®¹i häc huÕ
nguyÔn v¨n thuËn - lª träng s¬n
®éng vËt häc
kh«ng x−¬ng sèng huÕ - 2004i
Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, khối kiến thức về động vật tăng thêm
và nhiều phát hiện mới đã làm thay đổi ít nhiều các quan niệm truyền
thống, chính vì vậy việc biên soạn giáo trình và cập nhật mới là điều rất
cần thiết.
Quan điểm biên soạn là nhằm phát huy năng lực tự học, tự tìm tòi,
tạo được niềm say mê nghiên cứu của sinh viên.
Về nội dung coi trọng tính cơ bản, hiện đại và thực tiễn.
Tính cơ bản được thể hiện khi lựa chọn nội dung các đối tượng
động vật để giới thiệu. Vừa đảm bảo cái “chung” đại diện cho một hay
một số ngành hay lớp, vừa đảm bảo cái “riêng” của đặc điểm cụ thể của
loài hay nhóm loài. Tính cơ bản này giúp cho người học giải quyết các vấn
đề thực tiễn liên quan đến một loài sinh vật trong tự nhiên.
Chương 1 - Mở đầu
Động vật học là một khoa học 1
Sự đa dạng của động vật 1
Sự phân bố của động vật 2
Sơ lược về phát triển của thế giới động vật qua các kỳ địa chất 2
Vị trí của động vật trong sinh giới và hệ thống học động vật 3
Chương 2 - Phân giới Động vật nguyên sinh (Protozoa)
Đặc điểm chung của Động vật nguyên sinh 7
Hệ thống học Động vật nguyên sinh 10
Ngành Trùng chân giả (Amoebozoa) 12
Ngành Trùng lỗ (Foraminifera) 15
Ngành Trùng phóng xạ (Radiozoa) 17
Ngành Trùng mặt trời (Heliozoa) 19
Ngành Động vật cổ (Archaezoa) 19
NgànhTrùng roi động vật (Euglenozoa) 21
Ngành Trùng roi giáp (Dinozoa) 25
Ngành Trùng roi cổ áo (Choanozoa) 26
Ngành Trùng bào tử (Sporozoa) 27
Ngành Trùng bào tử gai (Cnidosporozoa) 30
Ngành Trùng vi bào tử (Microsporozoa) 31
Ngành Trùng lông bơi (Ciliophora) 33
Quan hệ phát sinh của các nhóm Động vật nguyên sinh 37 312
Chương 3 - Trung động vật (Mesozoa) và Cận đa bào
(Parazoa)
313
Lớp Giun dẹp Có tiêm mao = Sán lông (Turbellaria) 77
Lớp Sán lá Hai vật chủ (Digenea) 81
Lớp Sán lá Một vật chủ (Monogenoidea) 86
Lớp Sán dây (Cestoida) 87
Phát sinh chủng loại ngành Giun giẹp 90
Ngành Gnathostomulida 92
Ngành Giun vòi (Nemertini) 93
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý 93
Đặc điểm sinh sản 95
Sinh thái, phân bố và đa dạng 97
Phát sinh chủng loại 97
Chương 6 - Các ngành Động vật có Thể xoang giả
(Pseudocoelomata)
Ngành Trùng bánh xe (Rotatoria) 99
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý 100
Sinh sản và phát triển 101
Phân loại 102
Phát sinh chủng loại 103
Ngành Giun bụng lông (Gastotricha) 104
Ngành Kinorhyncha = Echinodera 105
Ngành Giun tròn (Nematyhelminthes) 105
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý 106
Sinh sản và phát triển 110
Đa dạng, sinh thái và tầm quan trọng của giun tròn 111
Giun tròn và nguồn gốc nội ký sinh 115
Ngành Giun cước (Gordicea hay Nematomorpha) 116
Ngành Giun đầu gai (Acanthocephala) 117
315
Nguồn gốc và tiến hoá của Thân mềm 156
Chương 8 - Ngành Giun đốt (Annelida)
Đại cương về ngành Giun đốt 158
Hệ thống học Giun đốt 161
Lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta) 162
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý 162
