LUẬN VĂN: Thực trạng vấn đề con người trong thời kỳ Công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam - Pdf 12


LUẬN VĂN:
Thực trạng vấn đề con người trong
thời kỳ Công nghiệp hóa- hiện đại
hóa ở Việt Nam

1. Mở đầu:
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nghiên cứu con người- theo nghĩa chung nhất là bao gồm toàn bộ nội
dung nghiên cứu của các khoa học, là lĩnh vực hàng đầu trong các tìm tòi
khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn.
Con người là vấn đề trung tâm của mọi Triết học, Triết học nào cũng
hướng về con người và quay trở lại con người. Việc giải quyết nội dung
xung quanh vấn đề con người là tiêu chí phân biệt tính chất tiến bộ hay
không tiến bộ của các hệ thống triết học trong lịch sử.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta chỉ rõ: phát triển

đến là giúp ta nắm được thực trạng vấn đề con người trong thời kỳ Công
nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam cùng với những bất cập này sinh; qua
thực trạng đó, đề ra những biện pháp khắc phục, đề ra kế hoạch, phương
huớng đào tạo con người phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa- hiện đại
hóa ở nước ta. 2. Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận

2.1.1. Quan niệm về con người:
2.1.1.1. Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Các trường phái triết học tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồi giáo
nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc
nhị nguyên luận. Trong triết học phật giáo, con người là sự kết hợp giữa
danh và sắc( vật chất và tinh thần). Đời sống con người trên trần thế chỉ là
ảo giác hư vô. Vì vậy cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống gửi, là
tạm bợ. Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tới cõi Niết bàn, nơi tinh thần
con người được giải thoát để trở thành bất diệt.
Trong Triết học phương Đông, do ảnh hưởng bởi thế giới quan duy tâm
hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, quan
niệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú. Khổng Tử
cho bản chất con người do "thiên mệnh" chi phối, quyết định, đức "nhân"
chính là giá trị cao nhất của con người, đặc biệt là người quân tử. Mạnh Tử
Trong triết học Hy Lạp cổ, con người được xem là điểm khởi đầu của tư
duy triết học. Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phản chiếu
lẫn nhau. Con người là một tiểu vũ trụ bao la.
Theo Arixtốt, con người chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năng
khiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên, con người là thang bậc
cao nhất của vũ trụ.
Triết học Hy Lạp đã có sự phân biệt con người với tự nhiên nhưng chỉ là
hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người.
Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của Thượng đế
sáng tạo ra, mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều
do Thượng đế xếp đặt.
Triết học thời kỳ phục hưng- cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý
tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ. Đó là một
trong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi mọi gông
cùm chật hẹp mà theo chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặt cho con
người. Tuy nhiên vẫn chưa trường phái nào nhận thức được đầy đủ về bản
chất con người cả về mặt sinh học và mặt xã hội. Con người mới chỉ được
nhấn mạnh về mặt cá thể, mà xem nhẹ mặt xã hội.
Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng như Cantơ,
Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng của chủ
nghĩa duy tâm. Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan,
thông qua sự vận động của "ý niêm tuyệt đối", đã cho rằng con người là
hiện thân của "ý niệm tuyệt đối". Hêghen cũng là ngừoi trình bày một cách
có hệ thống về các quy luật tư duy của con người, làm rõ cơ chế của đời
sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của con người. Hêghen là

định sự tồn tại của con người. Con người là một bộ phận của tự nhiên.
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm
của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Các giai đoạn
mang tính sinh học mà con người trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất
đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy, con người
trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người
sống là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó đối với tự
nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm lý- sinh
lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân
con người.
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất
con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với với thế giới
loài vật là mặt xã hội. Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác
nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính
hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải
vật chất. Thông qua sản xuất vật chất con người đã làm thay đổi, cải biến
toàn bộ thế giới tự nhiên. Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt
động lao động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một
cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động sản xuất, con
người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình;
hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập mối quan hệ xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát
triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác
nhau, nhưng thống nhất với nhau: Hệ thống các quy luật tự nhiên, hệ thống
các quy luật tâm lý, hệ thống các quy luật xã hội. Ba hệ thống quy luật trên
cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người
bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội.

Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng đồng thời tạo ra lịch
sử của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời cũng là chủ thể
sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người.
Mặc dù là "tổng hòa các mối quan hệ xã hội", con người có vai trò tích
cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó,
bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng
mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng với sự vận
động và biến đổi của bản chất con người.
Vì vậy để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải
làm cho hoàn cảnh mang tính người nhiều hơn, Hoàn cảnh đó chính là toàn
bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh
huớng phát triển nhằm đặt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý
nghĩa định hướng giáo dục.
2.1.2. Vai trò của con người trong đời sống xã hội, đặc biệt trong sản
xuất xã hội
Hơn một trăm năm trước, khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của
xã hội loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội,
Các Mác đã nói tới việc lấy sự phát triển toàn diện của con người làm thước
đo chung cho sự phát triển xã hội. Các Mác cho rằng, xu hướng chung của
tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng
sản xuất bao gồm con người và những công cụ lao động do con người tạo ra.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất tự nó đã nói lên trình độ phát triển của
xã hội qua việc con người chiếm lĩnh và sử dụng ngày càng nhiều lực lượng
tự nhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt đoọng sống của chính con
người. Chúng ta biết rằng sản xuất là quá trình hoạt động thực tiễn cơ bản
của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Sản xuất quyết định
nhu cầu nhưng không có nhu cầu thì cũng không có sản xuất. Nhu cầu của

lịch sử tự nhiên.
Mặt khác khi sản xuất ngày càng phát triển, tính chất xã hội hóa của
sản xuất ngày càng gia tăng, việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượng
của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do việc đó mang lại sẽ
cần đến những con người hoàn toàn mới. Các Mác đã khẳng định: sự phát
triển của lực lượng sản xuất xã hội trước hết có ý nghĩa là "sự phát triển
phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân"
(1)
. Bởi
vậy theo Các Mác, ý nghĩa lịch sử, mục đích cao cả của sự phát triển xã hội
là phát triển con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá của con
người, giải phóng con người, loại trừ ra khỏi cuộc sống con người mọi sự
tha hoá để con người sống với cuộc sống đích thực của mình.
Thực tế đã chứng minh, trong công cuộc đổi mới đất nước, chỉ có con
người-yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội mới là
nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quyết định sự thành công hay thất
bại. Nhưng con người cũng là mục tiêu, là cái đích của sự phát triển, sự đổi
mới này. Hay nói cách khác, công cuộc đổi mới đất nước mà cụ thể là công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là do con người, phụ thuộc vào con người và vì
con người.
CHươNG 2: Vấn đề xây dựng con người để đáp ứng cho sự nghiệp
công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam
2.2.1. Thực chất quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở việt nam
Trên phạm vi toàn thế giới, trong khu vực và ở nước ta hiện nay, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định là giai đoạn phát triển tất yếu mà
mỗi quốc gia sớm muộn đều phải trải qua, là hiện tượng có tính quy luật
phổ biến trong tiến trình vận động và phát triển của đất nước, nhất là đối

phát triển kinh tế- xã hội.
"Hiện đại hóa" với đúng nghĩa của nó là làm cho một cái gì đó mang tính
chất của thời đại ngày nay. Hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là làm cho kỹ
thuật và công nghệ sản xuất cũng như cơ cấu kinh tế- kỹ thuật được hiện đại
hóa. Ngoài ra, hiện đại hóa còn bao hàm cả phương diện kinh tế- xã hội.
Như vậy hiện đại hóa là một khái niệm có nội dung rộng lớn, là quá trình
cải biến một xã hội cổ truyền thành một xã hội hiện đại, có trình độ văn
minh cao hơn, thể hiện không chỉ ở nền kinh tế phát triển với nhịp độ tăng
tổng sản phẩm chung tính theo đầu người mà còn ở đời sống chính trị, văn
hóa, tinh thần của xã hội. Nó tạo ra những điều kiện hiện thực để đưa xã hội
lên trình độ hiện đại và góp phần thực hiện những giá trị phát triển cao của
nhân loại vào cuộc sống.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang đưa tới sự thay
đổi triệt để về chất chất trong kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Bởi vậy, quá
trình công nghiệp hóa ở nước ta có đặc điểm khác với quá trình công nghiệp
hóa của các nước đi trước. Một điều rõ ràng là chúng ta không thể thực hiện
xong xuôi quá trình công nghiệp hóa với nội dung căn bản là cơ khí hóa các
ngành sản xuất của nền kinh tế quốc dân rồi mới tiến hành hiện đại hóa.
Hơn nữa, khi thực hiện cơ khí hóa cũng không thể sử dụng máy móc lạc hậu
được sản xuất trước đây, mà phải sử dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất
tiên tiến hiện nay. Với ý nghĩa đó, công nghiệp hóa trong điều kiện hiện nay
đã bao hàm những nội dung của hiện đại hóa, công nghiệp hóa phải đi liền
với hiện đại hóa.
Công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa sẽ mở ra con đường tắt, rút
ngắn khoảng cách giữa các nước đang phát triển so với các nước tiên tiến.
Đó chính là đặc điểm mới của công nghiệp hóa.
Đảng ta xác định nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa có cả

