà những chất thải cuối
(1)
Xem: Những nhân tố của sự phát triển bền vững. Thông tin chiến lược phát triển khoa
học, kỹ thuật, kinh tế, số 8, 1996
24
cùng của chúng có thể được các sinh vật khác sử dụng để đưa vào chu trình
sản học, v.v.
Là động lực và là cơ sở của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói
riêng, của sự phát triển xã hội nói chung, khoa học và công nghệ đang đóng gó
phần quyết định trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển lâu bền, đặc biệt
là mục tiêu xã hội - nhân văn.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status