Sinh sản và phát triển 167
Đa dạng và các đại diện 168
Sinh thái của Giun nhiều tơ 170
Lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) 170
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý 170
Sinh sản và phát triển 174
Phân loại, sinh thái và tầm quan trọng 175
Lớp Đỉa (Hirudinea)
176
Đặc điểm cấu tạo và sinh lý 176
Sinh sản và phát triển 179
Phân loại, sinh thái và tầm quan trọng 180
Nguồn gốc và tiến hoá của Giun đốt 180
Chương 9 - Ngành Chân khớp (Arthropoda)
Đặc điểm chung của ngành Chân khớp 183
Phân ngành Trùng ba thùy - Lớp Trùng ba thùy (Trilobita) 190
Phân ngành Có kìm (Chelicera) 192
Lớp giáp cổ (Paleostraca) 192
Lớp Hình nhện (Arachnida) 194
Ngành Echiurida 263
Ngành Sá sùng = Sâu đất (Spinculida) 264
Ngành Hình lưỡi (Linguatulida) 266
Ngành Có móc (Onychophora) 268 317
Ngành Mang râu (Ponogophora) 270
Chương 11 - Động vật Có miệng thứ sinh
(Deuterostomia)
Ngành Phoronida 274
Ngành Động vật Hình rêu (Bryozoa hay Ectoprocta) 274
Ngành Hàm tơ (Chaetognatha) 277
Ngành động vật Da gai (Echinodermata) 279
Đặc điểm chung của động vật Da gai 279
Sinh sản và phát triển của động vật Da gai 283
Hệ thống học động vật Da gai 285
Phân ngành Pelmantozoa - Lớp Huệ biển (Crinoidea) 285
Phân ngành Eleutherozoa - Lớp Sao biển (Asteroidea) 288
Lớp Đuôi rắn (Ophiuroidea) 293
Lớp Cầu gai (Echinoidea) 294
Lớp Hải sâm 297
Tầm quan trọng của động vật da gai 300
Phát sinh chủng loại của động vật Da gai 300
Chương 12 - Các bước phát triển tiến hoá cơ bản và
quan hệ phát sinh của động vật
Các bước phát triển tiến hoá cơ bản 304
cho việc xem xét mối quan hệ phát sinh giữa các nhóm động vật. Hiện nay
khi con người có các hoạt động đang làm thay đổi mãnh liệt môi trường
sống của nhiều loài động vật và trực tiếp đe doạ sự tồn tại của chúng thì
việc nắm vững kiến thức về động vật học là yêu cầu cấp thiết vừa bảo vệ
sự đa dạng của chúng vừa cần sử dụng chúng một cách hợp lý, đảm bảo sự
phát triển bền vững.
II. Sự đa dạng của động vật
Giới động vật rất phong phú và đa dạng. Số lượng loài động vật có
trên hành tinh rất khó xác định, chỉ có thể đưa ra con số gần đúng (khoảng
2 triệu loài). Tổng số loài động vật hiện có dự doán khoảng 5 – 10 triệu
loài, còn các loài đã tuyệt chủng phải lớn gấp 100 lần. Mặc dù vậy nhiều
nhà khoa học đã dự đoán số lượng động vật trên hành tinh lớn hơn nhiều,
riêng côn trùng đã có tới 30 triệu loài. Đối với các nhóm động vật có kích
thước cơ thể lớn như Bò sát, Chim, Thú… thì có khoảng 90% - 99% số
lượng loài đã phát hiện, còn nhóm động vật có kích thước bé như Nguyên
sinh động vật, Giun, Chân khớp… thì số lượng loài hiện đã biết rất nhỏ so
với số lượng loài chưa phát hiện. 2
Số lượng cá thể động vật có trên hành tinh cũng rất khó xác định,
nhất là đối với động vật nhỏ, có sức sinh sản nhanh. Tuy nhiên bằng bằng
các phương pháp chuyên môn, người ta có thể tính được số các cá thể
động vật (hay cả khối lượng động vật) trên một đơn vị diện tích hay thể
tích để có thể tính được số lượng cá thể ở trên vùng nghiên cứu.
