HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA TUYÊN TRUYỀNTIỂU LUẬN
Môn: NGUYÊN LÝ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG I
Đề tài: NÂNG CAO CÔNG TÁC GIÁO DỤC VĂN HÓA
ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
HUYỆN BA VÌ
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Phạm Huy Kỳ
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Tuyển Thủy
Lớp : QLVHTT K29A1
HÀ NỘI, 6/2011
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng
sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam , kiên định mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí
tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết của cán bộ lãnh
đạo chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào. Kiên
định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan,
nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc.
Khẩn trương triển khai cụ thể hoá, thể chế hoá và tổ chức thực hiện có
hiệu quả Nghị quyết Đại hội XI. Gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn các nhiệm
vụ phát triển kinh tế và đạo đức cách mạng là trung tâm, xây dựng Đảng là
then chốt và phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã, đang diễn ra sâu
sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm thực hiện
thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện
lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ
trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội".
Trước tình hình đó, việc nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ,
lãnh đạo quản lý là việc cần thiết và cấp bách. Tình hình đạo đức cán bộ
lãnh đạo quản lý ở huyện Ba Vì cũng không nằm ngoài cái chung đó. Vì thế,
để góp phần nhỏ bé vào việc giải quyết vấn đề này tôi lựa chọn đề tài:
"Nâng cao giáo dục văn hóa đạo đức của người cán bộ-đảng viên ở huyện
Ba Vì hiện nay".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đạo đức đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng
đặc biệt quan tâm trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán
3
bộ, đảng viên. Nhiều bài viết, bài nói của Người đã trở thành những công
trình nghiên cứu về đạo đức cách mạng như:
- "Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng", Nxb Sự thật, Hà Nội 1976
- "Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng", Nxb Thông tin
lý luận, Hà Nội, 1986.
- "Hồ Chí Minh về đạo đức", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993.
Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã được một số tác giả nghiên cứu trên
cơ sở học tập đạo đức, phong cách làm việc của Người, đề xuất các giải
pháp xây dựng đạo đức mới:
- "Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh", Nxb Thông tấn, Hà Nội,
2004.
- "Đạo đức, phong cách, lề lối làm việc của công chức theo tư tưởng
Hồ Chí Minh", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1998 - Thang Văn Phúc chủ
biên.
- Giáo trình: "Đạo đức học Mác - Lênin" GS, TS Nguyễn Ngọc Long và
PGS. TS Nguyễn Thế Kiệt (Chủ biên) - Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh - Viện triết học - Nxb Lý luận chính trị Hà Nội 2004.
- "Kết hợp chặt chẽ giáo dục lý luận với xây dựng đạo đức mới của người
3. 2. Nhiệm vụ
- Tầm quan trọng và yêu cầu của đạo đức cách mạng ở cán bộ, đảng
viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam hiện nay.
- Làm rõ thực trạng đạo đức của người cán bộ, đảng viên ở huyện Ba Vì
hiện nay và nguyên nhân của thực trạng này.
- Đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đạo đức cách mạng của
cán bộ, viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở huyện Ba Vì.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4. 1. Cơ sở lý luận
Đề tài chủ yếu dựa vào quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về
đạo đức, đạo đức cách mạng, đạo đức của người cán bộ lãnh đạo quản lý.
5
Ngoài ra có tham khảo kế thừa các kết quả ở những công trình nghiên cứu
đã được công bố có liên quan đến nội dung của đề tài.
6
4. 2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó tư tưởng chỉ đạo và phương pháp
của đề tài là quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Đề tài sử dụng một số phương pháp cụ thể, trong đó chủ yếu là phương
pháp lịch sử - lôgíc, phương pháp phân tích điều tra xã hội học, phương
pháp so sánh.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
5. 1. Đối tượng
Đề tài tập trung nghiên cứu đạo đức, thực trạng các cán bộ, đảng viên ở
huyện Ba Vì.
5. 2. Phạm vi
Cán bộ, đảng viên huyện Ba Vì từ năm 2006-2011
6. Ý nghĩa của đề tài
hình thái ý thức xã hội, khái niệm văn hóa đạo đức rộng hơn và bao hàm cả
khái niệm đạo đức. Triết học quan tâm tới đạo đức như một hình thái ý thức
phản ánh đời sống đạo đức của xã hội, còn văn hóa đạo đức lại quan tâm tới
hệ giá trị chuẩn mực đạo đức của xã hội, tới hoạt động đạo đức của con
người thông qua hành vi đạo đức của mỗi cá nhân và cộng đồng cũng như
phẩm chất nhân văn của nền đạo đức xã hội biểu hiện ở bản than hệ giá trị-
chuẩn mực được đánh giá theo chuẩn tiến bộ nhất của dân tọc và nhân loại.
