Doanh nghiệp nước ngoài tại VN. Thực trạng và giải pháp - Pdf 12

Trường Đại học kinh tế quốc dân – Khoa Tài chính Ngân hàng
LỜI NÓI ĐẦU
Thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của sự toàn cầu hóa, hứa hẹn nhiều biến
chuyển. Những ảnh hưởng ngày càng lan rộng của các công ty đa quốc gia cùng với sự
phát triển như vũ bão của các khoa học công nghệ đã thúc đẩy cả xã hội cùng chạy đua
trên con đường phát triển. Quá trình chuyên môn hóa, hợp tác hóa ngày càng được
chuyên sâu góp phần tăng tổng sản phẩm toàn xã hội.
Để hội nhập với nền kinh tế Thế giới, chúng ta cũng phải có sự chuyển mình để
không bị gạt ra khỏi vòng quay của sự phát triển. Trong bối cảnh đó, xu hướng mở cửa,
hợp tác kinh tế với các nước là chủ chương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.
Ngày19/12/1987, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật đầu tư trực tiếp nước
ngoài, cho phép các tổ chức, cá nhân là người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Qua đó
đã thu hút được một lượng vốn lớn, tạo lên số lượng các Doanh nghiệp nước ngoài đông
đảo, tuy nhiên quá trình đó còn gặp nhiều thách thức, cần có sự nỗ lực từ cả hai phía.
Cũng từ suy nghĩ trên, em đã chọn đề tài “Doanh nghiệp nước ngoài tại Việt
Nam. Thực trạng và giải pháp”, để có cái nhìn sâu sắc hơn và tác động của nó tới nền
kinh tế nước ta.
Trong quá trình làm đề án này, em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình
của Thầy giáo PGS-TS Hoàng Xuân Quế để em có thể hoàn thành đề tài, nhưng do nhận
thức còn hạn chế và thời gian nghiên cứu chưa nhiều nên không tránh khỏi còn thiếu
sót. Vì vậy, em mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy cô.
Em xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, ngày 7 tháng 6 năm 2010.
Sinh viên

Tạ Thị Thúy Huyền
Đề án chuyên ngành
1
Trường Đại học kinh tế quốc dân – Khoa Tài chính Ngân hàng
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI TẠI

măng, 33% sản phẩm điện/điện tử, 76% thiết bị y tế.
DNNN cũng đã giúp Việt Nam có một bước tiến lớn hơn vào các thị trường quốc tế, cải
thiện tiềm năng xuất khẩu của Việt nam. DNNN chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các
Đề án chuyên ngành
2
Trường Đại học kinh tế quốc dân – Khoa Tài chính Ngân hàng
ngành công nghiệp chủ đạo của Việt Nam, cụ thể là 42% công nghiệp giầy da, 25%
trong may mặc và 84% trong điện tử, máy tính và các linh kiện.
Đóng góp của DNNN cho Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001 - 2005 là
khoảng 3,67 tỷ đô-la Mỹ, với mức tăng nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước, năm
2006 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 36,3% so với năm 2005.
Bình quân trong thời kỳ 2001 – 2006 khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo
việc làm thêm cho khoảng 11 vạn việc làm mỗi năm đưa tổng số lao động trực tiếp của
khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tính đến cuối năm 2006 lên 1, 13 triệu người.
Ngoài ra khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra khoảng vài triệu lao động
gián tiếp trong 6 năm qua.
DNNN đã hỗ trợ Việt Nam một cách tích cực trong việc mở rộng quan hệ kinh tế
đối ngoại để Việt nam gia nhập ASEAN, ký kết thoả thuận khung với EU, bình thường
hoá quan hệ và thoả thuận thương mại song phương với Mỹ.
2. Đối với từng lĩnh vực
Trên phương diện cơ cấu kinh tế, DNNN được tập trung và lĩnh vực sản xuất.
Công nghiệp nặng được xếp hàng đầu với khoảng 21% tổng DNNN đăng ký, tiếp theo
là xây dựng và khách sạn, nhà ở.
Nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 6% tổng số vốn cam
kết mặc dù Chính phủ Việt Nam đã áp dụng nhiều biện pháp ưu đãi để khuyến khích
DNNN trong những lĩnh vực này.
Sự đóng góp của DNNN vẫn thể hiện một vị trí tương đối nhỏ trong các lĩnh vực
dịch vụ do vẫn còn rào cản lớn. Các lĩnh vực này bao gồm cả ngân hàng, viễn thông,
quảng cáo, văn hoá, y tế và giáo dục. Với mối lo nếu như mở rộng các lĩnh vực này sẽ
ảnh hưởng lớn đến các công ty nội địa hoặc đưa các lĩnh vực này nằm ngoài sự kiểm

Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông. Trên
bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’
Bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam, phần rộng nhất trên đất liền dài chừng 500 km;
nơi hẹp nhất dài gần 50 km.
Việt Nam có ba mặt Đông, Nam và Tây-Nam trông ra biển với bờ biển dài 3.260
km, từ Móng Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phía Tây Nam. Phần Biển Đông thuộc chủ
quyền Việt Nam mở rộng về phía Đông và Đông Nam, có thềm lục địa, các đảo và quần
đảo lớn nhỏ bao bọc. Chỉ riêng Vịnh Bắc Bộ đã tập trung một quần thể gần 3.000 hòn
đảo trong khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, các đảo Cát Hải, Cát Bà, đảo Bạch
Long Vĩ... Xa hơn là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phía Tây - Nam và Nam có các
nhóm đảo Côn Sơn, Phú Quốc và Thổ Chu.
Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, có thể dễ dàng qua lại cả
Trung Quốc lẫn các nước ASEAN và có thể trở thành một đối tác sản xuất chặt chẽ cho
cả hai. Đặc biệt, miền Bắc tiếp giáp với biển Đông và có tiềm năng liên kết được với
nhịp độ phát triển của khu vực năng động này và đó là một ưu thế vượt trội của Việt
Nam so với các nước ASEAN trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2. Sự ổn định về kinh tế - xã hội
Nhìn chung, Việt nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị và xã hội
ổn định so với các nước khác trong khu vực. Tổ chức Tư vấn Rủi ro Kinh tế và Chính
trị (PERC) tại Hồng Kông xếp Việt nam ở vị trí thứ nhất về khía cạnh ổn định chính trị
và xã hội sau sự kiện 11 tháng Chín. So với các nước ASEAN khác như In-đô-nê-xi-a,
Mã-lai-xi-a, Phi-líp-pin, và Trung quốc, Việt nam có ít các vấn đề liên quan đến tôn giáo
và mâu thuẫn sắc tộc hơn. Sau khi đưa ra chính sách “đổi mới”, Việt nam đã và đang
đạt được mức tăng trưởng GDP ổn định. Sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô đang
được duy trì. Việt nam được đánh giá là nơi an toàn để đầu tư. Đảng cộng sản Việt nam
đã điều hành đất nước trong nhiều thập kỷ qua và không ai mong muốn có những thay
đổi trong môi trường chính trị. Các giới chức đã ủng hộ một chính sách cải cách và quá
Đề án chuyên ngành
5
Trường Đại học kinh tế quốc dân – Khoa Tài chính Ngân hàng

Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm
1/7/2006 ước tính là 43,44 triệu người, tăng 2,1% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ
trọng lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục giảm
từ 57,2% trong năm 2005 xuống 55,7% trong năm 2006 để chuyển dịch sang các khu
vực có năng suất lao động cao hơn, phù hợp với chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước; tương ứng, tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng tiếp tục tăng từ
Đề án chuyên ngành
6
Trường Đại học kinh tế quốc dân – Khoa Tài chính Ngân hàng
18,3% lên 19,1% và khu vực dịch vụ từ 24,5% lên 25,2%. Trong các thành phần kinh tế,
lao động thuộc khu vực nhà nước vẫn tăng nhẹ so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của
lao động khu vực thành thị tiếp tục giảm, đạt 4,4%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp của nam là
4,8%, của nữ là 3,9%.
LAO ĐỘNG ĐANG LÀM VIỆC TẠI THỜI ĐIỂM 1/7 HÀNG NĂM
PHÂN THEO LOẠI HÌNH VÀ NGÀNH KINH TẾ
Nghìn người
Năm 2005 Năm 2006
TỔNG SỐ 42542.7 43436.1
Phân theo loại hình kinh tế
Nhà nước 4127.1 4009.8
Ngoài Nhà nước 37742.2 38725.9
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 673.4 700.4
Phân theo khu vực kinh tế
Nông, lâm nghiệp và thủy sản 24351.5 24172.3
Công nghiệp và xây dựng 7785.3 8296.9
Dịch vụ 10405.9 10966.9
5. Tài nguyên thiên nhiên phong phú
Tài nguyên đất: Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi cho phát
triển nông, lâm nghiệp. Việt Nam có hệ thực vật phong phú, đa dạng (khoảng 14 600
loài thực vật). Thảm thực vật chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới, gồm các loại cây ưa ánh

thường gây ra lũ lụt.
Nguồn suối nước khoáng cũng rất phong phú: suối khoáng Quang Hanh (Quảng
Ninh), suối khoáng Hội Vân (Bình Ðịnh), suối khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận), suối
khoáng Dục Mỹ (Nha Trang), suối khoáng Kim Bôi (Hoà Bình) v.v..
Quần thể động vật ở Việt Nam cũng phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều
loài thú quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ của thế giới. Hiện nay, đã liệt kê được 275 loài
thú có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng thể, 2.400 loài cá, 5.000 loài sâu
bọ. (Các rừng rậm, rừng núi đá vôi, rừng nhiều tầng lá là nơi cư trú của nhiều loài khỉ,
vẹc, vượn, mèo rừng. Các loài vẹc đặc hữu của Việt Nam là vẹc đầu trắng, vẹc quần đùi
trắng, vẹc đen. Chim cũng có nhiều loài chim quý như trĩ cổ khoang, trĩ sao. Núi cao
miền Bắc có nhiều thú lông dày như gấu ngựa, gấu chó, cáo, cầy...)
6. Hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài phải rõ ràng, ổn định
Từ thực tiễn thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư của DNNN 20 năm qua, đến
nay có thể nói trong điều kiện của thế giới và khu vực hiện nay, DNNN thực sự trở
thành hình thức hợp tác kinh tế quốc tế rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển.
Nhìn lại 20 năm trước, trong bối cảnh quốc tế: chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên
Xô và Đông Âu tan vỡ; các thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam trên nhiều
mặt. Thế giới có những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị và an ninh quốc tế, sự
phục hồi chậm của nền kinh tế thế giới và biến động giá cả trên thị trường quốc tế... Các
nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á thực hiện cải cách kinh tế, trở
thành khu vực phát triển năng động của thế giới. Tình hình trong nước: Việt Nam là một
nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế ở tình trạng
Đề án chuyên ngành
8
Trường Đại học kinh tế quốc dân – Khoa Tài chính Ngân hàng
kém phát triển, sản xuất nhỏ, mang nặng tính chất tự cấp tự túc, cơ chế quản lý tập trung
quan liêu bao cấp, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, mức lạm phát
lên tới trên 700% vào năm 1986, sản xuất đình trệ, cơ sở kỹ thuật lạc hậu và lâm vào
tình trạng thiếu vốn trầm trọng.
Với bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, để khôi phục và phát triển kinh tế-

thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, năm 2005 Quốc
1
Đề án chuyên ngành
9
Trường Đại học kinh tế quốc dân – Khoa Tài chính Ngân hàng
hội đã ban hành Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và thay thế Luật Đầu tư
nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Sự thay đổi này thể hiện sự quan
tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn DNNN, một bộ phận
quan trọng của nền kinh tế. Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật chung,
nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong
nước cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn
chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn
DNNN. Thực tế đã chứng minh việc ban hành Luật Đầu tư đã góp phần quan trọng
trong việc tạo ra những chuyển biến tích cực của tình hình DNNN vào Việt Nam kể từ
năm 2006 tới nay.
Từ thực tiễn thu hút DNNN 20 năm qua cho thấy việc tạo dựng môi trường pháp
lý cho DNNN trong thời gian qua là rất cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt thu
hút vốn DNNN ở khu vực và trên thế giới, Luật Đầu tư nước ngoài đã thực sự trở thành
“đòn bẩy” quan trọng trong việc thu hút DNNN vào Việt Nam trong 20 năm qua, đảm
bảo cho việc thực hiện chủ trương thu hút DNNN của Đảng và Nhà nước để phát triển
kinh tế-xã hội đất nước ta vừa qua.
Luật Đầu tư năm 2005 xác định việc phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh và Ban
quản lý Khu Công nghiệp, Khu chế xuất, Khu Công nghệ cao và Khu kinh tế (sau đây
gọi là Ban quản lý) cấp Giấy Chứng nhận đầu tư (GCNĐT) cũng như quản lý hoạt động
đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ
chỉ chấp thuận về nguyên tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch,
hoặc chưa có quy hoạch. Những dự án đã có trong quy hoạch được duyệt và đáp ứng
các điều kiện theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế cũng như các dự án còn
lại sẽ do UBND cấp tỉnh và Ban quản lý tự quyết định và cấp GCNĐT.

các giai đoạn.
1. Trong thập niên 80, đầu thập niên 90
Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, dòng DNNN vào Việt Nam còn nhỏ.
Đến năm 1991, tổng vốn DNNN ở Việt Nam mới chỉ là 213 triệu đô-la Mỹ. Tuy nhiên,
con số DNNN đăng ký đã tăng mạnh từ 1992 và đạt đỉnh điểm vào 1996 với tổng vốn
đăng ký lên đến 8,6 tỷ đô-la Mỹ. Sự tăng mạnh mẽ của DNNN này là do nhiều nguyên
nhân. Các nhà đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềm năng của một nền kinh tế đang
trong thời kỳ chuyển đổi với một thị trường phần lớn còn chưa được khai thác. Thêm
vào đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn bị hấp dẫn bởi hàng loại các yếu tố tích cực khác
như lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ và tỷ lệ biết chữ cao.
Bên cạnh những yếu tố bên trong còn có các yếu tố bên ngoài đóng góp vào việc
gia tăng của DNNN. Thứ nhất là làn sóng vốn chảy dồn về các thị trường mới nổi trong
những năm 80 và đầu những năm 90. Trong các thị trường này, Đông Nam Á là một
điểm chính nhận DNNN. Năm 1990, các nước Đông Nam Á thu hút 36% tổng dòng
DNNN đến các nước đang phát triển. Thứ hai là dòng vốn nước ngoài vào các nền kinh
tế quá độ khối xã hội chủ nghĩa trước đây, nơi mà họ cho rằng đang có các cơ hội kinh
doanh mới và thu lợi nhuận. Thứ ba, là các nước mạnh trong vùng (cụ thể là Mã-lai-xi-
a, Xin-ga-po, Thái-lan,…) đã bắt đầu xuất khẩu vốn. Là một nền kinh tế đang trong thời
kỳ quá độ ở Đông Nam Á, Việt Nam có được lợi thế từ các yếu tố này[1].
2. Trong khoảng thời gian (1991-1996)
Đề án chuyên ngành
11
Trường Đại học kinh tế quốc dân – Khoa Tài chính Ngân hàng
Trong khoảng thời gian 1991-1996, DNNN đóng một vai trò quan trọng trong
việc tài trợ cho sự thiếu hụt trong tài khoản vãng lai của Việt Nam và đã có những đóng
góp cho cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam.
3. Trong khoảng thời gian (1997-1999)
Trong giai đoạn 1997-1999, Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tụt dốc của nguồn
DNNN đăng ký, cụ thể là 49% năm 1997, 16% năm 1998 và 59% năm 1999, một phần
là do khủng hoảng tài chính châu Á. Năm nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam đều từ