III. Sự phân bố của động vật
động vật khá phong phú, chủ yếu sống dưới biển, đã xuất hiện động vật
Có xương sống nguyên thủy. 3 - Kỷ Silua (cách đây 410 triệu năm, kéo 3
dài 30 – 35 triệu năm) động vật Không xương sống chiếm ưu thế là Tay
cuốn, đã xuất hiện nhóm cá Có hàm (Gnathostoma), cuối kỷ này diễn ra sự
hình thành núi lửa làm cho nhiều nhóm động vật biển bị tiêu diệt. 4 - Kỷ
Devon (cách đây 410 triệu năm, kéo dài 55 – 60 triệu năm) có các nhóm
động vật Không xương sống ở biển điển hình như Tay cuốn, San hô, Chân
bụng…, trên lục địa có động vật Chân khớp phát triển mạnh nhất, cuối kỷ
này xuất hiện động vật Có xương sống Bốn chân (Tetrapoda). 5 - Kỷ
Cacbon (cách đây 340 triệu năm, kéo dài 60 – 70 triệu năm), động vật
Nguyên sinh phồn thịnh, động vật Ruột khoang, Chân đầu, tay cuốn phát
triển rất mạnh, Lưỡng cư khổng lồ thống trị, xuất hiện Bò sát nguyên thủy,
Côn trùng phát triển rất mạnh. 6 - Kỷ Pecmi (cách đây 285 triệu năm, kéo
dài 45 triệu năm) có nhiều ngành động vật Không xương sống phát triển
mạnh, xuất hiện Bò sát dạng thú.
Nguyên Đại Trung sinh: Cách đây 240 triệu năm, kéo dài 155 triệu
năm, chia làm 3 kỷ: 1 - Kỷ Triat (cách đây 240 triệu năm, kéo dài 40 – 45
triệu năm), đánh dấu một sự thay đỏi lớn về thành phần sinh vật, các nhóm
động vật điển hình trước đó không còn nữa như San hô cổ, Trùng Ba thuỳ,
Huệ biển cổ, động vật biển phổ biển là Cúc đá, San hô Sáu ngăn, Chân
rìu…, trên lục địa nhóm Bò sát khổng lồ thống trị. 2 - Kỷ Jura (cách đây
195 triệu năm, kéo dài 55 – 58 triệu năm) động vật biển phổ biển là Cúc
đá, San hô Sáu ngăn…, trên lục địa Bò sát khổng lồ thuộc nhóm Thằn lằn
kinh khủng (Dinosaura) làm bá chủ, xuất hiện Chim cổ và Bò sát có cánh.
3 - Kỷ Creta (cách đây 137 triệu năm, kéo dài 70 triệu năm) có động vật
Nguyên sinh cực thịnh ở biển, động vật Chân rìu phong phú, cuối kỷ này
Cúc đá và Bò sát khổng lồ bị tiêu diệt, Bò sát và Chim phát triển mạnh.
vật đa bào, nhưng đối với sinh vật đơn bào thì rất khó tách biệt và một số
nhóm có thể xếp vào giới này hay giới khác. Do đó một số nhà khoa học
đề nghị tách tất cả các nhân chuẩn đơn bào thành một giới riêng gọi là
Protista (Nguyên sinh vật) bao gồm sinh vật nhân chuẩn đơn bào, một số
nhóm tảo biển, nấm nhầy, nấm mốc… Cuối cùng Protista là một taxon tập
hợp tất cả các sinh vật không được xếp vào 4 giới (Vi khuẩn, Động vật,
Thực vật và Nấm). Quan niệm về Protista có mấy ý kiến sau:
Không coi Protista là một đơn vị phân loại đơn phát sinh mà cần
tách chúng thành các đơn vị phân loại bậc giới. Nâng các đơn vị phân loại
quen dùng lên một bậc cao hơn (như nâng Protozoa thành phân giới, nâng
Trùng roi, Trùng Chân giả, Giun bụng lông… thành các ngành riêng).
Sắp xếp lại một số nhóm có vị trí chuyển tiếp giữa Protista với động
vật, thực vật và nấm, Chẳng hạn tách Trùng roi thành 2 nhóm: Trùng roi
động vật gần với Protozoa còn Trùng roi thực vật là thành viên của tảo
lam có nguồn gốc chung với Thực vật
Tách các Protista không có ty thể trong tế bào thành một giới riêng
(Archaezoa) đại diện cho nhóm cổ hình thành từ giai đoạn tế bào chưa có
ty thể.
