LUẬN VĂN:
Cơ sở lựa chọn và trình tự hạch toán
các phương pháp tập hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm Lời nói đầu
Sau hơn mười năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những
bước chuyển biến khá vững chắc, quan hệ xản xuất đã được điều chỉnh phù hợp với
tinh chất, trình độ và yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Cơ chế thị trường cùng
với các chính sách chế độ của Đảng và nhà nước đã tạo cho các doanh nghiệp nhiều cơ
hội kinh doanh mới, nhưng cũng đặt ra không ít những khó khăn và thử thách phải
trực tiếp để tính toán chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá kết quả cuối cùng của hoạy động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tập hợp đầy đủ chi phí để tính toán chính xác
hợp lý, giá thành và giá bán sản phẩm nhằm đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp và
lợi ích cho người tiêu dùng đồng thời là một yêu cầu cấp thiết trong công tác kế toán
của doanh nghiệp.
Muốn vậy phải tập hợp chi phí đầy đủ và hạch toán đúng giá trị sản phẩm nhằm
đảm bảo tính đúng tính đủ tất cả các chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tính đúng nghĩa là đúng nội dung chi phí, tính đủ là đủ về lượng chi phí, đủ
các yếu tố chi phí. Việc xác định đúng và hạch toán chính xác chi phí sản xuất, giá trị
sản phẩm có tác dụng quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển ở doanh
nghiệp.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp còn chịu sự tác động của qui luật cạnh tranh nên việc phấn đấu hạ giá
thành sản phẩm, nâng cao khả năgn cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường là một
nhu cầu tất yếu đối với mọi doanh nghiệp. Xuất phát từ những vấn đề trên, việc hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
chính là một yêu cầu quan trọng của công tác kế toán trong doanh nghiệp.
II-/ Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
1-/ Chi phí sản xuất, phân loại và đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở doanh nghiệp.
1.1. Khái niệm chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao
động vật hoá mà doanh nghiệp chi ra trong một thời kỳ nhất định để tiến hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp sản xuất là sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Để sản xuất thì cần ba yếu tố cơ bản đó là:
-Tư liệu lao động (TLLĐ)
-Đối tượng lao động (ĐTLĐ)
(trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cáp lương: phản ánh toàn bộ số tiền lương
và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho công nhân viên chức.
- Yếu tố khấu hoa tài sản cố định: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất và kinh doanh trong kỳ.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài:phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài
phục vụ sản xuất kinh doanh
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa
được phản ánh vào các yếu tố dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Cách phân loại này có tác dụng rất lớn trong việc quản lý chi phí sản xuất. Nó
cho biết kết cấu tỷ trọng của từng yếu tố CPSX chiếm trong tổng số nhằm giúp cho
công tác phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán CPSX của doanh nghiệp. 1.2.2. Phân loại theo khoản mụch chi phí trong giá thành sản phẩm:
Theo quy định hiện hành, giá thành công xưởng sản phẩm ở Việt Nam bao gồm
ba khoản mụch chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính,
phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm toàn bộ chi phí về tiền công tiền trích quỹ
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở
các phân xưởng, cá tổ đổi sản xuất gồm(các khoản chi phí nhân viên phân xưỏng, chi
phí vật liệu cụ dụng cụ, chi phí khấu hao tài sản cố định sử dụng trong phân xưởng, chi
phí mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác phục vụ cho sản xuất chung ở doanh
nghiệp.
Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành sản phẩm toàn bộ thì chỉ tiêu giá thành còn
bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng.
1.2.3. Phân loại theo mối quan hệ với khối lượng công việc, sản phảm hoàn thành.
- Chi phí khả biến (biến phí ):là những chi phí thay đổi về tổng số và tỷ lệ so với
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống, lao
động vật hoá có liên quan đến khối lượngcông tác, sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành
hay giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho sản phẩm đã hoàn thành.
Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp huặc
gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái tạo sản xuất ở
doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của
doanh nghiệp. Do đó cần phải phân biệt rõ chi phí sản xuất và giá trị sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải tìm mọi cách
để tối thiểu hoá chi phí bỏ ra để hạ giá thành sản phẩm.về bản chất giá thành sản phẩm
là sự dịch chuyển giá trị của các. yếu tố chi phí vào những sản phẩm nhất định đã hoàn
thành. Giá tri sản phẩm có hai chức năng chủ yếu: Chức năng thước đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá. Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá mức độ bù đắp chi phí
và hiệu quả chi phí.
2.2. Các loại giá thành sản phẩm:
Để đáp ứng yêu cầu của việc quản lý, hach toán và kế họach hoá giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ,
nhiều pham vi góc độ khác nhau.
2.2.1. Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành gồm:
- Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào sản
xuất kinh doanh.
- Giá thành định mức: được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại
từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch.
