Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
A- Đặt vấn đề.
Hiện nay vẫn còn có rất nhiều ngời, một bộ phận ngời vẫn cha hiểu biết
về nguồn gốc và bản chất của con ngời và vai trò to lớn của con ngời trong xã
hội và trong lịch sử. Và ở nhiều nơi trên thế giới, mọi lúc, mọi nơi vẫn còn có
những con ngời bị ngợc đãi, đó là những t tởng phân biệt chủng tộc, khinh bỉ
con ngời, coi con ngời nh súc vật, kẻ đi làm thuê... Đặc biệt nạn trọng nam
khinh nữ vẫn còn tồn tại, phụ nữ bị phân biệt đối xử tàn bạo luôn luôn phải
làm những công việc nặng nhọc hay bị đánh đập, ngợc đãi. Bị đối xử bất
công trong quan hệ xã hội và không đợc tham gia vào các công việc chính trị,
thậm chí những công việc trong nội bộ gia đình.
Đề tài này cung cấp đầy đủ, giúp cho em hiểu đợc về nguồn gốc và bản
chất của con ngời, ý nghĩa cuộc sống của giai đoạn lịch sử, con ngời có quan
hệ với tự nhiên và đồng loại nh thế nào; vì đâu ở mỗi con ngời, mỗi cộng
đồng ngời có những nét độc đáo về t tởng, tình cảm, tâm lý, tính cách, nghị
lực, tài năng.
Đề tài này giúp em nhận thức đợc vai trò của con ngời, quần chúng
nhân dân và cá nhân trong lịch sử. Từ đó thôi thúc em cũng nh tất cả mọi ng-
ời phải làm gì để có cuộc sống xứng đáng với bản thân mình, vì vậy rút ra đ-
ợc phơng hớng và biện pháp để xây dựng con ngời trong thời đại mới xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đề tài này đợc hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Phạm
Văn Sinh.
Em xin chân thành cảm ơn !
B- Nội dung
I- Vấn đề con ngời trong triết học Mác - Lênin.
Vấn đề con ngời, theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ nội dung nghiên
cứu các khoa học xã hội và nhân văn. Chủ nghĩa Mác - Lênin thực chất là
học thuyết về giải phóng con ngời và giải phóng loài ngời. Vấn đề con ngời
là nội dung cơ bản chủa chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, triết học Mác -
Lênin nói riêng.
Phoiơbắc, nhà duy vật lớn trong triết học cổ điển Đức, đều phê phán mạnh
mẽ quan điểm duy tâm, thần bí và tìm cách giải thích nguồn gốc bản chất
con ngời theo quan điểm duy vật. Với sự ra đời thuyết tiến hoá các loài
Đácuyn, các nhà triết học duy vật nói trên đã có căn cứ khoa học để chỉ ra
nguồn gốc phi thần thành của con ngơì. "Không phải chúa đã tạo ra con ngời
theo hình ảnh của chúa mà chính con ngời đã tạo ra chúa theo hình ảnh của
con ngời". Lời nói sắc sảo này của Phoiơbắc đã đợc C.Mác và Ph.Ăngghen
đánh giá cao khi hai ông nói về vai trò của các nhà duy vật trong việc phê
phán những quan điểm duy tâm thần bí về nguồn gốc và bản chất của con ng-
ời. C.Mác đã khái quát bản chất con ngời qua câu nói nổi tiếng sau đây:
"Phoiơbắc hoà tan theo bản chất tôn giáo vào bản chất con ngời. Nhng
bản chất con ngời không phải là một cái trừu tợng cố hữu của cá nhân riêng
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những quan
hệ xã hội" (5.3-11).
Với quan điểm duy vật triệt để và phơng pháp biện chứng, Mác đã đa ra
một quan niệm hoàn chỉnh về khái niệm con ngời, cũng nh về bản chất của
con ngời. Chủ nghĩa Mác phân biệt rõ hai mặt trong khái niệm con ngời: mặt
sinh vật và mặt xã hội.
C.Mác không hề phủ nhận mặt tự nhiên, mặt sinh học khi xem xét con
ngời với t cách là những cá nhân sống. Mác viết: "vì vậy, điều cụ thể đầu tiên
cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan hệ mà
tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của giới tự nhiên". Theo
Mác, "mọi khoa ghi chép lịch sử đều phải xuất phát từ những cơ sở tự nhiên
ấy.