Mặc dù còn nhiều ý kiến về vị trí của một số nhóm động vật, tuy
nhiên chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại trong tài liệu này như sau:
Giới động vật (Animalia)
A. Phân giới Động vật nguyên sinh (Protozoa)
I. Động vật nguyên sinh có chân giả 5
Ngành Trùng chân giả (Amoebozoa)
Ngành Trùng lỗ (Foraminifera)
Ngành Trùng phóng xạ (Radiozoa)
Ngành Trùng mặt trời (Heliozoa)
6
Ngành Giun Bụng lông (Gastrotricha)
Ngành Kinorhyncha
Ngành Giun tròn (Nematyhelminthes)
Ngành Giun cước (Gordicea)
Ngành Giun đầu gai (Acanthocephala)
Ngành Entoprocta
Ngành Priapulida
Ngành Loricifera
c. Động vật có thể xoang chính thức (Eucoelomata)
Ngành Thân mềm (Mollusca)
Ngành Giun đốt (Annelida)
Ngành Chân khớp (Arthropoda)
Ngành Echiurida
Ngành Sâu đất (Sipunculida)
Ngành Đi êm (Tardigrada)
Ngành Hình lưỡi (Linguatula)
Ngành Có móc (Onychophora)
Ngành Mang râu (Pogonophora)
3.2.2 Động vật có miệng thứ sinh (Deuterostomia)
Ngành Phoronida
Ngành Entoprocta
Ngành Hàm tơ (Chaetognatha)
Ngành Tay cuộn (Brachiopoda)
Ngành Da gai (Echinodermata)
Ngành Nửa dây sống (Hemichordata)
Ngành Dây sống (Chordata)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
trạng thái lỏng (sol) sang trạng thái đặc (gel). Thường tế bào chất được
chia thành 2 lớp: Lớp ngoài quánh và đồng nhất (gọi là ngoại chất), lớp
trong lỏng hơn, dạng hạt (gọi là nội chất). Nội chất chứa nhiều cơ quan tử,
trong đó quan trọng nhất là nhân tế bào. Nhân tế bào có cấu tạo và thành
phần cơ bản giống với nhân của động vật bậc cao. Kích thước, lượng dịch
nhân, hình dạng và cách sắp xếp của nhân thường thay đổi tùy nhóm động
vật nguyên sinh khác nhau (hình 2.1).
Ngoại chất thường hình thành phía ngoài một màng mỏng gọi là
màng phim (pellicula), là một phần chất sống của cơ thể động vật nguyên
sinh. Ở một số động vật nguyên sinh, ngoại chất tiết ra trên bề mặt cơ thể
một lớp vỏ đặc biệt không có đặc tính của một màng sống mà là một loại
vỏ cứng được gọi là màng cuticula cứng bao quanh cơ thể. Vỏ này đôi khi
ngấm thêm SiO
2
, CaCO
3
, SrSO
4
để tăng khả năng bảo vệ và nâng đỡ cho
cơ thể. Ngoài ra một số động vật nguyên sinh còn có vỏ cơ thể cấu tạo
bằng chất cellulose rất điển hình như thực vật.
Các động vật nguyên sinh nhỏ nhất chỉ dài từ 2 - 4μm (họ
Pyroplasmidae), kích thước trung bình là 50 - 150μm. Tuy nhiên cũng có
một số động vật nguyên sinh có kích thước lớn từ vài mm đến vài cm
(Trùng cỏ Bursalia dài 1,5mm, Trùng Hai đoạn Porospora gigantea dài
khoảng 1cm, một số trùng có lỗ có đường kính vỏ đạt tới 5 - 6cm). 8
2. Hoạt động sinh lý
Đối với nhóm động vật nguyên sinh chưa có cơ quan tử vận chuyển
riêng biệt (như Trùng chân giả) thì vận chuyển bằng sự hình thành chân
giả. Đó là sự thay đổi trạng thái lỏng và quánh của tế bào chất. Một số
nhóm khác có cơ quan tử vận chuyển khá rõ ràng như roi (Trùng roi), lông
hay tơ (Trùng lông) thì vận chuyển bơi, lội trong nước.
