Tài liệu Giáo dục quyền con người trong các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật ở Việt Nam - Pdf 10


Giáo dục quyền con người trong
các cơ sở đào tạo chuyên ngành
Luật ở Việt Nam

Quyền con người là một giá trị hội tụ trong đó nhiều giá trị khác
về văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý…

1. Tổng quan về quyền con người trong hệ thống pháp luật
Việt Nam
Quyền con người là một giá trị hội tụ trong đó nhiều giá trị khác
về văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý… Nó là
thành quả của quá trình phát triển về nhận thức và tri thức của
con người, thuộc sở hữu của chung nhân loại. Tuy nhiên trong
thực tế, quyền con người luôn gắn vớiquan niệm chủ quan, với
các giá trị khác nhau, cho nên, một mặt, chúng ta phải thừa nhận
những quan niệm mang tính dân tộc về quyền con người; mặt
khác, chúng ta phải đối mặt với tình trạng là ðôi khi nhân danh
quyền con người, các cá nhân, các nhóm người, vì lợi ích riêng
của mình, đã đưa ra những ðòi hỏi vô lý, trái với lợi ích chung
của cả cộng đồng người. Cũng do ðó mà, quyền con người
thường trở thành vấn đề gây tranh cãi trên trường quốc tế, nhất là
khi nó được lồng vào một động cơ chính trị (nhiều khi nó được
coi như một thứ để “mặc cả” trong các đàm phán, thương lượng
quốc tế). Như vậy, quyền con người - tự thân nó là một giá trị
chứa đựng rất nhiều yếu tố tích cực, nhưng để nó thực sự là mẫu
số chung quy đồng các giá trị khác nhau trong xã hội, thì cần phải
tiếp cận nó trong sự cân bằng với nhiều mối tương quan.

phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn
giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ nười tám
tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên
đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy
định của pháp luật” (Điều 54). Cụ thể hóa nội dung này của Hiến
pháp, Quốc hội đã ban hành các luật: Luật Bầu cử đại biểu Quốc
hội năm 1997, được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2002;
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1994, được thay
thế bằng Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003.
Nhiều văn bản luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể các quyền của công dân
tham gia trực tiếp và gián tiếp vào công việc quản lý nhà nước,
như quyền được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra, giám
sát. Riêng quyền thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở, ủy ban
thường vụ Quốc hội đã ban hành các nghị quyết về quy chế thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (năm1998); quy chế thực hiện
dân chủ trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (năm 1998);
quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của các cơ quan (năm
1998); Pháp lệnh về việc thực hiện dân chủ ở xã, phường năm
2007.
1.2. Các quyền trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
Hiến pháp năm 1992 đã quy định công dân có các quyền và nghĩa
vụ học tập; quyền và nghĩa vụ lao động; quyền được hưởng chế
độ bảo vệ sức khỏe; quyền về nhà ở; quyền sở hữu, tự do kinh
doanh… Các quyền và nghĩa vụ này đều đã được Quốc hội và ủy
ban Thường vụ Quốc hội cụ thể hóa trong các luật và pháp lệnh,
như: Luật Giáo dục năm 1998, được thay thế bằng Luật năm
2005; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm1991, được
thay thế năm 2004; Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (năm 1989);
Bộ luật Lao động năm 1994, được sửa đổi, bổ sung vào các năm

thân thể, nhân phẩm; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được
học tập, được phát triển; quyền được vui chơi, giải trí; quyền
được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng… đều được cụ thể hóa trong
các quy định của pháp luật (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em; Luật Giáo dục). Quốc hội đã phê chuẩn việc Việt Nam
tham gia Công ước Quốc tế về bảo vệ trẻ em; thông qua Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1998, được thay thế vào
năm 2004. Nội dung này cũng được quy định tại nhiều văn bản
luật khác. Trong điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn,
Đảng và Nhà nước vẫn dành nhiều ưu đãi cho trẻ em bằng việc
miễn phí khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, chính sách phổ
cập giáo dục phổ thông cơ sở… là những cố gắng lớn.
Các quyền của đối tượng tàn tật, người cao tuổi cũng như các
chính sách đối với họ được quy định tại Pháp lệnh về người tàn
tật năm 1998; Pháp lệnh Người cao tuổi năm 2000, Bộ luật Lao
động, Luật Dạy nghề
1.4. Các quyền về nhân thân
Quy định khá cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật, bao gồm:
quyền tự do đi lại, tự do cư trú (Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh xuất
nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam; Luật Cư
trú); quyền tự do ngôn luận (Luật Báo chí năm 1990, sửa đổi năm
1999; Luật Xuất bản năm 2004, sửa đổi năm 2008); quyền tự do
tín ngưỡng (Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Đất đai; Bộ
luật Hình sự); quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được
bảo đảm bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín (Bộ luật Hình sự;
Pháp lệnh Bưu chính viễn thông); quyền khiếu nại, tố cáo (Luật
Khiếu nại, tố cáo năm 1998, được sửa đổi, bổ sung vào năm 2004
và năm 2005; đồng thời quy định trong nhiều văn bản pháp luật
khác như: Luật Đất đai, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng
dân sự, Luật về Luật sư, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt…); quyền

Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa
án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Hoạt
động giám sát của của Quốc hội, … đều đã thể hiện rõ ý tưởng
này, có nhiều điều quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, cơ chế
vận hành, trách nhiệm, quyền hạn… bảo đảm thực hiện các
quyền cơ bản của công dân, làm cho nhà nước thực sự là của dân,
do dân và vì dân.
Sự thận trọng đến mức dè dặt, chậm chạp trong việc tuyên
truyền, giảng dạy về quyền con người làm ảnh hưởng nhất định
về nhận thức của xã hội nói chung và của cá nhân, cơ quan, tổ
chức nói riêng trong việc thực hiện và đảm bảo các quyền con
người ở nước ta. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, vấn đề
nhân quyền và thực thi quyền con người ở nước ta vẫn chưa đạt
hiệu quả như mong muốn. Có thể lý giải vấn đề này từ nhiều
nguyên nhân khác nhau, trong đó có việc tuyên truyền, giảng dạy,
đào tạo về quyền con người ở nước ta còn nhiều hạn chế. Sự thận
trọng đến mức dè dặt, chậm chạp trong việc tuyên truyền, giảng
dạy về quyền con người làm ảnh hưởng nhất định về nhận thức
của xã hội nói chung và của cá nhân, cơ quan, tổ chức nói riêng
trong việc thực hiện và đảm bảo các quyền con người ở nước ta.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi trao đổi về việc giáo dục
quyền con người ở Việt Nam tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành
luật.
2. Thực trạng giáo dục quyền con người tại các cơ sở đào tạo
chuyên ngành luật ở Việt Nam (2)
Ở nước ta, việc tìm hiểu, nghiên cứu và giảng dạy về nhân quyền
được quan tâm một cách chính thức cách đây khoảng 15 năm.
Năm 1994, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) đã thành lập
một cơ quan nghiên cứu về nhân quyền là Trung tâm Nghiên cứu

phân môn độc lập. Song, điều đó cũng không đồng nghĩa với việc
cho rằng chương trình đào tạo tại các cơ sở chuyên ngành luật
không đào tạo những vấn đề về nhân quyền. Thực tế, trong
chương trình đào tạo, nội dung này thường được tiếp cận dưới
góc độ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được giảng dạy
trong môn Luật Hiến pháp. Ngoài ra, các bộ môn khác tùy theo
đặc thù của nội dung môn học, ở các mức độ khác nhau cũng đề
cập đến quyền con người, ví dụ: vấn đề con người trong triết học
Mác - Lênin (môn Triết học Mác - Lênin); vấn đề dân tộc trong
quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội (môn Chủ nghĩa xã hội khoa
học); quyền dân sự của công dân (môn Luật Dân sự); quyền tự do
trong kinh doanh (môn Luật Thương mại); quyền tự do việc làm
(môn Luật Lao động); an sinh xã hội cho công dân (Luật An sinh
xã hội); trách nhiệm hình sự trong việc vi phạm các quyền của
công dân (môn Luật Hình sự) Môn Công pháp quốc tế có hai
bài riêng nói đến quyền con người, đó là Dân cư trong luật quốc
tế và Luật quốc tế về quyền con người (5). Tuy nhiên hiện nay,
giáo trình giảng dạy do các trường trực tiếp biên soạn nên liều
lượng và mức độ của các nội dung nói trên cũng có sự khác nhau
nhất định.
Trong chương trình đào tạo chuyên ngành, phần tự chọn thì chỉ
duy nhất chuyên ngành Luật quốc tế có chuyên đề tự chọn có tiêu
đề Luật quốc tế về quyền con người. Theo sự tìm hiểu của chúng
tôi, tại ba cơ sở đào tạo cử nhân luật chính quy lớn nhất hiện* nay
là Trường đại học Luật Hà Nội; Trường đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh; Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đều có
chuyên đề tự chọn nói trên cho sinh viên thuộc chuyên ngành
Luật quốc tế (6). Tuy nhiên, tại trường đại học Luật Hà Nội,
chương trình tự chọn đó mới được thực hiện từ năm 2003 đến
nay. Nhưng sau khi khoa Luật Quốc tế đổi tên thành khoa Luật