12
Trường Đại học kinh tế quốc dân – Khoa Tài chính Ngân hàng
mừng cho thấy xu hướng phục hồi dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày một
rõ rệt trong điều kiện nguồn vốn đầu tư, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu
đang tiếp tục suy giảm và cạnh tranh gay gắt.
Năm 2006: cả nước đã thu hút được trên 10,2 tỷ USD vốn đăng ký mới, tăng
57% so với năm trước và đạt mức cao nhất từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam năm 1987 đến nay, vượt mức kỷ lục đã đạt được vào năm 1996 là 8,6 tỷ
USD.
Trong tổng vốn đầu tư nước ngoài (DNNN) đăng ký năm 2006 có gần 8 tỷ USD
vốn đăng ký của hơn 800 dự án mới và hơn 2,2 tỷ USD vốn tăng thêm của 440 lượt dự
án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Như vậy, cả vốn đăng ký của các dự án mới và
vốn đầu tư mở rộng sản xuất đều tăng mạnh so với năm 2005, trong đó vốn đăng ký của
các dự án mới tăng tới 77%.
Cùng với việc gia tăng vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện năm 2006 cũng đạt
mức cao nhất trong vòng 20 năm qua. Tiến độ giải ngân vốn DNNN trong năm 2006
được đẩy nhanh, nhất là đối với các dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất. Tổng vốn
DNNN thực hiện trong cả năm ước đạt trên 4,1 tỷ USD, tăng 24,2% so với năm trước.
Năm 2007, Việt Nam đã thu hút trên 20,3 tỉ USD, tăng 69,2% so với năm 2006.
Sang năm 2008, dù tình hình kinh tế thế giới xấu đi, nhưng vốn DNNN cam kết đã đạt
hơn 64 tỉ USD, gấp gần ba lần năm 2007. Ðiều này phản ánh niềm tin của các nhà đầu
tư nước ngoài vào tiến trình hội nhập, mở cửa thị trường, cũng như vào triển vọng và
tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam, tin tưởng vào sự ổn định chính trị, xã hội và
những quyết sách tích cực và hiệu quả của Chính phủ Việt Nam trong việc đối phó với
cơn khủng hoảng tài chính hiện nay.
Năm 2008: Cục Đầu tư Nước ngoài - Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã có con số sơ bộ
về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DNNN) vào Việt Nam trong năm 2008. Theo đó,
tổng vốn DNNN đăng năm 2008 đã đạt hơn 64 tỷ USD, gấp gần ba lần năm 2007.
Đây là mức thu hút vốn DNNN kỷ lục từ trước đến nay của Việt Nam. Điều này
càng có ý nghĩa trong trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khủng hoảng. Cụ thể, trong tháng

mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo
Investment Group Việt Nam. Các dự án này có tổng vốn đăng ký lần lượt là 4,15 tỷ
USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD.
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ 3 với 2,97
tỷ USD vốn đăng ký.
Trong tổng số 43 nước và vùng lãnh thổ đầu từ vào Việt Nam, năm nay, Hoa Kỳ là
nước đầu tư lớn nhất, chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, kế đến là Cayman
Islands, Samoa, Hàn Quốc.
Cũng như năm ngoái, Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục là địa phương thu hút nhiều vốn
DNNN nhất, tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên.
Vốn thực hiện cũng đạt khá, ước đạt 10 tỷ USD, bằng 87% so với năm 2008.
Trong đó, cả nước có 839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn
đăng ký là 16,34 tỷ USD, bằng 24,6% so với năm 2008 và 215 dự án xin bổ sung vốn
với tổng vốn tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008.
Riêng tháng 12, Việt Nam có thêm 1,78 tỷ USD vốn đăng ký và bổ sung.
Theo “bảng xếp hạng” dự án của Cục Đầu tư nước ngoài thì dịch vụ lưu trú và ăn
uống chiếm số vốn lớn nhất, với 8,8 tỷ USD.
Đề án chuyên ngành
14

Trích đoạn BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status