- Giá thành thực tế : được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát
sinh và tập hợp được trong kỳ và sản lượng sản phẩm thực tế trong kỳ.
2.2.2. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán gồm:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi
phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng
sản xuất. bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
trên sổ kế toán. Do đó các tài khoản kế toán hàng tồn kho được dùng để phản ánh sổ
hiện có, tình hình biến động tăng giảm của vật tư, hàng hoá.Vì vậy vật tư hành hoá tồn
kho trên sổ kế toán có thể được xá định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán với độ
chính xác cao mặc dù khối lượng tính toán lớn.
Cuối kỳ kế toán căn cứ vào khối lượng kiểm kê thực tế vật tư hành hoá tốn kho
sánh đối chiếu với số liệu vật tư hàng hoá tồ kho trên sổ kế toán, về nguyên tắc số tồn
kho thực tế luôn phù hợp với số tồn kho trên sổ kế toán nếu có chênh lệch phải tìm
nguyên nhân và có biện pháp sử lý kịp thời. Như vậy khi áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên.doanh nghiệp theo dõi
được, tài khoản tình hình biến động của vật tư hàng hoá tồn kho, đồng thời có những
biện pháp sử lý kịp thời, đối với các trường hợp sai lệchđể từ đố đưa ra các quyết định
quản lý đúng đắn và khối lượng công việc kế toán được thực hiện một cách đều đặn
khôngbị dồn lại vào cuối kỳ.
2-/ Đối với phương pháp kiểm kê định kỳ:
Phương pháp này được hạch toán căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế đẻ phản ánh
giá trị hàng tồn kho cuối kỳ trên sổ kế toán tổng hợp và từ đó tính ra giá trị vật tư,
hàng hoá đã xuất ra trong kỳ. Do vậy khi áp dụng phương pháp này mọi biến động vật
tư hàng hoá không được theo dõi phản ánh trên các tài khoản tồn kho.giá trị vật tư
hàng hoá mua và nhập kho trong kỳ được theo dõi phản ánh trên một tài khoản riêng
(tài khoản mua hàng).còn tài khoản hàng tồn kho chỉ được sử dụng đầu kỳ hạch toán
(để kết chuyển số dư đầu kỳ), và cuối kỳ hạch toán (để kết chuyển số dư cuối kỳ).
Vì vậy áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho rất đơn giản, khối
lượng công việc kế toán được giảm nhẹ nhưng độ chính xác về mặt vật tư hàng hoá
xuất dùng cho các mục đích khác nhau bị ảnh hưởng của chất lượng công tác quản lý
tại kho quầy bãi.
Do đó phương pháp kiểm kê định kỳ thường được áp dụng ở các doanh nghiệp
có nhiều chủng loại vật tư, hàng hoá với quy cách mẫu mã rất khác nhau giá trị thập và
được xuất thường xuyên.
TK 152(611) TK 621 TK 154(331)
(1)
(3b)
(4)
TK 111, 112, 331 (2) TK 133
(1) - Trị giá nvl xuất dùng thực tế để trực tiếp sản xuất chế tạo sản phẩm.
(2) - Trường hợp mua NVL không nhập kho mà sử dụng ngay vào việc sản xuất
chế tạo sản phẩm hoặc thực hiênj lao vụ dịch vụ.
(3a) - Cuối tháng phản ánh số NVL chưa dùng hết nhập lại kho.
(3b) - Trường hợp có NVL chưa dùng hết nhưng để lại ở nơi sản xuất huặc ở
phân xưởng (không nhập lại kho)phải ghi bút đỏ).
(4) - Cuối kỳ phân bổ và kết chuyển chi phí NVL trực tiếp cho đối tượng.
2-/ Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp:
2.1-/ Khái niệm :
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho
công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Khoản mụch chi phí này bao gồm:
(1) Tiền công, tiền lương, các khoản phụ cấp, trợ cấp phải trả trực tiếp cho công
nhân sản xuất sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ trong kỳ.
(2) Trường hợp doanh nghiệp thực hiện trích trước tiên lương nghỉ phép theo kế
hoạch của công nhân trực tiếp sản xuất.
(3) Các khoản (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn) trích theo
lương của công nhân trực tiếp sản xuất.
(4) Cuối kỳ phân bổ và kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp cho các đối tượng.
3-/ Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung.
3.1-/ Khái niệm:
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm
sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những chi phí
phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bao gồm các khoản mục sau:
Chi phí nhân viên phân xưởng: Gồm tiền lương và các khoản tính theo lương
phải trả cho công nhân viên phân xưởng
Chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ: Gồm giá trị nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất
dùng cho sản xuất chung (bộ phận sản xuất phân xưởng, tổ đội sản xuất).
TK334
TK154(631
TK622
TK335
TK338(3382, 3383,
(1
(2
(4
(3
)
(5b) Đồng thời ghi tăng nguồn và khấu hao.