1. 1. 2. Các yếu tố cấu thành
1. 1. 2. 1. Giá trị đạo đức
Là một loại giá trị tinh thần được hình thành trong đời sống xã hội, thể
hiện qua các đạo lí, nguyên tắc, quy tắc đã được cộng đồng chấp nhận, lựa
8
chọn đáp ứng tối ưu nhu cầu duy tri sự ổn định, bền vững của cộng đồng
trong một thời gian nhất định.
1. 1. 2. 2. Chuẩn mực đạo đức
Cụ thể hóa các giá trị đạo đức, quy định về phép ứng xử của con người
trong đời sống xã hội, từng hoàn cảnh cụ thể với những khuôn mẫu bắt
buộc con người phải thực hiện.
1. 1. 2. 3. Hoạt động đạo đức
Hoạt động đạo đức là yếu tố cấu thành vô cùng quan trọng của văn hóa
đạo đức. Được quyết định bởi ý thức đạo đức và biểu hiện sinh động hành
vi đạo đức mà con người vận dụng trong các mối quan hệ của mình.
1. 1. 2. 4. Con đường giáo dục đạo đức
Để biến nhu cầu đạo đức của xã hội thành đạo đức cá nhân , cần tiến
hành giáo dục qua con đường trực tiếp và con đường gián tiếp.
Con đường trực tiếp là sự truyền đạt tri thức đạo đức trực tiếp cho đối
tượng giáo dục qua sự nhận thức trong quá trình giảng dạy tại nhà trường
và gia đình.
Con đường gián tiếp là con đường tác động đến đạo đức cá nhân của
đối tượng giáo dục thông qua việc tổ chức các phong trào cách mạng thực
nhau. Lòng nhân ái cũng là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Tình cảm
“thương người như thể thương thân”Lá lành đùm lá rách”…
1. 2. Sự cần thiết nâng cao công tác giáo dục đạo đức cho cán bộ,
đảng viên
Mỗi chế độ có hệ thống những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức riêng
để điều chỉnh hành vi của con người. Nhu cầu đạo đức xuất phát từ xã hội ,
nhưng biểu hiện đạo đức lại thông qua hành vi của cá nhân. Con người một
mặt bị ảnh hưởng bởi các truyền thống đạo đức cũ, mặt khác trong một môi
trường xã hội cụ thể và trình độ cụ thể của từng người cũng chi phối các
quan niệm và hành vi đạo đức của họ. Do đó để tất cả mọi người trong xã hội
đều có thể tiếp nhận và thực hiện các nguyên tắc, chuẩn mực chung, phải tiến
hành đạo giáo dục đạo đức. Trong điều kiện mới của nước ta hiện nay, giáo
dục đạo đức trở thành một nội dung quan trọng trong công tác tư tưởng.
10
Khi bàn về con người, C. Mac coi con người như là một hệ thống
những năng lực thể chất và năng lực tinh thần. Theo C. Mac, đạo đức của
con người thuộc về những năng lực tinh thần-những năng lực không thể
thiếu được, hơn nữa chính nhờ chúng mà những năng lực thể chất có sự
định hướng phát triển đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đề cao và
đánh giá rất đứng mức vai trò của đạo đức. Theo Người, nhân cách con
người bao gồm cả Đức và Tài, trong đó Đức là gốc, Tài là quan trọng. Như
vậy đạo đức là một yếu tố , một mặt của nhân cách cá nhân . Song, nhân
cách , nhân cách đạo đức cá nhân không tự nhiên mà có, nó do sự giáo dục
rèn luyện bền bỉ lâu dài mới có được.
