Website: Email : Tel : 0918.775.368
A- Đặt vấn đề.
Em chọn đề tài này vì vấn đề con ngời và giải phóng con ngời luôn
luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng đợc đặt lên hàng đầu trong
công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới.
Hiện nay vẫn còn có rất nhiều ngời, một bộ phận ngời vẫn cha hiểu
biết về nguồn gốc và bản chất của con ngời và vai trò to lớn của con ngời
trong xã hội và trong lịch sử. Và ở nhiều nơi trên thế giới, mọi lúc, mọi nơi
vẫn còn có những con ngời bị ngợc đãi, đó là những t tởng phân biệt chủng
tộc, khinh bỉ con ngời, coi con ngời nh súc vật, kẻ đi làm thuê... Đặc biệt
nạn trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại, phụ nữ bị phân biệt đối xử tàn bạo
luôn luôn phải làm những công việc nặng nhọc hay bị đánh đập, ngợc đãi.
Bị đối xử bất công trong quan hệ xã hội và không đợc tham gia vào các
công việc chính trị, thậm chí những công việc trong nội bộ gia đình.
Đề tài này cung cấp đầy đủ, giúp cho em hiểu đợc về nguồn gốc và
bản chất của con ngời, ý nghĩa cuộc sống của giai đoạn lịch sử, con ngời
có quan hệ với tự nhiên và đồng loại nh thế nào; vì đâu ở mỗi con ngời, mỗi
cộng đồng ngời có những nét độc đáo về t tởng, tình cảm, tâm lý, tính
cách, nghị lực, tài năng.
Đề tài này giúp em nhận thức đợc vai trò của con ngời, quần chúng
nhân dân và cá nhân trong lịch sử. Từ đó thôi thúc em cũng nh tất cả mọi
ngời phải làm gì để có cuộc sống xứng đáng với bản thân mình, vì vậy rút
ra đợc phơng hớng và biện pháp để xây dựng con ngời trong thời đại mới
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
B- Nội dung
I- Vấn đề con ngời và giải phóng con ngời .
Vấn đề con ngời, theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ nội dung nghiên
cứu các khoa học xã hội và nhân văn. Chủ nghĩa Mác - Lênin thực chất là
học thuyết về giải phóng con ngời và giải phóng loài ngời. Vấn đề con ngời
gốc, bản chất con ngời, t tởng thống trị trong thời cổ đại và trung đại vẫn là
quan điểm duy tâm. Thời cận đại, nhận thức về nguồn gốc và bản chất con
ngời có một bớc tiến đáng kể. Triết học duy vật và duy tâm đều phản ánh
những vấn đề mới mẻ do thời đại đặt ra. Các nhà duy vật Pháp thế kỷ
XVIII và Phoiơbắc, nhà duy vật lớn trong triết học cổ điển Đức, đều phê
phán mạnh mẽ quan điểm duy tâm, thần bí và tìm cách giải thích nguồn
gốc bản chất con ngời theo quan điểm duy vật. Với sự ra đời thuyết tiến
hoá các loài Đácuyn, các nhà triết học duy vật nói trên đã có căn cứ khoa
học để chỉ ra nguồn gốc phi thần thành của con ngơì. "Không phải chúa đã
tạo ra con ngời theo hình ảnh của chúa mà chính con ngời đã tạo ra chúa
theo hình ảnh của con ngời". Lời nói sắc sảo này của Phoiơbắc đã đợc
C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao khi hai ông nói về vai trò của các nhà
duy vật trong việc phê phán những quan điểm duy tâm thần bí về nguồn
gốc và bản chất của con ngời. C.Mác đã khái quát bản chất con ngời qua
câu nói nổi tiếng sau đây:
"Phoiơbắc hoà tan theo bản chất tôn giáo vào bản chất con ngời. Nhng
bản chất con ngời không phải là một cái trừu tợng cố hữu của cá nhân riêng
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những
quan hệ xã hội" (5.3-11).