Phần lớn động vật nguyên sinh là dị dưỡng, trừ Trùng roi có khả
năng tự dưỡng. Tiêu hoá của động vật nguyên sinh tiến hành trong tế bào 9
nhờ các không bào tiêu hoá. Cách bắt mồi của động vật nguyên sinh khác
nhau: Trùng Chân giả bắt mồi bằng chân giả, Trùng roi bằng sự di chuyển
của roi để đưa thức ăn và dưỡng khí vào, Trùng cỏ dùng chất độc của tế
bào chích làm tê liệt con mồi, Trùng hai đoạn bám vào ruột vật chủ để hút
dinh dưỡng
Bài tiết, điều hòa áp suất thẩm thấu của động vật nguyên sinh là các
không bào co bóp. Khi hoạt động chúng vừa thải các chất cặn bã vừa đẩy
lượng nước thừa ra ngoài để điều hòa áp suất thẩm thấu của tế bào. Nhờ
đó động vật nguyên sinh sống ở nước ngọt không bị phá vỡ cơ thể khi
nước từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào trong cơ thể (hình 2.2).
Hình 2.3 Sinh sản vô tính chia đôi của Động vật Nguyên sinh
A - C. Trùng chân giả (A: Amoeba proteus), B: Arcella, C: Euglypha);
D và E. Trùng có tơ (D: Stentor, E: Vorticella); F -H. Trùng roi (F: Euglena, G:
Chlamydomonas, H: Ceratium)
Sinh sản hữu tính biểu hiện ở mức độ thấp là sự hình thành các giao
tử giống nhau hay khác nhau (Trùng roi) hay có hiện tượng sinh sản hữu
tính bằng cách tiếp hợp (conjugation) ở Trùng cỏ. Hình thức xen kẽ giữa
sinh sản vô tính và hữu tính trong vòng đời có thể thấy ở Trùng bào tử.
Sinh sản vô tính tạo ra rất nhiều cá thể (ở một vật chủ) và sinh sản hữu
Theo quan điểm hiện nay thì phân giới Động vật Nguyên sinh
(Protozoa) được chia thành 4 nhóm lớn (liên ngành) và có 12 ngành.
Hình 2.4 Sơ đồ sinh sản xen kẽ của Trùng có lỗ Polystomella crispa (theo Lange)
I. Cá thể sinh sản hữu tính non; II. Cá thể sinh sản hữu tính trưởng thành; III. Hình
thành giao tử; IV. Giao tử kết hợp; V. Hợp tử; VI. Cá thể vô tính; VII. Cá thể vô tính
hình thành phôi của cá thể hữu tính
A. Động vật nguyên sinh có chân giả có 4 ngành: 1) Ngành Trùng
chân giả (Amoebozoa), 2) Ngành Trùng lỗ (Foraminifera), 3) Ngành
Trùng phóng xạ (Radiozoa), 4) Ngành Trùng mặt trời (Heliozoa).
B. Động vật nguyên sinh có roi bơi có 4 ngành: 1) Ngành Động vật 12
cổ (Archaezoa), 2) Ngành Trùng roi động vật (Euglenozoa), 3) Ngành
Trùng roi giáp (Dinozoa), 4) Ngành Trùng roi cổ áo (Choanozoa).
C. Động vật nguyên sinh có bào tử có 3 ngành: 1) Ngành Trùng bào
tử (Sporozoa), 2) Ngành Trùng bào tử gai (Cnidosporozoa), 3) Ngành Vi
bào tử (Microsporozoa).
D. Động vật nguyên sinh có lông bơi có 1 ngành là Ngành Trùng
lông bơi (Ciliophora)
1. Ngành Trùng chân giả (Amoebozoa)
Ngày nay đã biết khoảng 10.000 loài đang sống và số lượng lớn loài
hóa thạch nhờ vào cơ thể có lớp vỏ rắn bao bọc. Trong số đó có 80% số
lượng loài sống ở biển, còn lại là sống trong nước ngọt, đất ẩm hay sống
mặt của 2 loại protein là actin và
myosin giữ vai trò quan trọng
trong hoạt động cơ của động vật
đa bào và sự chuyển đổi qua lại
giữa 2 trạng thái sol và gel của
tế bào chất của amip. Khởi đầu
một tác nhân kích thích lên
màng tế bào, gây hóa mỏng
vùng ngoại chất đó, do sức ép
của ngoại chất xung quanh, nội
chất sẽ dồn về đó tạo thành chân
giả. Khi chân giả đủ lớn thì con
vật có thể di chuyển được một
đoạn ngắn theo cách kéo lê cơ
thể trên giá thể. Khi tế bào chất
chạy đến chóp chân giả thì
chúng bị đẩy sang một bên 13
và chuyển sang trạng thái gel hoàn toàn, tiếp đến sẽ hình thành vách tế bào
ở bộ phận đó. Vị trí hình thành, hình dạng của chân giả thường không cố
định trên cơ thể và sai khác nhau ở các loài khác nhau (hình 2.6).