Trớc hết Mác thừa nhận con ngời là một động vật cao cấp nhất, sản
phẩm của sự tiến hoá lâu dài của giới sinh vật nh tiến hoá luận của Đácuyn
đã khẳng định. Nh mọi động vật khác, con ngời là một bộ phận của thiên
nhiên, tìm thức ăn, nớc uống... từ trong thiên nhiên. Nh mọi động vật khác,
con ngời phải "đấu tranh" để tồn tại, ăn uống, sinh con đẻ cái.. Tuy nhiên,
C.Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất
của sự hoà hợp giữa con ngời và tự nhiên. Nhờ hoạt động thực tiễn, con ngời
quan hệ với tự nhiên cũng có nghĩa là con ngời quan hệ với bản thân mình,
bởi tự nhiên là "thân thể vô cơ của con ngời".
Tính loài của con ngời không phải tính loài trừu tợng. Nó cũng có nghĩa
là tính xã hội, và loài ngời chính là "xã hội ngời".
Con ngời có tính xã hội trớc hết bởi bản thân hoạt động sản xuất của
con ngời là hoạt động mang tính xã hội. Trong hoạt động sản xuất, con ngời
không thể tách khỏi xã hội. Tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho con ngời
khác con vật. Hoạt động của con vật chỉ phục vụ nhu cầu trực tiếp của nó,
còn hoạt động của con ngời gắn liền với xã hội và phục vụ cho cả xã hội. Xã
hội cùng với tự nhiên là điều kiện tồn tại của con ngời. Tính xã hội của con
ngời thể hiện ở hoạt động và giao tiếp xã hội. Hoạt động của con ngời không
phải hoạt động theo bản năng nh động vật mà là hoạt động có ý thức. T duy
con ngời phát triển trong hoạt động và giao tiếp xã hội, trớc hết là trong hoạt
động lao động sản xuất. Với ý nghĩa trên đây, có thể nói con ngời phân biệt
với động vật ở t duy mà ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của t duy. Bởi cơ sở của
t duy là hoạt động thực tiễn xã hội. "Những miền sâu thẳm của tâm linh"
cũng không thể có đợc nếu nh không có hoạt động mang tính xã hội và
những quan hệ xã hội của con ngời.
Nói tóm lại con ngời khác con vật về bản chất ở cả ba mặt: quan hệ với
thiên nhiên, quan hệ với xã hội, quan hệ với bản thân. Cả ba mối quan hệ đó
đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất, bao
quát nhất trong mọi hoạt động của con ngời, cả trong lao động, sinh con đẻ
cái và trong t duy.
Khi C.Mác nói: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng
hoà những quan hệ xã hội", thì ta hiểu những quan hệ ấy thể hiện trong toàn
bộ hoạt động cụ thể của con ngời. Không có con ngời trừu tợng mà chỉ có
những con ngời sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại
nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất địh, nghĩa là những con ngời
cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý
ợc thu hút và hội nhập vào bản năng lao động xã hội, cái bản năng xã hội đặc
thù của con ngời.
Khi C.Mác chỉ ra rằng bản chất con ngời, trong tính hiện thực của nó, là
tổng hoà mối quan hệ xã hội thì ông không dừng lại ở bản năng sinh vật của
con ngời. C.Mác nói đến con ngời là nói đến con ngời hiện thực, nói đến bản
năng xã hội của con ngời trong mọi quan hệ của đời sống.
2. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có vị trí quan trọng đặc biệt
trong học thuyết của Mác. Các tác phẩm của các nhà kinh điểm Mác - Lênin
đã đề cập đến vấn đề này một cách toàn diện, sâu sắc có hệ thống trên cơ sở
chủ nghĩa duy vật lịch sử.
2.1.Khái niệm cá nhân và xã hội.
Khái niệm cá nhân chỉ con ngời cụ thể sống trong một xã hội nhất định
với t cách một cá thể, một thành viên của xã hội ấy; do những đặc điểm riêng
biệt của mình mà phân biệt với những thành viên khác của xã hội.
