TIỂU LUẬN: Phương hướng và giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Bánh kẹo Hải Châu - Pdf 12



II
TIỂU LUẬN:

Phương hướng và giải pháp mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm ở Công ty
Bánh kẹo Hải Châu
Mở đầu

Nước ta từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung chuyển sang nền kinh tế thị
trường, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN. Nền kinh tế thoát khỏi trạng thái trì trệ, suy thoái, bước sang giai đoạn tăng
trưởng liên tục tốc độ cao, sức sản xuất và tiêu dùng lớn, cường độ cạnh tranh cao
và ngày càng gay gắt. Các đối thủ cạnh tranh nhau bằng mọi cách, với mọi hình
thức. Trong đó nổi bật là cạnh tranh về sản phẩm, giá cả, chất lượng, mẫu mã, bao

ty mía đường I-Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Được sự giúp đỡ của hai
tỉnh Thượng Hải và Quảng Châu (Trung Quốc). Nên mới có tên gọi là Hải
Châu.Thành lập ngày 02/09/1965.
Quá trình hình thành và phát triển có thể được tóm tắt như sau :
1.1 Thời kỳ thành lập (1965-1975)
-Vốn đầu tư : do chiến tranh đánh phá của đế quốc Mỹ nên Công ty không còn
lưu giữ được số liệu ban đầu.
-Năng lực sản xuất gồm:
+Phân xưởng sản xuất mỳ sợi: Gồm 6 dây chuyền máy bán cơ giới công suất
2.5-3 tấn/ca. .Sản phẩm chính là mỳ sợi.
+Phân xưởng bánh: Gồm 1 dây chuyền máy cơ giới, công suất 2.5 tấn/ca. Sản
phẩm chính: quy bơ (Hương thảo, quy dứa, quy bơ quýt), bánh lương khô (phục vụ
quốc phòng).
+Phân xưởng kẹo: Gồm 2 dây chuyền máy cơ giới, công suất mỗi dây là 2.5
tấn/ca. Sản phẩm chính là kẹo cứng và kẹo mềm.
+Số CBCNVC: Bình quân 850 người/năm. Trong thời kỳ này do chiến tranh
phá hoại của đế quốc Mỹ (1972) nên một phần nhà xưởng máy móc, thiết bị hư
hỏng, Công ty được bộ tách phân xưởng kẹo sang nhà máy miến Hà Nội thành lập
nhà máy Hải Hà (nay là Công ty bánh kẹo Hải Hà - Bộ công nghiệp).
1.2 Thời kỳ (1976-1985).
- Sang thời kỳ này Công ty đã khắc phục những thiệt hại sau chiến tranh và đi
vào hoạt động bình thường.
Năm 1976 bộ công nghiệp thực phẩm cho nhập nhà máy sữa Mậu Sơn (Lạng
Sơn) thành lập phân xưởng giấy phun. Phân xưởng này sản xuất hai mặt hàng là sữa
đậu nành công suất 2.4-2.5 tấn/ngày và bột canh công suất 3.5 – 4 tấn/ngày.
Năm 1978 bộ công nghiệp thực phẩm cho điều động 4 dây chuyền mỳ ăn liền từ
Công ty Sam Hoa (TPHCM) thành lập phân xưởng mì ăn liền với công suất dây