14
nhập vào tế bào. Nước được dồn vào túi chứa của không bào co bóp và
từng lúc được tống ra ngoài, cân bằng lại áp suất cho tế bào. Khi nước
xâm nhập từ ngoài vào trong tế bào thì mang O
2
vào cho tế bào còn nước
tống ra mang theo chất thải và CO
2
ra khỏi cơ thể động vật nguyên sinh.
Đối với amip, khoảng cách giữa 2 lần co bóp của không bào co bóp là 1 -
5 phút tùy thuộc vào loài amip khác nhau và tùy thuộc vào nồng độ muối.
Động vật nguyên sinh sống ở biển và ký sinh trong cơ thể vật chủ không
có không bào co bóp.
Nhân của amip có cấu tạo điển hình của động vật có nhân chuẩn.
Nhân giàu dịch nhân, màng nhân có nhiều lỗ, giàu chất nhiễm sắc và hạch
nhân. Số lượng nhân thay đổi tùy loài. Ví dụ như ở loài Entamoeba coli có
8 nhân, Entamoeba histolytica có 4 nhân.
Một số Trùng chân giả có khả năng hình thành bộ xương làm nhiệm
vụ nâng đỡ cơ thể. Bộ xương là sản phẩm của tế bào chất, có nhiều hình
dạng khác nhau (hình sợi, hình ống, hình cầu, hình nấm, hình mặt trời ).
Thành phần hóa học của bộ xương có thể là kitinoit, SiO
2
, CaCO
3
,
SrSO
4
Ngoài ra còn gắn thêm cát, vụn đá, vỏ cây
Trùng chân giả có khả năng kết bào xác khi gặp điều kiện sống bất
lợi. Đó là quá trình co cơ thể lại, thải bớt nước và thức ăn ra ngoài, hình
Chúng ăn hồng cầu theo kiểu
thực bào và hình thành các vết
lở lóet trên thành ruột giống như
miệng núi lửa. Chúng tồn tại ở 2
dạng: Thể nhỏ (minuta) ít di
động và thể lớn (histolytica) rất
hoạt động và ăn nhiều hồng cầu.
Một số có thể theo máu vào gan,
gây áp xe gan. Bào xác hình
tròn, có đường kính khoảng 7 -
10μm, có 4 nhân. Mỗi ngày 1
người bệnh có thể thải ra 300
Hình 2.8 Một số amip có vỏ (theo Storer)
I. Difflugia pyrifarmis; II. Arcella vulgaris; III. Arcella dentata; IV. Lesquereusia
modesta; V. Centropyxis aculeata; VI. Difflugia corona; VII. Euglypha alveolata
hay sống đáy), có khoảng 1.000 loài hiện sống và khoảng 30.000 loài hoá
thạch. Trùng có lỗ có 3 đặc điểm chính sau:
Vỏ có cấu tạo đặc biệt, một ngăn hay nhiều ngăn (có tới 100 ngăn,
giữa các ngăn có lỗ nhỏ thông với nhau), xếp thành dãy hay xếp xoắn ốc.
Trùng có lỗ có lớp vỏ hữu cơ có liên kết với các hạt cát, trên vỏ có nhiều
lỗ nhờ đó mà chân giả thò ra ngoài. Một số Trùng có lỗ, vỏ của chúng có
ngấm thêm các muối vô cơ như CaCO
3
, SiO
2
, SrSO
4
vì vậy vỏ chắc và
nhẹ. Ở các loài Trùng lỗ sống nổi, vỏ của chúng có những gai dài mọc ra