Xã hội bao giờ cũng do các cá nhân hợp thành, những cá nhân này sống
và hoạt động trong những nhóm, cộng đồng, tập đoàn xã hội khác nhau do
điều kiện lịch sử cụ thể quy định. Bất cứ xã hội nào cũng đợc cấu thành
không phải bởi những con ngời trừu tợng mà bởi những con ngơì cụ thể,
những cá nhân sống.
Mỗi cá nhân là một cái đơn nhất mang những đặc điểm riêng phân biệt
với các cá nhân khác không chỉ về mặt sinh học mà chủ yếu về mặt những
quan hệ xã hội, những quan hệ này vô cùng phức tạp, rất cụ thể và có tính
lịch sử. Mỗi cá nhân có đời sống riêng, có những " quan hệ xã hội" của riêng
mình không hoàn toàn giống quan hệ xã hội của các cá nhân khác, có kinh
nghiệm riêng, có nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng riêng. Tuy nhiên, các cá nhân
trong một xã hội nhất định dù khác biệt nhau đến đâu, đều mang cái chung;
họ đều là thành viên của xã hội, đều mang bản chất xã hội, không thể sống
ngoài xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp đều do các cá nhân - thành viên
ợc khẳng định với t cách cá nhân và trở thành kiểu cá nhân đặc trng của thời
đại (chẳng hạn cá nhân phong kiến, cá nhân t sản...)
* Trong xã hội t bản, giai cấp t sản nói nhiều đến cá nhân, cá tính, tự do
cá nhân..., thực chất là nói đến cá nhân t sản. C.Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ
rõ, trong lao động làm thuê, ngời vô sản mất hết cá tính. Lợi ích của giai cấp
t sản, của xã hội t bản đối lập với lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích
cánhân ngời công nhân.
Chủ nghĩa t bản càng phát triển càng làm cho con ngời bị tha hoá. Ngời
công nhân gánh chịu mọi hậu quả nặng nề của sự tha hoá. Kết quả hoạt động
của con ngời, của ngời công nhân, ngày càng biến thành một lực lợng thoát
ra khỏi con ngời, xa lạ với con ngời, thống trị lại con ngời, thù địch với con
ngời, lực lợng đó là t bản. Các điều kiện lao động của ngời công nhân đối lập
lại ngời công nhân. Trong những điều kiện đó, tự do của ngời lao động chỉ
mang tính hình thức, cá nhân con ngời không thể có sự phát triển hài hoà và
toàn diện. Điều kiện sống và làm việc của công nhân càng tồi tệ hơn khi họ
mất việc làm; khi đó ngời lao động càng không thể khẳng định mình với t
cách cá nhân. Chỉ khi nào các đối kháng giai cấp toàn xã hội đã bị xoá bỏ,
khi ngời lao động thực sự làm chủ các điều kiện vật chất của lao động, họ
mới thật sự trở thành ngời lao động tự do. Và cá nhân ngời lao động, với t
cách con ngời mới đợc khẳng định.
Chủ nghĩa xã hội không "thủ tiêu cá nhân" nh giai cấp sản nói, trái lại
tạo những điều kiện xã hội cần thiết cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá
nhân, làm cho mỗi cá nhân phát huy cao độ năng lực của mình, bản sắc của
mình trong cuộc sống riêng t cũng nh xây dựng một xã hội mới nhân bản,
công bằng, văn minh, một xã hội trong đó lợi ích cá nhân và các lợi ích xã
hội không đối lập nhau mà thống nhất với nhau, là tiền đề và điều kiện của
nhau.
3. Vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử và sự nghiệp
phát triển.
Con ngời sáng tạo ra lịch sử của mình. Song vai trò quyết định đối với
lợi của các cuộc cách mạng. Trong các cuộc cách mạng vĩ đai làm thay đổi
hình thái kinh tế xã hội, quần chúng nhân dân tham gia đông đảo, tự giác,
tích cực thì cách mạng mới có thể giành thắng lợi. Cách mạng là ngày hội
của quần chúng, là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải sự nghiệp riêng
của một số cá nhân.
* Quần chúng nhân dân có vai trò to lớn, không thể thay thế, trong sản
xuất tinh thần.