LUẬN VĂN:
Mâu thuẫn biện chứng và sự vận dụng nó
trong quá trình chuyển sang kinh tế thị
trường ở Việt Nam
Lời mở đầu
Cùng với xu thế của thời đại và thế giới thì việc chuyển sang nền kinh tế thị
trường của Việt Nam là tất yếu. Vào cuối những năm của thập kỷ 70 và đầu những
năm của thập kỷ 80 khi mà sự khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam đã lên đến đỉnh
điểm. Trước tình hình này Đảng và Nhà nước ta đã quyết định chuyển đổi nền
kinh tế đất nước từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường,
mà điểm mốc là Đại hội Đảng VI năm 1986.
Nền kinh tế thị trường tuy là một nền kinh tế phát triển nhất cho đến nay
trình phát triển cao của các tư tưởng triết học nhân loại các quan niệm khác nhau
về mâu thuẫn cũng thay đổi. Mỗi thời đại, mỗi trường phái lại có những lý giải
khác nhau về mâu thuẫn, về những mặt đối lập, vì triết học luôn xuất phát từ
những bối cảnh lịch sử nhất định.Thứ nhất là triết học thời cổ đại mà điển hình là 3
nền triết học lớn đó là Trung Quốc, ấn Độ và Hy Lạp.
Triết học Trung Hoa đã xuất hiện rất lâu vào cuối thiên niên kỷ thứ II trước
công nguyên. Tuy nhiên phải đến cuối đời Xuân Thu - Chiến quốc, các hệ thống
triết học lớn của Trung Quốc mới xuất hiện. Những quan điểm biện chứng về mâu
thuẫn thời kỳ này đã xuất hiện tuy còn sơ khai. Ví dụ như trường phái Âm -
Dương, Phái Âm - Dương nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất
tuyệt đối cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng. Trái lại
tất cả bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập được gọi là sự thống nhất của
Âm - Dương. Âm - Dương là đối lập nhau nhưng là điều kiện tồn tại của nhau.
Hơn nữa cái nguyên lý ấy còn được giải thích theo nguyên tắc của luật phi bài
trung. Quy luật này thừa nhận mọi thực tại trên tinh thần biện chứng là trong cái
mặt đối lập kia - ít nhất cũng ở trạng thái tiềm năng sinh thành. Sang đến phái Đạo
Gia mà người sáng lập là Lão Tử, ông cũng có những tư tưởng biện chứng độc đáo
về sự thống nhất biện chứng của mặt đối lập này bao hàm khả năng của mặt đối
lập. Ông nói “ Có và không tương sinh lẫn nhau, dễ và khó tạo nên nhau, ngắn và
dài làm rõ nhau, cao và thấp tựa vào nhau, trước và sau theo nhau”. Tất cả trong
đó, mỗi mặt đều trong quan hệ với mặt đối lập, không có mặt này thì cũng không
có mặt kia và giữa chúng cũng chỉ là tương đối “ ai cũng cho cái đẹp là đẹp do đó
sinh ra quan niệm về cái xấu, ai cũng cho điều thiện là thiện mà sinh ra quan niệm
về cái ác.
Triết học ấn Độ thì đưa ra phạm trù “vô ngả” “vô thường” (của trường phái
Phật Quốc). “Một tồn tại“ nào đó chẳng phải là nó mà là “tổng hợp “hội họp của
những cái không phải là nó mà nhờ hội đủ nhân - duyên. Trong cái “Một“ đã bao
Đây là một trong những học thuyết giá trị nhất của ông. Ông coi mâu thuẫn là
nguồn gốc của vận động, là nguyên lý của sự phát triển. Theo ông, lúc đầu bản
chất là sự đồng nhất giữa những “tính quy định” rồi trong sụ đồng nhất ấy bộc lộ
ra những khác biệt, rồi khác biệt lại chuyển thành những mặt đối lập và cuối cùng
xuất hiện mâu thuẫn. Song theo ông mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn của “ý niệm
tuyệt đối” chứ không phải của thế giới vật chất. Hêghen cũng đưa ra tư tưởng cho
rằng hiện tượng và bản chất thống nhất với nhau, bản chất thể hiện ra trong hiện
tượng và hiện tượng là thể hiện của bản chất. Hêghen cùng phân tích một cách
biện chứng khái niệm hiện thực, coi hiện thực là thống nhất giữa bản chất với tồn
tại. ông phê phán quan điểm siêu hình về tất nhiên và ngẫu nhiên, khả năng và
hiện thực
Song song với những quan điểm biện chứng về mâu thuẫn, trong lịch sử
triết học cũng xuất hiện sự đấu tranh gay gắt giữa các quan điểm này với các quan
điểm siêu hình của những nhà siêu hình học, họ phủ nhận mâu thuẫn bên trong của
các sự vật và hiện tượng. Theo họ sự vật là một cái gì đồng nhất, thuần tuý, không
có mâu thuẫn trong bản thân nó. Tư duy của người ta về sự vật có thể còn mâu
thuẫn, song như vậy thì tư duy đó sai lầm, không đáng tin cậy. Những người theo
quan điểm siêu hình chỉ thừa nhận có những sự đối kháng, sự xung đột giữa các sự
vật và hiện tượng với nhau, nhưng không cho đó là quy luật.