Năm 1998 tập chung hoàn thiện thiết bị, công nghệ hiện đại hai dây chuyền
kẹo cứng và kẹo mềm của CHLB Đức. Công suất 3400 tấn /năm.
Năm 1998-1999 xây đựng và triển khai thực hịên dự án đầu tư chiều sâu nâng
công suất chất lượng dây chuyền bánh bích quy thiết Đài Loan từ 2.1 tấn/ca lên 3.2
tấn/ca và bổ xung thêm thiết bị hoàn thiện các dây chuyền sản xuất bánh lương khô
tổng hợp.
Năm 2000 đầu tư nâng cao công suất chất lượng sản phẩm dây chuyền thiết bị
sản phẩm bánh kem xốp của cộng hòa liên bang Đức từ 800kg/ca đến 1600kg/ca
Năm 2001 xây dựng và triển khai đầu tư dây chuyền sản xuất sôcôla thanh và
viên từ công nghệ của Tây Âu công suất 400kg/ca .
Năm 2001-2002 .Công ty tiếp tục đẩy mạnh thêm một bước mới trong công
tác đầu tư phát triển sản xuất với quy mô lớn hơn, Đã nghiên cứu khảo sát xây dựng
dự án khả thi đầu tư một dây chuyền sản xuất bánh mềm cao cấp Custard Cake của
Tây Âu, dự án đã được bộ chủ quản thẩm định phê duyệt với tổng mức đầu tư về
thiết bị đầu tư và xây dựng trên 60 tỷ đồng. Công ty đã thực hiện đấu thầu thiết bị và
xây dựng với giá trị thiết bị trên 47 tỷ đồng xây lắp nên 6.5 tỷ đồng hiện nay công
trình xây dựng lắp đặt thiết bị xí nghiệp bánh mềm cao cấp đã cơ bản hoàn thành,
đang triển khai kế hoạch đưa vào sx chính thức trong dịp cuối năm dự kiến đưa sản
phẩm bánh mềm cao cấp mới đầu tư cùng với sản phẩm hiện có để phục vụ nhân
dân trong dịp tết nguyên đán Quý mùi.
2/. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của Công ty :
2.1 Tính chất và nhiệm vụ sản xuất của Công ty: Hiện nay Công ty bánh kẹo
Hải Châu có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh chủ yếu là :
 Kinh doanh các sản phẩm bột gia vị
 Kinh doanh các sản phẩm nước uống có cồn và không có cồn
 Kinh doanh các sản phẩm mỳ ăn liền
 Kinh doanh vật tư nguyên liệu, bao bì nghành công nghiệp thực phẩm
2.3 Mô hình cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty :

2.4 Nhiệm vụ sản xuất chủ yếu của Công ty: Toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty đặt dưới sự chỉ đạo của giám đốc. Giúp việc cho giám đốc có hai
phó giám đốc: Phó giám đốc kinh doanh và phó giám đốc kỹ thuật, kế toán trưởng
phụ trách tài chính. Các phòng ban trực thuộc gồm 5 phòng và 2 ban.
 Giám đốc: Phụ trách các mặt công tác sau:
Chỉ đạo phòng kế hoạch vật tư, phụ trách KHVT và tiêu thụ
Chỉ đạo phòng tổ chức, phụ trách công tác cán bộ, tiền lương, lao động
Chỉ đạo phòng tài vụ, phụ trách công tác tài chính - kế toán
Giám
Đ
ốc

Phân
xưởng
cơ điện
Phòng
HC-ĐS
Phßng
KHVT
+Chỉ đạo phòng kỹ thuật và ban xây dựng cơ bản và phụ trách công tác kỹ thuật
và đầu tư XD-CB.
+Chỉ đạo ban bảo vệ, phụ trách công tác bảo vệ nội bộ, công tác phòng cháy nổ,
thực hiện các nghĩa vụ quân sự .
-Phó giám đốc kinh doanh: Giúp việc cho giám đốc phụ trách các công tác:
+Chỉ đạo phòng kế hoạch vật tư, phụ trách về kế hoạch vật tư và tiêu thụ
+Chỉ đạo phòng HC-ĐS: Ban bảo vệ phụ trách công tác hành chính quản trị và
bảo vệ
- Kế toán trưởng: Giúp việc cho giám đốc về các mặt công tác kinh doanh, tài
chính, kiểm tra, kiểm soát với mọi thu chi của Công ty.
- Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất: Giúp việc giám đốc phụ trách công tác sau:
+Chỉ đạo phòng kỹ thuật phụ trách công tác kỹ thuật
+Phụ trách công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ công nhân
+Phụ trách công tác bảo hộ lao động
+Phụ trách công tác điều hành kế hoạch tác nghiệp của phân xưởng
+Kiểm tra và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, nguyên vật liệu sửa
chữa trang thiết bị, trang bị công nghệ mới …
- Phòng tổ chức lao động: Tham mưu cho giám đốc các công tác:
+Tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương
+Soạn thảo nội quy, quy chế quản lý, các quyết định, công văn, chỉ thị của

có 4 phân xưởng sản xuất chính và 1 phân xưởng phụ trợ:
PX bánh I: Gồm 2 dây chuyền SX
PX bánh II: Gồm 2 dây chuyền SX
PX kẹo: Gồm 2 dây chuyền SX
PX bột canh: Gồm 2 dây chuyền SX
PX cơ điện: Gồm có tổ cơ khí và tổ điện.
II. Phân tích thực trạng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở Công ty
bánh kẹo Hải Châu.
1/ Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty :
Biểu 1: Một số chỉ tiêu chủ yếu qua 3 năm:
STT

