LUẬN VĂN:
Kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
đặt vấn đề
Qua 15 năm đổi mới thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH và Chiến lược ổn định đất nước 10 năm ( 1991-2000) dưới sự lãnh đạo
của Đảng, toàn Đảng và toàn dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách đạt được
những thành tựu to lớn và rất quan trọng.
triển qua những phương thức sản xuất khác nhau. Kinh tế thị trường là giai đoạn phát
triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng đã trải qua giai đoạn phát triển. Giai đoạn thứ
nhất là giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường. Giai
đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển kinh tế thị trường tự do. Đặc trưng quan trọng của
giai đoạn này là sự phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do Nhà nước không can
thiệp vào hoạt động kinh tế. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại.
Đặc trưng của giai đoạn này là Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường và mở rộng
giao lưu kinh tế với nước ngoài. Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường
thông qua việc xây dựng các hình thức sở hữu Nhà nước, các chương trình khuyến
khích đầu tư và tiêu dùng, cùng với việc sử dụng các công cụ kinh tế như tài chính, tín
dụng, tiền tệ, … để điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Sự phối hợp giữa Chính phủ và
thị trường trong một nền kinh tế hỗn hợp nhằm bảo đảm sự phát triển có hiệu quả của
những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh.
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá tự phát sẽ “hàng ngày,
hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản” (nói theo cách nói của VI.Lê-nin) và sự phát triển của
kinh tế thị trường trong lịch sử diễn ra đồng thời với sự hình thành và phát triển cuả
chủ nghĩa tư bản, nhưng tuyệt nhiên kinh tế thị trường không phải là một chế độ kinh
tế - xã hội. Kinh tế thị trường là hình thức và phương pháp vận hành kinh tế. Các quy
luật của thị trường chi phối việc phân bổ các tài nguyên, quy định sản xuất cái gì, sản
xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất. Nó là
phương thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển. Sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường
theo quy luật giá trị đòi hỏi các chủ thể sản xuất kinh doanh không ngừng đổi mới ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường
là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội phát triển khoa học công nghệ mới và
ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh. Sự phát triên của kinh tế thị trường
gắn liền với quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại, của khoa học kỹ thuật,
kinh tế và xã hội, cải thiện đời sông của nhân dân là mục tiêu hàng đầu trong việc
khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh.
Hai là, chủ động đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, kinh
tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã. Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo cùng với
kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng. Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các
nhà kinh tế tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài. Mở rộng các hình thức liên doanh,
liên kết giữa kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế khác cả ở trong và ngoài
nước.
Ba là, xác lập củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong nền
sản xuất xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngày càng tốt hơn.
Bốn là, thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động
và hiệu quả kinh tế làm chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp của các
nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã
hội. Thừa nhận sự tồn tại lâu dài các hình thức thuê mướn lao động nhưng không để
biến thành quan hệ thống trị, dẫn đến sự phân hoá xã hội thành hai cực đối lập phân
phối và phân phối lại hợp lý các thu nhập, khuyến khích làm giầu hợp pháp đi đôi với
xoá đói , giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quá đáng về mức sống và trình độ
phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư. Năm là, tăng cường quản lý vĩ mô của nhà nước khai thác triệt để vai trò tích cực
đi đôi với khắc phục và ngăn ngừa hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường. Đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật của mỗi doanh
nghiệp và cá nhân không phân biệt thành phần kinh tế.
Sáu là, giữ vững độc lập, chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong
quan hệ kinh tế với bên ngoài.
2.2 Những nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có những nội dung cơ bản sau:
Nghiên cứu dưới góc độ quân điểm toàn diện chúng ta nhận thấy rằng một mặt kinh tế
thị trường làm cho cạnh tranh kết thúc đẩy khoa học phát triển, tiếp thu được những
công nghệ và bí quyết mới. Nhưng mặt khác cũng làm cho hàng loạt các xí nghiệp,
doanh nghiệp bị phá sản.
Về mặt tích cực.
Kinh tế thị trường tạo ra được những con người năng động, quyết đoán có được
kinh nghiệm sau những lần cạnh tranh thắng lợi hay thất bại của mình nhằm.
+ Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nâng cao năng suất lao động xã hội.
+ Đẩy mạnh quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất.
+ Đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất.