2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn.
Triết học cổ điển Đức đã tạo tiêu đề cơ sở lý luận trực tiếp cho sự ra đời của
triết học Mác. Vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Nó là sự kết tinh những giá trị
cao quý của tư duy triết học, văn hoá, lịch sử nhân loại. Sự ra đời của triết học
Mác là một tất yếu lịch sử, phù hợp với những tiền đề kinh tế - xã hội cũng như
các tiền đề về lý luận và khoa học tự nhiên lúc bấy giờ. Phương pháp tư duy siêu
hình từng thống trị trong khoa học và trong triết học duy vật đã bị những phát
đặc biệt là sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càng phải
chứa đựng những mâu thuẫn, như vậy Sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh
vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là một cái khác. Như vậy, sự sống cũng
là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, tự đề ra và tự
giải quyết không ngừng, và khi mâu thuẫn đã hết thì sự sống cũng không còn nữa
vì cái chết đã xảy đến. Cũng như chúng ta đã thấy rằng trong lĩnh vực tư duy cũng
vậy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn; chẳng hạn như mỗi mâu thuẫn giữa
năng khiếu nhận thực vô tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tế của
năng khiếu ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị
hạn chế trong những năng khiếu nhận thức, mâu thuẫn này được giải quyết trong
sự nối tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp đó ít ra đối với chúng ta, thực tế cũng là vô
tận, và được giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận.
* Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:
Để hiểu được nội dung quy luật, trước hết cần nắm được khái niệm “mặt
đối lập”. Không nên hiểu khái niệm này một cách thô sơ, đơn giản theo kiểu
không có sống thì không có chết, chẳng có trên thì cũng chẳng có dưới, có thuận
lợi mới có khó khăn Khái niệm mặt đối lập trong quy luật mâu thuẫn là sự khái
quát những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng trái ngược nhau trong
một chỉnh thể làm nên một sự vật hiện tượng.
Cũng không nên nhầm lẫn mặt đối lập với mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn phải
có hai mặt đối lập, nhưng không phải bất kỳ mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu
thuẫn. Chỉ những mặt đối lập nào nằm trong một chỉnh thể có liên hệ khăng khít
với nhau, tác động qua lại với nhau mới tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn là một
chỉnh thể, trong đó mặt đối lập vừa thống nhất với nhau vừa đấu tranh với nhau.
Trong một mâu thuẫn, hai mặt đối lập có quan hệ thống nhất với nhau. Khái
niệm “thống nhất” trong quy luật mâu thuẫn có ý nghĩa là hai mặt đối lập liên hệ
với nhau, ràng buộc nhau và quy định nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề để
lập này không nằm yên bên nhau, mà chúng luôn đấu tranh với nhau. Khái niệm
“đấu tranh” trong quy luật mâu thuẫn, được Lê - Nin đặt trong dấu ngoặc kép, vì
vậy không nên hiểu khái niệm “đấu tranh” theo một nghĩa đơn giản. Khái niệm
“đấu tranh” giữa các mặt đối lập có nghĩa là các mặt đối lập bài trừ nhau, phủ định
nhau. Sự bài trừ nhau, phủ định nhau trong thế giới vật chất được thể hiện dưới
các dạng rất khác nhau. Ví dụ: Sự đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
được diễn ra dưới dạng xung đột với nhau về mọi mặt rất gay gắt và quyết liệt chỉ
có thể thông qua cách mạng xã hội bằng nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới giải
quyết được mâu thuẫn một cách cơ bản. Sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập đồng
hoá và dị hoá, sức hút và sức đẩy, vi phân và tích phân thì lại diễn ra dưới tác
động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, vv
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp. Quá trình ấy có
thể chia ra từng giai đoạn. Mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng của nó. Khi
mới xuất hiện mâu thuẫn thường được biểu hiện ở sự khác nhau của hai mặt. Song,
không phải bất cứ sự khác nhau nào của các mặt cũng là mâu thuẫn. Chỉ có hai
mặt khác nhau nào liên hệ hứu cơ với nhau trong một chỉnh thể và có khuynh
hướng phát triển ngược nhau thì mới hình thành bước đầu của mâu thuẫn. Trong
quá trình phát triển của mâu thuẫn sự khác nhau đó biến thành sự đối lập. Khi hai
mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt, nếu có điều kiện chín muồi
thì hai mặt đối lập sẽ chuyển hoà lẫn nhau, thì mâu thuẫn được giải quyết. Kết quả
là sự thống nhất của hai mặt đối lập cũng bị phá huỷ, sự thống nhất của hai mặt đối
lập được hình thành cùng với mâu thuẫn mới. Mâu thuẫn mới này lại triển khai,
phát triển và lại được giải quyết làm cho sự vật mới luôn luôn xuất hiện làm cho
sự vật mới thay thế sự vật cũ. Sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập đã làm cho các sự
vật không thể tồn tại một cách vĩnh viễn. Vì thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập là
nguồn gốc,là động lực bên trong của động lực và phát triển. Với ý nghĩa đó Lê
Nin viết “ phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”.