Ch
ỉ tiêu

Năm 2000

Năm 2001

Năm 2002

1. Doanh thu bán hàng 150156 165117 168000
2.

Các kho
ản giảm trừ



5100

1800

2428

10. Thuế lợi tức 1650 550 750
11.

L
ợi nhuận sau thuế

3450

1250

1678

* Qua bảng trên ta thấy:
Lợi nhuận của Công ty giảm từ năm 2000 đến năm 2001. Nếu xét về số tuyệt
đối năm 2000 Công ty thu được 3450 triệu đồng nhưng đến năm 2001 Công ty giảm
xuống còn 1250 triệu đồng tương ứng giảm 32,63%. Nguyên nhân là do giá đường
tăng 2000 đồng/kg và một số nguyên nhân khác. Nhưng đến năm 2002 lợi nhuận
của Công ty tăng đáng kể từ 1250 triệu đồng năm 2001 lên tới 1678 triệu đồng. Điều
đó chứng tỏ Công ty đã phấn đấu để đạt được kết quả lợi nhuận cao hơn.
*Phân tích thực trạng về thị trường tiêu thụ sản phẩm ở Công ty bánh kẹo hải

106,9

124355

137448

110,5

142126

152000

105,6

2 Doanh thu 136274

150106

110,1

157235

165117

105,0

163030

168000


đặt kế hoạch 157235 và đã thực hiện được 165117 đạt 105%. Năm 2002 cũng đạt
103,05% kế hoạch doanh thu.
Từ đó ta có thể nhận thấy Công ty đang hoạt động, làm ăn có hiệu quả trong
những năm gần đây. Bên cạnh đó giải quyết việc làm cho công nhân viên trong
Công ty đạt mức thu nhập cao với mức trung bình là hơn 1 triệu đồng/tháng mỗi
người. Chi tiết là 1100000 đồng/tháng năm 2001 và 1200000 đồng năm 2002.
1.2 Tình hình tiêu thụ từng mặt hàng của Công ty bánh kẹo Hải Châu năm
(2000-2002).
- Về sản phẩm bánh quy các loại: Bánh quy vốn là sản phẩm truyền thống của
Công ty bánh kẹo Hải Châu với hơn 30 năm phát triển, sản phẩm này đã có chỗ
đứng vững chắc trong đông đảo người tiêu dùng, như vậy sản phẩm này của Công ty
bánh kẹo Hải Châu có sức cạnh tranh mạnh hơn so với các sản phẩm cùng loại .
- Về sản phẩm bánh kem xốp: Đây là sản phẩm truyền thống của Công ty bánh
kẹo Hải Châu, do có dây truyền sản xuất hiện đại hơn, nên sản phẩm này có sức
cạnh tranh mạnh hơn so với các sản phẩm cùng loại của đơn vị sản xuất khác và do
đó tiêu thụ mạnh hơn .
-Về sản phẩm bột canh các loại: đây là sản phẩm riêng của Công ty bánh kẹo
Hải Châu. Hiện nay sản phẩm này có sức cạnh tranh cao so với các sản phẩm của
các đơn vị sản xuất khác và được tiêu thụ rất mạnh, đặc biệt trên thị trường Hà Nội .
-Kẹo các loại: Do còn sản xuất bằng các nồi nấu thủ công nên chất lượng chưa
cao, do đó phần lớn thường đem tiêu thụ ở các vùng xa trung tâm. Mới đây Công ty
đã nhập công nghệ hiện đại của CHLB Đức, sản xuất kẹo mềm và kẹo cứng chất
lượng cao do đó đã tiêu thụ khá tốt trên thị trường .
Biểu 3: Bảng tiêu thụ theo các loại hàng hoá của Công ty. Đơn vị: tấn
Sản Phẩm Năm 2000

Năm 2001

4

5,5

200

-
Bánh pettit 7,29 1 9 13,7 900
-
Quy

cao c
ấp

9,18

10

12

108,93

120

2.K
ẹo các loại 1446 1446 1840 100 127,25
-


21,11

25,39

190,87

120,27

5.B
ột canh các
loại
7168 8003 8485 111,65 106,02
-
Bột canh
thường
3342 3759 3998 112,48 106,358
-
Bôt canh iốt 3826 4244 4487 110,93 105,725