Với quan điểm duy vật triệt để và phơng pháp biện chứng, Mác đã đa
ra một quan niệm hoàn chỉnh về khái niệm con ngời, cũng nh về bản chất
của con ngời. Chủ nghĩa Mác phân biệt rõ hai mặt trong khái niệm con ng-
ời: mặt sinh vật và mặt xã hội.
C.Mác không hề phủ nhận mặt tự nhiên, mặt sinh học khi xem xét con
ngời với t cách là những cá nhân sống. Mác viết: "vì vậy, điều cụ thể đầu
tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan
hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của giới tự nhiên".
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo Mác, "mọi khoa ghi chép lịch sử đều phải xuất phát từ những cơ sở tự
tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình (5.3-29)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Con ngời là một bộ phận của tự nhiên, nhng trong mối quan hệ với tự
nhiên con ngời hoàn toàn khác con vật.
C.Mác phân biệt rõ ràng: "Về mặt thể xác, con ngời chỉ sống bằng
những sản phẩm tự nhiên ấy, dù là dới hình thức thực phẩm, nhiên liệu, áo
quần, nhà ở, v.v... về mặt thực tiễn, tính phổ biến của con ngời biểu hiện ra
chính ở cái phổ biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể vô cơ của con ng-
ời:. (1.117).
Ông kết luận: "Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con ngời
thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên" (1.115-120). Câu nói sâu sắc này
nêu lên tính tất yếu của sự hoà hợp giữa con ngời và tự nhiên. Nhờ hoạt
động thực tiễn, con ngời quan hệ với tự nhiên cũng có nghĩa là con ngời
quan hệ với bản thân mình, bởi tự nhiên là "thân thể vô cơ của con ngời".
(1.117)
Tính loài của con ngời không phải tính loài trừu tợng. Nó cũng có
nghĩa là tính xã hội, và loài ngời chính là "xã hội ngời".
Con ngời có tính xã hội trớc hết bởi bản thân hoạt động sản xuất của
con ngời là hoạt động mang tính xã hội. Trong hoạt động sản xuất, con ng-
ời không thể tách khỏi xã hội. Tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho con
ngời khác con vật. Hoạt động của con vật chỉ phục vụ nhu cầu trực tiếp của
nó, còn hoạt động của con ngời gắn liền với xã hội và phục vụ cho cả xã
hội. Xã hội cùng với tự nhiên là điều kiện tồn tại của con ngời. Tính xã hội
của con ngời thể hiện ở hoạt động và giao tiếp xã hội. Hoạt động của con
ngời không phải hoạt động theo bản năng nh động vật mà là hoạt động có ý
thức. T duy con ngời phát triển trong hoạt động và giao tiếp xã hội, trớc hết
là trong hoạt động lao động sản xuất. Với ý nghĩa trên đây, có thể nói con
ngời phân biệt với động vật ở t duy mà ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của t
duy. Bởi cơ sở của t duy là hoạt động thực tiễn xã hội. "Những miền sâu
nhiên là tiến hoá theo bản năng, nhng khi ý thức và ngôn ngữ đã xuất hiện
và phát triển thì lao động trở thành lao động có tính chất xã hội.
ở mỗi bớc tiến lên của lao động xã hội, của tiếng nói và ý thức , lại
hình thành ra những con ngời mới của hoạt động liên hệ thần kinh trong vỏ
não. Và trên cơ sở ấy thì lựa chọn tự nhiên cố định trên một cơ cấu di
truyền trên vỏ não, làm cho con đờng liên hệ thần kinh mới xuất hiện trong
thực tiễn lao động.