Bất cứ sự thống nhất của các mặt đối lập cụ thể nào cũng đều có tính chất
Phần II
Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam.
1. Thực chất của bước chuyển đổi cơ chế trong nền kinh tế ở Việt Nam.
Trước khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì nền kinh tế của nước
ta là nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Trong những năm kháng chiến chống
Mỹ nền kinh tế nàyđã phát huy tác dụng bằng việc huy động sức người, sức của,
toàn dân đồng lòng tập trung cho kháng chiến. Sau năm 1975 thống nhất đất nước,
Việt Nam vẫn duy trì nền kinh tế chỉ huy trước đây. Do các quan hệ kinh tế lúc
này đã thay đổi nhiều, việc áp dụng cơ chế quản lý cũ đã làm xuất hiện nhiều hiện
tượng tiêu cực. Những hậu quả xấu như tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá, môi
trường bị ô nhiễm, sản xuất kém hiệu quả do sự quản lý không có hiệu quả. Đến
VII đã xác định dưới góc độ khoa học, việc chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang
nền kinh tế thị trường là đúng đắn. Nó phù hợp với thực tế của nước ta và xu thế
chung của thời đại.
Trước hết, ta có thể định nghĩa khái quát nền kinh tế thị trường là: tổng thể
các nhân tố, quan hệ cơ bản vận động với sự chi phối của các quy luật thị trường
trong môi trường cạnh tranh nhằm mục tiêu lợi nhuận.Nhân tố cơ bản của cơ chế
thị trường là cung cầu và giá cả thị trường.
* Các đặc trưng của nền kinh tế thị trường:
Một là: Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. Các chủ thể kinh tế tự
bù đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất và kinh
doanh của mình. Các chủ thể kinh tế được tự do liên kết, liên doanh, tự do tổ chức
quá trình sản xuất theo luật định.
Hai là: Trên thị trường hàng hoá rất phong phú. Người ta tự do mua, bán
hàng hoá. Trong đó người mua chọn người bán. Nguời bán tìm người mua. Họ gặp
nhau ở giá cả thị trường. Đặc trưng này phản ánh tính ưu việt hơn hẳn của kinh tế
thị trường so với kinh tế tự nhiên.
Ba là: Giá cả dược hình thành ngay trên thị trường. Giá cả thị trường vừa là
biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường, vừa chịu tác động của quan hệ cạnh tranh
và quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ. Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả là
kết quả của sự thương lượng và thoả thuận giữa người mua và người bán. Đặc
trưng này phản ánh yêu cầu của quy luật lưu thông hàng hoá. Trong quá trình trao
đổi mua bán hàng hoá, người bán luôn luôn muốn bán với giá cao, người mua lại
luôn muốn mua với giá thấp. Đối với người bán, giá cả phải đáp ứng nhu cầu bù
đắp được chi phí và có doanh lợi. Chi phí sản xuất là giới hạn dưới, là phần cứng
của giá cả, còn doanh lợi càng nhiều càng tốt. Đối với người mua, giá cả phải phù
hợp với lợi ích giới hạn của họ. Giá cả thị trường dung hoà được cả lợi ích của
người mua lẫn lợi ích của người bán.
sang cơ chế mới.
Như ta đã biết nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đang còn trong giai đoạn
sơ khai, trình độ quản lý tiếp cận đối với nền kinh tế thị trường còn yếu, hệ thống
các bộ chưa có kinh nghiệm về nền kinh tế thị trường, do vậy khó có thể tránh
khỏi những mâu thuẫn trong quá trình phát triển, thể hiện ở một số mâu thuẫn đặc
trưng sau:
a. Mâu thuẫn giữa cơ chế cũ và cơ chế mới
Trải qua một thời gian dài nền kinh tế được điều khiển bằng cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, nền kinh tế hoạt động theo mệnh lệnh bắt buộc đã tạo
nên một phong cách làm việc trì trệ, thiếu trách nhiệm, sản xuất đình đốn. Chính vì
vậy khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở đã khiến nền kinh tế
gặp rất nhiều khó khăn.