Giáo dục đạo đức ở đây bao gồm cả sự giáo dục về phía xã hội và sự
tự giáo dục của mỗi cá nhân. Nếu như giáo dục từ phía xã hội sẽ giúp cho
mỗi cá nhân hình thành ý thức đạo đức thì sự tự giáo dục của bản thân mỗi
người sẽ giúp họ có khả năng điều chỉnh và duy trì thường xuyên các hành
vi đạo đức. Từ đó có thể thấy rằng giáo dục đạo đức là con đường cơ bản
nhất để hình thành văn hóa đạo đức cá nhân.
vậy mà con người có thể bất chấp tất cả vì lợi ích cá nhân. Sự thay đổi cơ
chế vận hành của nền kinh tế kéo theo sự thay đổi quan niệm về thang giá
trị đạo đức, biểu hiện coi trọng giá trị chính trị xã hôi sang chạy theo các
giá trị kinh tế vật chất;từ chỗ lấy con người xã hội , tập thể làm mẫu mực
chuyển sang quá nặng về con người cá nhân, thậm chí chủ nghĩa cá nhân…
Trước tình hình đó, vai trò của giáo dục đạo đức càng quan trọng , nó
trở thành một yếu tố không thể thiếu trong việc hinh thành và phát triển văn
hóa đạo đức cho cán bộ đảng viên.
12
Chương 2: Thực trạng vấn đề nghiên cứu công tác giáo dục
đạo đức huyện Ba Vì hiện nay
2. 1. Những yếu tố tác động tới công tác giáo dục đạo đức cho cán
bộ đảng viên huyện Ba Vì
2. 1. 1 Điều kiện tự nhiên
Địa lý
Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, trên địa bàn huyện
có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông
giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất. Phía Nam
giáp các huyện Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa
Bình (về phía Tây Nam huyện). Phía Tây và phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ,
với ranh giới là sông Đà (ở phía Tây) và sông Hồng (sông Thao) (ở phía
Bắc). Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, ranh giới là
sông Hồng. Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là
428, 0 km², lớn nhất Thủ đô Hà Nội. Huyện có hai hồ rất lớn là hồ Suối
Hai, và hồ Đồng Mô. Các hồ này đều là hồ nhân tạo và nằm ở đầu nguồn
sông Tích, chảy sang thị xã Sơn Tây, và một số huyện phía Tây Hà Nội,
rồi đổ nước vào sông Đáy. Trên địa bàn huyện có vườn quốc gia Ba Vì. Ở
ranh giới của huyện với tỉnh Phú Thọ có hai ngã ba sông là: ngã ba Trung
Hà giữa sông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc
giữa sông Hồng và sông Lô (tại các xã Tản Hồng và Phú Cường, đối diện
1975-78 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình. Từ năm 1978 đến năm 1991 thuộc thành
phố Hà Nội. Từ năm 1991 đến năm 2008 thuộc Hà Tây. Từ 1 tháng 8 năm
2008, Ba Vì là một huyện của Hà Nội.
14
2. 1. 2. Sự ảnh hưởng của đặc điểm con người Việt Nam
Trong lịch sử phát triển hàng ngàn năm của dân tộc, con người Việt
Nam đã tạo nên cho mình những đặc điểm xác định về tư duy và lối sống.
Làm rõ những đặc điểm ấy cùng cơ sở hình thành và biến đổi của chúng có
ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, đặc biệt trong bối cảnh đất nước đang đổi mới và hội
nhập quốc tế. Tuy nhiên, khi nghiên cứu đặc điểm về tư duy và lối sống
của con người Việt Nam hiện nay, chúng ta cần quan tâm một số vấn đề
sau đây.
Một là, đặc điểm về tư duy và lối sống của con người. Có hai góc độ
nghiên cứu về con người là góc độ sinh học và góc độ xã hội. Tương ứng
với hai góc độ đó, đặc điểm của con người sẽ bao gồm cả đặc điểm sinh
học và đặc điểm xã hội. Nói đến đặc điểm xã hội của con người trước hết
là nói đến đặc điểm về tư duy và lối sống. Nhưng tư duy và lối sống là gì?