1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
năm 1966; Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân
biệt đối xử với phụ nữ; Công ước quốc tế về quyền trẻ em…
Nhưng, bên cạnh những giá trị chung mang tính phổ quát của
nhân loại, thì quyền con người còn là một giá trị văn hóa với
những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Điều đó cắt nghĩa cho
việc tại sao vẫn còn có xung đột giữa các nhà nghiên cứu, các nhà
chính trị trong quan niệm cũng như việc thực hiện nhân quyền ở
các quốc gia khác nhau, nói cách khác là không thể phủ nhận tính
nhạy cảm của vấn đề trong thực tiễn. Tại nhiều nước trên thế
giới, nhất là ở châu Âu, trong các cơ sở đào tạo luật, việc giảng
dạy, nghiên cứu môn học quyền con người là một môn học không
thể thiếu hoặc được lồng ghép nhân quyền với các môn học khác
một cách có ý thức và chủ động. Đáng kể nhất là Thụy Điển có
Viện Luật nhân quyền và nhân đạo quốc tế Raoul Wallenberg rất
nổi tiếng với nhiều chương trình nghiên cứu và giảng dạy nhân
quyền không chỉ ở châu Âu; hay khoa Luật, Đại học Lund (Thụy
Điển) có giảng dạy các môn luật luôn có sự lồng ghép với vấn đề
nhân quyền. Khoa Luật, Đại học Hồng Kông có nhiều môn học
luật quốc tế về quyền con người và luật nhân đạo cho sinh viên.
Đại học Mahidol (Thái Lan) có chương trình đào tạo thạc sĩ về
quyền con người bằng tiếng Anh và tiếng Thái. Khoa Luật, Đại
học Bắc Kinh cũng có chương trình đào tạo thạc sĩ về quyền con
người trong chương trình hợp tác với Viện Raoul Wallenberg.
*“Trong một xã hội dân chủ, một nhà nước của dân, do dân và vì
dân, một nền kinh tế tự do thương mại, thì nhân quyền là những
giá trị có tính tiền đề cần được cả xã hội và người dân nhận thức
đúng” ở nước ta, như đã trình bày, đây là vấn đề mới và tương
đối nhạy cảm. Do đó, việc nghiên cứu cũng như giảng dạy vấn đề
quyền con người phải giải quyết rất nhiều mối tương quan khác

kinh tế, xã hội cụ thể. Theo chúng tôi, nên xây dựng môn học
quyền con người theo nghĩa là một phân môn đào tạo bắt buộc
của chương trình cử nhân luật. Tuy nhiên, nội dung môn học chỉ
giải quyết những vấn đề chung về quyền con người vì những nội
dung cụ thể đã được giải quyết trong các bộ môn chuyên ngành.
Do đó, trên cơ sở tham khảo chương trình giảng dạy một số nước
và thực tiễn ở Việt Nam, thì cơ cấu nội dung chương trình giảng
dạy môn học quyền con người (nhân quyền) cần có các nội dung
chủ yếu sau: Tổng quan (hay khái quát chung, lý luận chung) về
quyền con người; Hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con
người; Các nhóm quyền cơ bản theo pháp luật quốc tế; Các nhóm
quyền đặc thù; Việt Nam với vấn đề quyền con người.
- Về đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy: Hiện nay, nói chung
do các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật ở nước ta chưa có sự
quan tâm thỏa đáng đến vấn đề này nên đội ngũ giảng viên giảng
dạy, nghiên cứu về quyền con người còn thiếu và yếu. Do đó, cần
có sự đầu tư và chuẩn bị nguồn nhân lực để thực hiện chương
trình đó.
- Cuối cùng, bên cạnh sự quyết tâm về khoa học, rất cần sự quyết
tâm về chính trị, đặc biệt từ phía cơ quan quản lý mà trực tiếp là
Bộ Giáo dục và đào tạo, lãnh đạo các trường đại học trong việc
tiếp nhận và đổi mới chương trình đào tạo cử nhân luật nói chung
và vấn đề quyền con người nói riêng.
(1) Phần này được tham khảo từ bài viết của đồng chí Nguyễn
Phú Trọng: “Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm và thực hiện
quyền con người” trên
http://nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/1/Conte
ntID/65044/Author/Nguy?n%20Phỳ%20Tr?ng/Default.aspx
(2) Các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật trong bài viết được hiểu
là các cơ sở đào tạo luật ở trình độ cử nhân.

Luật lao động & an sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status