+ Kích thích nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, hàng hoá dịch vụ dồi
dào và luôn được cải tiến.
+ Tăng tính năng động và điều chỉnh của nền kinh tế. + Thúc đẩy tiêu dung đổi mới công nghệ.
+ Nâng cao năng lực quản lý.
Về mặt tiêu cực và hạn chế.
+ Phân hoá giầu nghèo- phân hoá giai cấp.
+ Sự phát triển mù quáng của các doanh nghiệp riêng lẻ tất yếu dẫn đến khủng hoảng
chu kỳ, triệt tiêu lẫn nhau và thất nghiệp.
+ Động cơ săn đuổi lợi nhuận tối đa luôn gắn liền với những thủ đoạn không lành
mạnh: đầu cơ, buôn lậu và lối sống duy vật chất xem thường truyền thống và các
chuẩn mực đạo đức xã hội.
+ Giá cả hình thành tự do trên thị trường tự nó không phải lúc nào cũng phản ánh đúng
quan hệ giá trị do: độc quyền của những doanh nghiệp lớn và nước lớn trong việc
khống chế mức lưu thông và giá cả, đầu cơ nâng cao giá hoặc bán phá giá.
+ Đạo đức và bản sắc dân tộc.
3. Vai trò của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với công cuộc xây dựng
XHCN ở Việt Nam.
thời đại hiện nay.
II. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong những
năm đổi mới thực trạng và phương hướng giải quyết.
1.Quan điểm của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đảng ta không coi cơ chế thị trường là liều thuốc vạn năng và khuyến khích phát
triển với bất cứ giá nào. Nếu tuyệt đối hoá nền kinh tế thị trường thì sẽ rơi vào một sai
lầm nguy hiểm từ phía khác. Bởi vì kinh tế thị trường vốn có những hạn chế, khuyết
tật, có tính tự phát bướng bỉnh và sự cạnh tranh quyết liệt; nó là môi trường thuận lợi
để phát sinh nhiều tiêu cực và tệ nạn xã hội. Thực tế những năm qua, việc áp dụng cơ
chế thị trường bên cạnh những mặt tích cực chúng ta phải trả giá không ít hiện tượng
tiêu cực như: lối làm ăn chạy theo lợi nhuận đơn thuần đãn đến lừa đảo, hối lộ, chốn
thuế, thương mại hoá tràn lan, làm cho giá trị đạo đức tinh thần đảo lộn và xuỗng cấp
nhanh, lối sống ích kỷ thực dụng thấp hèn có nguy cơ tái phát Bản chất chế độ mới không cho phép tồn tại những hiện tượng như vậy. Đảng ta
vạch rõ nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang áp dụng phải là nền kinh tế có sự
quản lý, hướng dẫn, điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN. Sự quản lý của
nhà nước đảm bảo cho kinh tế thị trường phát triển đúng đắn, chăm lo lợi ích của nhân
dân, vì con người, do con người, thực hiện công bằng xã hội, đồng thời tạo điều kiện
và môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ và xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật. Đảng chủ trương phát triển kinh tế thị trường nhưng
không để cho nó vận động một cách tự phát, mù quáng, mà phải lãnh đạo, hướng dẫn,
điều tiết, phát huy mặt tích cực , hạn chế mặt tiêu cực, vì lợi ích của đại đa số nhân dân
lao động, vì một xã hội công bằng văn minh. Đảng Cộng sản – là Đảng phấn đấu cho
lý tưởng XHCN và Cộng sản chủ nghĩa, thực sự đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp
cộng nhân và nhân dân lao động. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định nhất
đảm bảo định hướng XHCN của kinh tế thị trường cũng như toàn bộ sự phát triển của
đất nước ta. Vả chăng, trong suốt thời gian qua chính Đảng ta chứ không ai khác đã đề
xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mơí ở Việt Nam. Trách nhiệm của Đảng là phải lãnh
làm cho nền kinh tế sống động hơn, các hoạt động kinh doanh, dịch vụ sôi động hơn,
bộ mặt thị trường thay đổi nhộn nhịp hơn. Có thể nói, một trong những thành tựu nổi
bật về đổi mới kinh tế trong những năm nay là chúng ta đã bước đầu chuyển được nền
kinh tế từ chỗ mang nặng tính hiện vật, tự cung tự cấp với cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước. Điều này mọi người, mọi nhà đều cảm thấy được, bạn bè trên
thế giới thấy rất rõ. Ví dụ như: trong giai đoạn 1986 – 1990 đầu tư toàn xã hội trung
bình là 12,5% GDP, tăng trưởng kinh tế trung bình là 3,9%, kim ngạch xuất khẩu bình
quân đạt 1,3 tỷ USD/năm, về lạm phát năm 1986 là 774,7% đến năm 1990 giảm xuống
còn 67,1% (nguồn: Tổng cục thống kê).