Các hoạt động kinh tế vẫn còn mang nặng tính tập trung quan liêu bao cấp.
Các hoạt động thông qua các cơ quan trung gian nhà nước cón rất đẫy đà, thủ tục
phiền hà gây tốn thời gian vô ích, cán bộ thì quan liêu cửa quyền dẫn đến hạn chế
sự phát triển của nền kinh tế. Hoạt động sản xuất của các cơ quan nhà nước khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường không bắt kịp nhịp độ sản xuất do máy móc cũ
kỹ lạc hậu, cán bộ thì trình độ quản lý kém quen với cơ chế giao nộp, không quan
tâm đến chất lượng sản phẩm Sản phẩm kém cạnh tranh không so sánh được
các hàng hoá nhập ngoại và các xí nghiệp liên doanh Sự sụp đổ, phá sản của
các công ty này như nhà máy đệt Nam Định, niềm tự hào của ngành công nghiệp
tiêu dùng nước ta thời bao cấp. Mặt khác nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
đã tạo nên cho con người một thói quen rề rà trong công việc, sản xuất kém nhạy
bén năng động khi chuyển sang nền kinh tế thị trường những con người này
vẫn giữ phong cách cũ cản trở sản xuất. Các chính sách của nhà nước vẫn chưa
dựa hẳn trên các quy luật của thị trường. Chính vì vậy đã tạo nên những cản trợ
cho nền kinh tế. Nhà nước vẫn giữ độc quyền trong một số ngành như điện, nước,
xã hội không có sự bóc lột, không có sự phân hoá giàu nghèo và mọi người bình
đẳng với nhau đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý tích cực của
Nhà nước, tính tự giác cao của các chủ thể trong nền kinh tế, khắc phục sự chênh
lệch quá đáng giữa các tầng lớp dân cư, quá trình phân phối lần đầu.
d. Mâu thuẫn giữa mặt tích cực và tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường có tính hai mặt của nó là tích cực và tiêu cực.
Mặt tích cực: Cơ chế thị trường có khả năng tự điều tiết sản xuất xã hội,
tức là tự động phân bố các nguồn tài nguyên sản xuất vào các khu vực, các ngành
kinh tế mà không có bất cứ sự điều tiết từ trung tâm nào.
Cơ chế thị trường tự động kích thích sự phát triển sản xuất, tăng trưởng
kinh tế cả theo chiều rộng và chiều sâu. Tăng cường chuyên môn hoá sản xuất.
Trong giai đoạn đầu của sự phát trirển kinh tế thị trường đã phân hoá những ngưòi
sản xuất thành những người sản xuất và nhứng người quản lý. Khi phát triển hơn,
nền kinh tế thị trường tiếp tục phân hoá và chuyên môn hoá các nhà kinh doanh
vào các ngành, các lĩnh vực cụ thể mà họ có ưu thế nhất.
Người tiêu dùng quyết định việc sản xuất loại hàng hoá gì, khối lượng bao
nhiêu. Sản xuất bằng phương thức nào được quyết định bởi sự cạnh tranh giữa
những người sản xuất.
Mặt tiêu cực:
Bên cạnh những ưu điểm, nền kinh tế thị trường cũng chứa đựng rất nhiều
khuyết tật, nó không phải là hiện thân của sự hoàn hảo. Các khuyết tật của nó rất
nhiều và đặc biệt có những mục tiêu xã hội mà cơ chế thị trường có hoạt động tốt
nhất cũng không thể đạt được. Mục đích của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận, do đó họ có thể lạm dụng tài nguyên xã hội, vì vậy xã hội phải chịu một
khoản phụ phí do khai thác khó khăn hơn. Có thể gây ra ô nhiễm không khí và
nguồn nước mà xã hội phải gánh chịu.
Gây ra sự bất bình đẳng lớn của xã hội. sự phân hoá giàu nghèo là khó Tài liệu tham khảo
A/ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
B/ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
C/ Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000 - NXB Sự thật
Hà Nội 1991 - Trang 12
D/ Tạp chí triết học, số 1 (101), tháng 2 - 1998.
Đ/ Triết học Mác - Lênin, NXB Chính trị quốc gia.
mục lục
Lời mở đầu 1
Phần I: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật về mâu thuẫn 3
1. Khái quát về lịch sử các tư tưởng triết học về mâu thuẫn và các mặt đối lập 3
2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn. 6
Phần II: Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam. 12
1. Thực chất của bước chuyển đổi cơ chế trong nền kinh tế ở Việt Nam 12
2. Những biểu hiện mâu thuẫn trong quá trình chuyển đổi cơ chế cũ sang cơ
chế mới 15
Kết luận 19
Tài liệu tham khảo 20