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Không ngừng nâng cao năng suất lao
động , tăng hàm lượng chất xám trong một đơn vị sản phẩm, tăng sức cạnh
tranh của nền kinh tế thông qua quan hệ đối ngoại và xuất khẩu.
Thứ ba, trên cơ sở xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phấn đấu xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho mỗi công dân, mỗi tập thể
đều được bình đẳng góp tài năng vào việc phát triển đất nước và hưởng thụ
những giá trị tương xứng với công sức của họ.
Thứ tư, trên cơ sở phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao lĩnh
vực dịch vụ, chúng ta cần nỗ lực xây dựng một xã hội hiện đại, năng động,
có khả năng "tự đề kháng, tự điều tiết và tự phát triển", "tự thích nghi" để
rồi vượt qua thử thách, nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực,
từng bước phát triển kinh tế tri thức, đủ sức cạnh tranh, xây dựng một xã
hội hiện đại với một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền
văn minh cao thể hiện trên tất cả các lĩnh vực, nâng cao dân trí, trình độ
khoa học- công nghệ cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân, làm cho họ có lối
sống, mức sống và khả năng hoạt động văn hóa và văn minh của thời đại.
Chúng ta không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên một nền kinh
tế nghèo nàn, lạc hậu và cũng sẽ không thể có được một xã hội tốt đẹp, nếu
nhân dân ta chưa có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, trình độ văn hóa
cao, tay nghề vững; nếu trình độ dân trí chưa cao.
2.2.3. Tại sao cần phải xây dựng con người việt nam trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa?
Theo quan điểm của triết học Mác- Lênin, lịch sử nhân loại, xét đến
cùng, là lịch sử giải quyết vấn đề con người, từng bước thoát khỏi thần
quyền và bạo quyền để đi đến mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện cá
nhân trong một xã hội văn minh. Không một dân tộc nào tồn tại và phát
triển lại không chú ý tới vấn đề con người, có điều khác nhau ở mục đích và

là sản phẩm, vừa là kẻ sáng tạo nội dung các quan hệ xã hội, vừa bị quy
định, vừa "tự do"; và theo một ý nghĩa nhất định nào đó, vừa là điểm kết
thúc vừa là điểm xuất phát.
Thứ ba, phát huy nguồn lực con người là vấn đề chiến lược trong quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chúng ta chỉ có một lối ra duy nhất trong thời đại cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại, là phát huy nguồn lực con người. Sự đi lên của
chúng ta phải dựa vào thế mạnh duy nhất của mình, đó là con người Việt
Nam, trí tuệ Việt Nam, tiềm năng chất xám Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị
lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng định: Muốn tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục-
đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững.
2.2.4. Những yêu cầu đối với con người VIệt Nam để đáp ứng sự nghiệp
công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Trong "Đường cách mệnh", chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành bài mở đầu
cho vấn đề đào tạo những "hạt giống" đầu tiên cho cách mạng. Người cho
rằng, muốn làm cách mạng, trước hết cần phải có những con người có đầy
đủ phẩm chất cách mạng. Và, chính Người là một mẫu mực tuyệt vời về một
con người chân chính. Đã có rất nhiều cán bộ của Đảng, những chiến sĩ
cộng sản trung kiên đã nêu những tấm gương sáng ngời, những hình ảnh tiêu
biểu cho con người Việt Nam mới. Song chỉ khi giai cấp vô sản giành được
chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội thì mới có điều kiện xây dựng con
người mới trong đông đảo quần chúng. Ngày nay, trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hướng vào mục đích "dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, con người Việt Nam- mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế-

hướng đó không chỉ nhằm xây dựng một nền tảng tinh thần vững chắc cho
công cuộc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, mà còn nhằm tạo ra một nguồn
lực mạnh mẽ, bền vững cho công cuộc xây dựng đất nước.
2.2.5. Thực trạng xây dựng con người Việt Nam từ khi đổi mới đến nay
Trong suốt quá trình phát triển cách mạng nước ta, Đảng ta và chủ tịch
Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những quan điểm của trỉết học Mác-
Lênin về con người vào việc xây dựng con người Việt Nam mới phù hợp với
điều kiện nước ta. Những định hướng phẩm chất của con người Việt Nam
được đề cập trong các văn kiện của Đảng ta trong việc đẩy mạnh công tác
giáo dục. Trên thực tế Đảng ta đã thường xuyên đổi mới công tác giáo dục
nhằm hình thành và phát triển nhân cách các thế hệ con người Việt Nam
phục vụ công cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước.
Ngay từ những ngày đầu bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội trên đất nước ta, Đảng ta đã khẳng định "con người là vốn quý nhất",
chăm lo cho hạnh phúc của tất cả mọi người là sự nghiệp lớn lao của Đảng.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, khi thông qua đường lối chính
sách đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Đại hội VI(1986), Đảng
ta đã khẳng định vai trò quan trọng của "nhân tố con người" trong toàn bộ
sự phát triển kinh tế- xã hội. Đại hội VII(1991) của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến
năm 2000.Tại đại hội này, Đảng ta đã đặt con người vào vị trí trung tâm của
chiến lược kinh tế- xã hội, xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư( khóa
VII) đã nâng tầm nhận thức của Đảng ta lên cao hơn về vai trò của con
người. Sự phát triển con người được xem như là nhân tố quyết định mọi sự