2.2 Giai đoạn từ 1991-2000.
Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát hơn vấn
đề kinh tế thị trường. Đại hội cho rằng phát triển “Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước là hoàn toàn cần thiết để
giải phóng và phát huy được các tiềm năng sản xuất trong xã hội”. Trong chiến lược
ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 và Báo cáo chính trị tại Đại hội đã
nêu rõ: thị trường ở nước ta bao gồm cả thị trường hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ và thị trường các yếu tố sản xuất (vốn, tiền tệ, ngoại hối …) cả thị trường tư liệu sản xuất và
thị trường sức lao động, thị trường trong nước và thị trường ngoài nước. Thị trường
đóng vai trò trực tiếp hướng dẫn các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực hoạt động, mặt
hàng, quy mô, cộng nghệ và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả
cao nhất trong môi trường hợp tác và cạnh tranh. Phải phấn đấu để sớm hình thành thị
trường hoàn chỉnh thông suốt, gắn hệ thống giá nội địa với giá quốc tế, xoá bỏ độc
quyền và đặc quyền ở hầu hết các ngàng và lĩnh vực kinh tế.
Trong 5 năm đầu ( 1991-1995) tuy nền kinh tế vẫn đứng trước nhiều khó khăn,
thử thách, nhưng việc triển khai mạnh mẽ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, phù
hợp với nguyện vọng của nhân dân đã tạo ra nhiều động lực phát triển mới, hầu hết
các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm được hoàn thành vượt mức và toàn diện mà
ta gặp nhiều khó khăn, thách thức: những yếu kém vốn có của nền kinh tế, những đợt
thiên tai lớn liên tiếp, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực Châu á, tình hình
thế giới và khu vực diễn biến phức tạp. Trong hoàn cảnh đó, toàn Đảng và toàn dân ta
ra sức thực iện Nghị quyết Đại hội VIII, đạt được những thành tựu quan trọng: tổng
GDP tăng trưởng bình quân 6,7%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân
12,2%/năm, giá trị các hàng dịch vụ tăng 6,4%/năm, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt
cao nhất từ trước đến nay: khoảng 50 tỷ USD, tăng bình quân 18,6%/năm (nguồn: văn
kiện Đại hội Đảng IX). Bên cạnh những thành tựu còn những yếu kém, khuyết điểm:
nhịp độ tăng trưởng kinh tế mấy năm đầu chậm ( năm 1996 9,3%, năm 1999; 4,8%,
sáu tháng đầu năm 2000; 6,2%) một số chỉ tiêu đề ra không đạt ( nhịp độ tăng trưởng
GDP kế hoạch đề ra là 9 – 10% nhưng chỉ đạt 6,7%/năm).
Mặc dù có nhiều khó khăn, thử thách gay gắt, bị thiệt hại lớn do thiên tai liên tục
xảy ra, nhưng nhìn chung việc thực hiện chiến lược ( 1991 – 2000) đã đạt được những
thành tựu to lớn và rất quan trọng: tổng sản phẩm trong nước sau 10 năm tăng gấp đôi,
tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể đến năm 2000 đạt 25% GDP, tốc
độ tăng trưởng kinh tế trung bình 7,5%/năm ( nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư).
Từ tình trạng khan hiếm, sản xuất không đáp ứng được nhu cầu thiết yếu nay đã
đảm bảo lương thực, thực phẩm nhiều loại tiêu dùng có dự trữ kết cấu hạ tầng kinh
tế phát triển nhanh, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế các thành
phần kinh tế phát triển khá nhanh. Từ chỗ bị bao vây kinh tế, nước ta đã chủ động tranh thủ thời cơ từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới, thu hút đáng kể
đầu tư trực tiếp và nguồn tài trợ chính thức của nước ngoài. Mặt khác trình độ dân trí,
chất lượng nguồn nhân lực và tính năng động trong xã hội được nâng cao, đời sống
của tầng lớp nhân dân được cải thiện.