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về hai khái niệm này. Tuy nhiên, khi
nghiên cứu về tư duy và lối sống của con người thì tư duy cần được hiểu
theo nghĩa rộng là hình thức phán ánh cao nhất chỉ có ở con người, bao
gồm ý nghĩ, ý thức, suy nghĩ, nếp nghĩ, tri thức, hiểu biết, quan niệm,
quan điểm, tư tưởng, nhận thức lý tính. Còn lối sống là phương thức hoạt
động của con người, bao gồm nếp sống, thói quen, phong tục, tập quán,
cách sống, cách làm, cách ăn, cách mặc, cách ở, cách sinh hoạt. Giữa tư
duy và lối sống có quan hệ mật thiết với nhau. Tư duy chỉ đạo hoạt động
của con người, làm cho hoạt động của con người khác với hoạt động của
các loài động vật khác. Thông qua việc nghiên cứu lối sống của một cộng
đồng người nào đó, chúng ta có thể nhận biết được tư duy của cộng đồng
người ấy. Ngược lại, lối sống cũng có ảnh hưởng đến tư duy, vì tư duy
1986 có những đặc điểm như ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước, coi
thường thuơng nghiệp, coi thường người buôn bán. Còn con người Việt
Nam từ 1986 đến nay không có hoặc về cơ bản không có những đặc điểm
ấy. Con người Việt Nam từ 1986 về trước không phải là con người Việt
Nam hiện nay
16
Bốn là, các đặc điểm chung và riêng về tư duy và lối sống của con
người Việt Nam. Trong số các đặc điểm về tư duy và lối sống của con
người Việt Nam không chỉ có những đặc điểm của riêng con người Việt
Nam, mà còn có những đặc điểm chung của con người Việt Nam với một
số hoặc tất cả dân tộc khác, những đặc điểm chung đó xuất hiện do người
Việt Nam tiếp thu học hỏi từ các dân tộc khác. Ví dụ, hệ tư tưởng và lối
sống Nho giáo là một đặc điểm về tư duy và lối sống của một bộ phận đáng
kể con người Việt Nam, đặc điểm này được du nhập từ người Trung Quốc.
Đương nhiên, đó là một đặc điểm chung của một bộ phận đáng kể người
Việt Nam và một bộ phận đáng kể người Trung Quốc. Các đặc điểm như
yêu nước, cần cù, hiếu học, khoan dung, đoàn kết, trọng nghĩa. . . cũng
là những đặc điểm chung của người Việt Nam và nhiều dân tộc khác.
Năm là, đặc điểm tích cực và đặc điểm tiêu cực về tư duy và lối sống
của con người Việt Nam hiện nay. Trong số các đặc điểm về tư duy và lối
sống của con người Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm tích cực và một
số đặc điểm tiêu cực. Chẳng hạn, trọng tình hơn lý (chín bỏ làm mười,
một trăm cái lý không bằng một tí cái tình) là một quan niệm sống của một
bộ phận đáng kể người Việt Nam hiện nay. Trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền, đây là một đặc điểm tiêu cực mà chúng ta cần ra sức
khắc phục. Bởi, nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi người đều phải sống và
làm việc theo pháp luật, nếu cái lý của pháp luật được thay bằng cái tình
cảm tính của con người thì pháp luật sẽ không còn có ý nghĩa.
Sáu là, đặc điểm bản sắc về tư duy và lối sống của con người Việt
Nam. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng
tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” Huyện Ba Vì đã đạt được một số thành tựu:
Năm 2007, đã thành lập Ban chỉ đạo cuộc vận động học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tổ chức sinh hoạt để phân công
trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên của Ban chỉ đạo. những năm tiếp
theo, tiếp tục tiến hành củng cố Ban chỉ đạo. ”. Ban chỉ đạo về học tập và
18
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của Huyện ủy đã triển khai thực
hiện các nội dung:
* Ban chỉ đạo đã triển khai tới 100% cán bộ, đảng viên tham gia nhiều
lớp học tập, quán triệt, thống nhất Kế hoạch thực hiện Cuộc vận động học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Sau đó, cho cán bộ và
Đảng viên học tập các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,
nghe kể các mẩu chuyện về thân thế và sự nghiệp của Bác, những tấm
gương và lời dạy của Bác về đức tính “ Cần – Kiệm – Liêm – Chính – Chí
công vô tư – Cho Đảng viên tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt, phối hợp
với Ban tuyên giáo Huyện ủy và Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Ba
Vì triển khai nhằm tuyên truyền về học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh.
* Triển khai cho toàn thể cán bộ đảng viên đăng ký học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào tháng 12/2009, đến tháng 10
năm 2010 thì tiến hành viết bài thu hoạch để đánh giá sơ kết quả 9 tháng
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí minh.
* Nhân dịp ngày thành lập Quân đội nhân dân 22-12 hằng năm,
huyện ủy luôn tổ chức cho cán bộ đảng viên nghe kể chuyện truyền thống
về ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, chuyện về anh bộ đội Cụ
Hồ qua lời kể của các Bác Cựu chiến binh của huyện.
19
* Tích cực kẻ vẽ các băng dôn, khẩu hiệu, pano áp phích tuyên
truyền về các nội dung như: “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
chuyển biến tích cực trong việc nắm bắt mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội
dung Cuộc vận động và 02 chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;
tự giác nêu rõ khuyết điểm, tồn tại, phương hướng rèn luyện, tu dưỡng
đạo đức, lối sống cá nhân.