ràng buộc của cơ chế cũ, phát huy được quyền làm chủ và tính năng động,
sáng tạo trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội. Việc thực hiện chế
độ dân chủ trong Đảng và trong xã hội được đẩy mạnh đã phát huy được trí
tuệ tập thể, phát huy sức mạnh đoàn kết, sức mạnh tổng hợp của nhân dân.
Chính sách xã hội ngày càng được hoàn thiện và hướng vào con người, tạo
ra những động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế, phát triển đất nước.
Lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ ngày càng được khẳng
định. Những thành tựu trên cho thấy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,
trong đó đổi mới tư duy là khâu đột phá, đổi mới kinh tế là trọng tâm, đổi
mới chính trị từng bước, đã tạo nên bước nhảy vọt lớn. Điều đó tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Xét về lĩnh vực phát huy nguồn lực con người, công cuộc đổi mới đã
đạt những thành tựu đáng kể và vô cùng quan trọng. Khảo sát tình hình phát
triển con người Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua cho thấy:
Về thể lực và sức khỏe, khi nền kinh tế- xã hội có bước phát triển thì tình
trạng sức khỏe của con người ngày càng được cải thiện. Theo đánh giá của
tổ chức Y tế thế giới, tuy Việt Nam có thu nhập bình quân theo đầu người
vào nhóm thấp nhất thế giới, nhưng về mặt sức khỏe đạt loại trung
bình(73/150 nước). Chúng ta đều hiểu rằng sự phát triển về mặt thể lực, sức
khỏe là cơ sở để phát triển toàn diện toàn diện con người, sự lành mạnh về
thể xác và tâm hồn là điều kiện quan trọng cho sự phát triển hài hòa các
phẩm chất, năng lực của con người.
Về sự phát triển trí tuệ của con người Việt Nam:
Sự phát triển này được biểu hiện qua nhiều chỉ số như: trình độ học vấn,
kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật, khoa học nhân văn, kỹ năng nghề
nghiệp Hiện nay, cả nước có gần 20 triệu học sinh các cấp. Hiện tại ta đã

dám làm, dám chịu trách nhiệm, ngày càng trưởng thành trong các lĩnh vực
kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, văn hóa, xã hội.
Về tư tưởng, đạo đức cách mạng
Lý tưởng và đạo đức cách mạng là vấn đề vô cùng quan trọng, không thể
thiếu trong nhân cách của con người Việt Nam hiện nay.Thành tựu lớn lao
trong sự nghiệp giáo dục- đào tạo, xây dựng con người Việt Nam là chúng
ta đã từng bước tạo lập, xây dựng những con người có lý tưởng cách mạng,
đạo đức trong sáng, từng bước đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng.
Sự biến đổi to lớn, sâu sắc của đời sống kinh tế- xã hội đã tác động
mạnh mẽ đến nhận thức và hành động của con người Việt Nam, ảnh hưởng
đến lý tưởng và hành vi đạo đức của họ. Các kết quả điều tra, nghiên cứu xã
hội những năm qua cho thấy, cùng với quá trình đổi mới, mở cửa, hội nhập,
giao lưu với con người, thang giá trị của con người Việt Nam cũng bị biến
đổi, khúc xạ theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Bên cạnh mặt tích cực
trong việc định hướng vào các giá trị chung của nhân loại( hòa bình, tự do,
sức khỏe, việc làm, công lý, học vấn, an ninh, niềm tin, nghề nghiệp ), các
giá trị của truyền thống dân tộc( lòng yêu nước, nhân ái, tính tập thể, cộng
đồng, tình nghĩa, hiếu học, càn cù, sáng tạo ) đã xuất hiện xu hướng xem
nặng vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần; xem nặng giá trị hiện đại, ngoại lai,
xem nhẹ giá trị truyền thống, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; coi trọng vai
trò của kỹ thuật, xem nhẹ vai trò của con người; đặt lên quá cao lợi ích cá
nhân mà xem nhẹ lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng.

Trích đoạn Xây dựng con người Việt Nam kết hợp với quá trình đổi mớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status