3. Tính toàn diện trong phương hướng phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta.
3.1 Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường.
Thị trường là sản phẩm tất yếu của sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá càng
toàn dân, không phải của tư nhân, không cho phép việc mua bán đất đai, thực hiện tốt
đúng luật đất đai, xác định đúng giá các loại đất đai để sử dụng có hiệu quả. Chăm lo
giải quyết vấn đề nhà ở cho nhân dân ở những vùng đô thị phát triển, khuyến khích
các thành phần kinh tế tham gia xây dựng và kinh doanh nhà ở theo sự hướng dẫn và
quản lý của nhà nước.
3.2 Phát triển các thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX khẳng định: các thành phần kinh tế kinh doanh
theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng
trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Đối với các thành phần kinh tế cụ thể Đảng ta có những chủ trương phát triển như
sau:
Một là, kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật
chất quan trọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ nêu gương về năng suất chất lượng hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành
pháp luật.
Hai là, kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác
xã là nòng cốt. Phát triển hợp tác xã hộ kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành. Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học kỹ thuật, trong
khi mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hộ trợ phát triển hợp tác xã, giải quyết nợ
tồn đọng. Khuyến khích tích luỹ và phát triển có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã.
Ba là, kinh tế cá nhân tiểu thủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài.
Nhà nước tạo điều kiện giúp đỡ để phát triển: khuyến khích các hình thức tổ chức hợp
tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.
Bốn là, kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những
ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh
Ba là, khởi xướng hướng dẫn và hỗ trợ mọi nỗ lực phát triển thông qua các công cụ
quản lý vĩ mô: pháp luật, công cụ kế hoạch hoá để định ra các chiến lược phát triển,
các cộng cụ của chính sách tài chính tiền tệ để kích thích kinh tế phát triển theo mục
tiêu kế hoạch.
Bốn là, thực thi các chính sách xã hội, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội. Tuy
không phải là chức năng quản lý trực tiếp của nhà nước, song nó đặc biệt quan trọng
vì góp phần ổn định xã hội, ổn định kinh tế, thực thi chiến lược con người tạo ra động
lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển.
3.4 Nâng cao phẩm chất và năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Năng lực và phẩm chất cán bộ là một trong những nhân tố quyết định sự thành
bại của cách mạng. Nhận thức được tầm quan trọng đó trong suốt quá trình lãnh đạo
của mình Đảng ta đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã luôn quan tâm đến công tác đào tạo, sử
dụng cán bộ, giáo dục, rèn luyện họ trở thành những người có đủ đức, tài đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ của cách mạng trong từng giai đoạn.
Để nâng cao phẩm chất và năng lực cán bộ lãnh đạo quản lý trong nền kinh tế thị
trường hiện nay đòi hỏi phải tiếp tục thực hiện công tác chỉnh đốn Đảng, làm trong
sạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, kiên quyết loại bỏ những kẻ cơ hội về chính trị,
những kẻ thái hoá biến chất, kiếm trác chức quyền, những kẻ bất tài, không có trí tuệ
và chính kiến. Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ. Đánh giá, bồi dưỡng lựa chọn sử dụng cán bộ trên cơ sử tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín
nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu. Đổi mới đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản
lý theo hướng trẻ hoá, kết hợp các độ tuổi, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và phát triển.
3.5 Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và cộng nghệ, xây dựng nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xây dựng toàn diện về giáo dục và đào tạo, tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ
chế quản lý để đưa khoa học công nghệ vào sản xuất trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, làm nền tảng động lực cho sự phát triển. Hướng mọi hoạt động văn hoá vào xây
Do đó muốn thành công chúng ta phải vận dụng quan điểm toàn diện một cách cụ thể,
thiết thực, xem xét tổng thể các yếu tố để xây dựng nền kinh tế thị trường như Lênin
đã nói: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả
các mặt, tất cả các mối quan hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”.
Cuối cùng, khẳng định dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta các lợi thế tiềm
năng của nền kinh tế Việt Nam về lao động, về tài nguyên thiên nhiên, về vị trí địa lý
trong khu vực sẽ được phát huy một cách cao độ, đưa nền kinh tế thị trường Việt Nam
tiến nhanh, sánh kịp với các nước có nền kinh tế hiện đại như NICs Châu á và
ASEAN.
Chúng ta tin vào Đảng, vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.