Tầng trên của vỏ não ngời chính là ở di truyền của bản năng lao động
xã hội của con ngời nguyên thuỷ mà c.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận định là
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bản năng có ý thức. Do đó, bản năng lao động xã hội với t cách là bản năng
có ý thức, chính là chức năng cơ bản của tầng trên vỏ não ngời.Đấy là cái
vốn di truyền đã đợc xây dựng trong sự tiến hoá từ tổ tiên vợn lên ngời,
thông qua nhiều bớc nhảy vọt. Mỗi bớc nhảy vọt này là kết quả của sự phát
triển của lao động xã hội ở giai đoạn trớc trong quá trình trở thành ngời. Dĩ
nhiên kết quả đó phải có những điều kiện tự nhiên nhất định.
Lao động xã hội quyết định đời sống con ngời, nên bản năng sinh vật
đợc thu hút và hội nhập vào bản năng lao động xã hội, cái bản năng xã hội
đặc thù của con ngời.
Khi C.Mác chỉ ra rằng bản chất con ngời, trong tính hiện thực của nó,
là tổng hoà mối quan hệ xã hội thì ông không dừng lại ở bản năng sinh vật
của con ngời. C.Mác nói đến con ngời là nói đến con ngời hiện thực, nói
đến bản năng xã hội của con ngời trong mọi quan hệ của đời sống.
2. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có vị trí quan trọng đặc biệt
trong học thuyết của Mác. Các tác phẩm của các nhà kinh điểm Mác -
Lênin đã đề cập đến vấn đề này một cách toàn diện, sâu sắc có hệ thống
trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử.
2.1.Khái niệm cá nhân và xã hội.
Trong bất cứ xã hội nào, cá nhân cũng không tách rời xã hội. Cá nhân
là hiện tợng có tính lịch sử. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội biến đổi trong
sự phát triển của lịch sử. Mối quan hệ đó trong xã hội cổ đại không giống
trong xã hội trung đại,xã hội cận đại. Điều đó không chỉ liên quan tới trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất, trình độ văn hoá, văn minh, mà liên
quan tới sự thay đổi của phơng thức sản xuất, của hình thái kinh tế - xã hội.
Chỉ khi thay đổi hình thái kinh tế - xã hội thì quan hệ cá nhân - xã hội mới
có thay đổi căn bản.
* Trong xã hội nguyên thuỷ, quan hệ giữa cá nhân và xã hội không có
đối kháng. Lợi ích cá nhân phụ thuộc trực tiếp vào lợi ích sống còn hàng
ngày của cộng đồng. Mỗi con ngời của xã hội nguyên thuỷ cha trở thành
những cá nhân theo nghĩa đầy đủ của nó. Trong xã hội này không những
lợi ích cá nhân mà vai trò của cá nhân cũng "tan biến" trong cộng đồng.
* Đến khi xã hội phát triển sang giai đoạn mới cao hơn, xã hội phân
chia thành các giai cấp đối kháng, xuất hiện hình thái mới trong quan hệ cá
nhân - xã hội: Giữa cá nhân và xã hội vừa có thống nhất vừa có mâu thuẫn
sâu sắc. Những con ngời thuộc giai cấp bị bóc lột nh nô lệ, nông nô, vô sản
thiếu những điều kiện xã hội để trở thành những cá nhân thật sự. Mỗi con
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngời thuộc các giai cấp ấy không thể khẳng định cá nhân mình trên cơ sở
làm chủ hoạt động lao động cũng nh những thành quả lao động của mình.
Các thành viên giai cấp thống trị, là những con ngời mới có đặc quyền, đặc
lợi đợc khẳng định với t cách cá nhân và trở thành kiểu cá nhân đặc trng
của thời đại (chẳng hạn cá nhân phong kiến, cá nhân t sản...)
* Trong xã hội t bản, giai cấp t sản nói nhiều đến cá nhân, cá tính, tự
do cá nhân..., thực chất là nói đến cá nhân t sản. C.Mác và Ph. Ăngghen đã
chỉ rõ, trong lao động làm thuê, ngời vô sản mất hết cá tính. Lợi ích của
giai cấp t sản, của xã hội t bản đối lập với lợi ích của giai cấp công nhân và
lợi ích cánhân ngời công nhân.