(6) Chi phí về dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác (6277)
(7) Các khoản giảm chi phí sản xuất chung (phế liệu thu hồi, vật tư xuất dùng
không hết )
(8) Cuối kỳ phân bổ và kết chuyển chi phí sản xuất chung cho các đối tượng chịu
chi phí
sơ đồ 3: hạch toán tống hợp chi phí sản xuất
TK 334, 338. TK 627 TK 111.112, 152 (1) (8)
TK 152(661)
(2)
TK 154(631)
TK 153(611)
(3)
TK1421 (9)
Dư nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang chưa hoàn thành.
Sơ đồ 4 - Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất.
TK621 TK154 TK155
(1) (4)
TK622 TK157
(2) (5)
TK632
(6) TK 627 TK152
(3) (7) TK1381
(8) TK1388
(9a)
(2) : Cuối kỳ kết chuyển chi phí NVL TT để tính tổng sản phẩm.
(3) : Cuối kỳ kết chuyển chi phí NC TT.
(4) : Cuối kỳ kết chuyển chi phí sản xuất chung.
(5) : Giá trị sản phẩm dịch vụ dở dang cuối kỳ.
(6) : Tổng giá thành sản xuất của sản phẩm dịch vụ hoàn thành nhập kho gửi bán
hay tiêu thụ trực tiếp.
Đối với doanh nghiệp áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn theo phương pháp
kiểm kê định kỳ thì sử dụng TK 631 - "giá thành sản phẩm" để tập hợp CPSX toàn
)
(6
)
Chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ không chỉ liên quan đến những công việc
sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ mà còn liên quan đến cả những sản phẩm, công việc
đang còn sản xuất dở dang nữa. Vì thế, đánh giá sản phẩm dở dang là một công việc
cần thiết.
Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất mà sản
phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu. Việc đánh giá sản phẩm dở dang hợp lý có ý nghĩa quyết
định đến tính chính xác của giá thành sản phẩm. Để đánh giá sản phẩm dở dang phải tiến
hành kiểm kê, xác định số lượng sản phẩm làm dở thực tế.
Doanh nghiệp có thể áp dụng một số phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
sau đây:
1-/ Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVL chính.
Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính toán phần chi phí
NVL trực tiếp, còn chi phí NC TT và chi phí sản xuất chung tính cả cho thành phẩm
theo công thức sau:
Dck = Error!
Dck, Ddk: Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ, đầu kỳ.
Cn: Chi phí NVL TT phát sinh trong kỳ.
Stp: Số lượng thành phẩm
Sd: Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Tuỳ theo từng doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp tập hợp chi phí NVL trực tiếp
thành các khoản mục chi phí người ta chỉ tính chi phí NVL chính cho sản phẩm dở
dang cuối kỳ. Nếu doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp chế biến liên
tục gồm nhiều giai đoạn công nghệ thì sản phẩm dở dang ở giai đoạn công nghệ đầu tiên
xuất tương đối đồng đều nhau có thể vận dụng tỷ trọng hoàn thành chung của sản
phẩm dở dang là 50% để tính phương pháp này còn gọi là phương pháp tính 50%.
3-/ Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức: Theo phương pháp này kế toán căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang đã kiểm
kê và định mức từng khoản mục chi phí ở từng công đoạn sản xuất cho từng đơn vị sản
phẩm để tính chi phí định mức của khối lượng sản phẩm dở dang của từng công đoạn,
sau đó tập hợp lại cho từng loại sản phẩm. Công thức tính:
- Đối với chi phí NVL trực tiếp:
Dck = Error!
- Đối với chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Dck = Error!
đmi: Định mức chi phí sản xuất thứ i
Qdj: Khối lượng sản phẩm dở dang của giai đoạn j
Q'dj: Khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương của giai đoạn j
Phương pháp này áp dụng thích hợp với những sản phẩm đã xây dựng được định
mức chi phí sản xuất hợp lý hoặc đã thực hiện phương pháp tính công thức theo định
mức.
D-/ Cơ sở lựa chọn và trình tự hạch toán các phương pháp tính giá thành sản
phẩm.
Trên cơ sở các phương pháp chung để tính giá thành sản phẩm, kế toán cần lựa
chọn và áp dụng vào từng loại hình doanh nghiệp cho phù hợp với đặc điểm tổ chức
sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ cũng như vào đối tượng hạch toán chi phí. Sau
đây là phương pháp tính giá thành sản phẩm áp dụng trong một số loại hình doanh
nghiệp chủ yếu:
1-/ Phương pháp tính giá thành đơn giản (Phương pháp trực tiếp)
Theo phương pháp này. Chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp vào sổ chi phí.
Sổ này được mở chung cho cả quá trình công nghệ và chi phí phát sinh được tập hợp
theo từng khoản mục.
3. 1 + 2
4. Phát sinh giảm chi phí
5. Giá trị sản phẩm dở dang
trong kỳ