2. 2. 2. Hạn chế và nguyên nhân
Nhận thức của một số ít Đảng viên, cán bộ về ý nghĩa Cuộc vận động
chưa đúng mức; còn hời hợt và chưa tích cực cao trong học tập.
Việc tổ chức học tập chất lượng chưa cao.
Một số cán bộ, Đảng viên với tinh thần đấu tranh phê bình, tự phê bình
chưa cao; chưa mạnh dạn góp ý; còn nể nang, ngại va chạm vì sợ mất lòng
nhau.
Việc xây dựng nội dung Xây và Chống của một số thành viên trong
đơn vị còn chung chung, chưa gắn với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị;
bài thu hoạch còn sao chép, chưa liên hệ đầy đủ những tồn tại, hạn chế
cũng như phương hướng và mốc thời gian khắc phục, sữa chữa về đạo đức,
lối sống cho từng cá nhân.
2. 3. Vấn đề đặt ra về công tác giáo dục đạo đức cho cán bộ đảng viên
huyện Ba Vì
2. 3. 1. Nhận thức của các chủ thể còn nhiều bất cập trong khi yêu cầu
hội nhập ngày càng cao
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Cách mạng là một nghề, nghề gì cũng
phải học, học lý luận Mác-Lênin, học văn hóa, học khoa học-kỹ thuật, học
ngoại ngữ… Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có học thức, phải có
văn hóa. Với mọi cán bộ, đảng viên, Người yêu cầu “vững về chính trị,
giỏi về chuyên môn” và “nghề nào cũng phải học, phải thông thạo”.
Hiện nay khi mà thời đại đã và đang tạo cho nhân loại thu được nhiều
thành tựu kỳ diệu trên các lĩnh vực thì những chân lý của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thành tựu do cuộc cách mạng khoa học-
21
công nghệ hiện đại đem lại chính là những thăng hoa của văn hóa, là đỉnh
yêu cầu, ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc vận động.
Chú trọng công tác tuyên truyền sâu rộng trong đơn vị Đảng bộ huyện
Ba Vì.
Cần phải đề cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu tổ chức; tăng
cường tham mưu cho cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo và tranh thủ sự quan tâm
của các ban ngành đoàn thể tạo điều kiện, phối hợp để tổ chức thực hiện
cuộc vận động đạt kết quả tốt.
23
Chương 3. Phương hướng và giải pháp công tác giáo dục đạo
đức cho các cán bộ, đảng viên huyện Ba
Vì
3. 1. Phương hướng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta xác định trong những
năm tới toàn Đảng tiếp tục thực hiện các nghị quyết về xây dựng Đảng,
nhất là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII về xây dựng, chỉnh đốn
Đảng. Nghị quyết Đại hội X chỉ rõ: "Tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo
đức lối sống, nâng cao tính tiền phong gương mẫu, phẩm chất và năng lực
của đội ngũ cán bộ, Đảng viên”. Trong điều kiện hiện nay để đội ngũ cán
bộ đảng viên của Đảng thật sự vững mạnh có đủ năng lực và phẩm chất
ngang tầm với bản chất cách mạng của một đảng cầm quyền trong sự
nghiệp đổi mới cần tập trung làm tốt những nội dung cơ bản sau:
Một là: mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự rèn luyện, tu
dưỡng về đạo đức lối sống thực hiện tốt tư tưởng của Hồ Chủ tịch cần
kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Chấp hành nghiêm túc điều lệ Đảng,
pháp luật nhà nước, gương mẫu giữ gìn phẩm chất đạo đức người đảng viên
cộng sản trong điều kiện và môi trường mới.
Hai là: Phải thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình theo
phương châm từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài và lấy ý
kiến của quần chúng trong cơ quan đơn vị và ý kiến của nhân dân trong khu
dân cư nơi cán bộ đảng viên cư trú góp ý kiến phê bình cán bộ đảng viên.
không chỉ yêu cầu nhận thức đúng về vai trò của đạo đức mà còn phải tạo
được sự thống nhất về nội dung của đạo đức mới.
Đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên là sự ứng xử với tổ chức, xã hội và
gia đình theo những nguyên tắc, những chuẩn mực nhất định. Đạo đức cách
mạng của mỗi cán bộ, đảng viên là ý chí quyết tâm thực hiện tốt đường lối,
chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên
trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình; hết lòng hết sức phục vụ
25