Qua bảng trên ta thấy: số lượng sản phẩm thị trường tăng giảm qua các năm
như sau:
-Số lượng bánh tiêu thụ năm 2001 giảm xuống 31,88% so với năm 2000 (Do số
lượng bánh không đủ cung cấp trên thị trường). Nhưng đến năm 2002 tổng sản
lượng bánh tiêu thụ rất tốt, từ 2208,19 tấn lên tới 7102 tấn với mức tăng gấp 3 lần so
với năm 2001. Điều đó chứng tỏ Công ty đã có kế hoạch tiêu thụ sản phẩm rất tốt
đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng. Công ty cần phát huy yếu tố này.
+Bánh Hương thảo và Hải châu: Tình hình tiêu thụ năm 2001 giảm 897,12 tấn
xuống còn 522 tấn so với năm 2000 đôí với bánh Hương Thảo và từ 2135, 8 tấn +Sản phẩm bột canh luôn là sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng hàng
hoá tiêu thụ của Công ty. Sản phẩm bột canh là sản phẩm tiêu biểu của Công ty hiện
nay, hàng năm lượng tiêu thụ sản phẩm bột canh vẫn không ngừng tăng lên. Năm
2001 tăng 11,65% so với năm 2000 và năm 2002 tăng 6, 02% so với năm 2001. Đặc
biệt là bột canh iốt để tăng cường sức khoẻ. Bột canh là sản phẩm thế mạnh, tạo lập
uy tín cho Công ty trên thị trường. Do đó Công ty không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm bột canh để đẩy mạnh tiêu thụ, giữ vững thị trường.
1.3 Để làm rõ hơn ta đi vào phân tích cụ thể tình hình tiêu thụ sản phẩm của
từng năm .
Biểu 4:Tình hình tiêu thụ của năm 2000.

Tên sản phẩm Tồn đầu
kỳ(tấn)
Sản xuất
trong
kỳ(tấn)
Tiêu thụ
trong kỳ
(tấn)
T
ồn cuối kỳ
(Tấn)
Doanh
thu(Tr.
đồng)
Bánh quy các loại 790,25 3228,42 3241,48 777,19 36913
Kẹo các loại 216,75 1393,02 1446,00 163,77 21905

lượng sản phẩm tồn kho của hai loại sản phẩm này cũng rất ít. Doanh thu của hai
loại sản phẩm này đạt được 44579 triệu đồng chiếm khoảng 30% tổng doanh thu tất
cả các loại sản phẩm năm 2000 .
- -Còn hai loại sản phẩm kem xốp các loại và bột canh các loại tuy lượng tiêu thụ
của hai loại sản phẩm này không tiêu thụ hết được so với lượng sản phẩm sản xuất
ra. Nhưng so với lượng sản phẩm tồn đầu kỳ và lượng sản phẩm xuất ra trong kỳ
thì lượng sản phẩm tiêu thụ của hai loại sản phẩm này cũng tương đối là cao và
lượng tồn kho cũng rất ít. Doanh thu của hai loại sản phẩm này cũng rất cao chiếm
khoảng 48% tổng doanh thu của các loại sản phẩm năm 2000

Biểu 5: Tình hình tiêu thụ sản phẩm năm 2001
Tên sản phẩm Tồn đầu
kỳ(tấn)
Sản xuất
trong
kỳ(tấn)
Tiêu thụ
trong kỳ
(tấn)
Tồn cuối
kỳ (Tấn)
Doanh
thu(Tr.
đồn0g)
Bánh quy các loại 777,19 1476,00 2208,19 45,00 33679
Kẹo các loại 163,77 1409,00 1446,00 126,77 21905
Lương khô 29,31 2045,00 1979,37 94,94 28089

- Sản phẩm kem xốp các loại cũng có mức tăng trưởng cao từ 23090 triệu đồng
năm 2000 lên 30617 triệu đồng năm 2001, nghĩa là tăng 7527 triệu đồng, tương ứng
với 32,5% .
- Sản phẩm bột canh các loại cũng có lượng tiêu thụ khá cao. Doanh thu đạt
50827 triệu đồng, tăng 1,1 lần so với doanh thu năm 2000. Vì đây là loại sản phẩm
truyền thống của Công ty nên sản phẩm này luôn có lượng tiêu thụ đều .
- Sản phẩm bánh quy các loại tuy có lượng tiêu thụ cũng khá tốt, sản xuất đến
đâu đều tiêu thụ đến đó, nhưng do còn có số lượng sản phẩm tồn kho của năm 2000
khá cao do đó có lượng tồn kho của sản phẩm này trong năm 2001. Doanh thu sản
phẩm này đạt 33679 triệu đồng, tương đương giảm 8,8% so với năm 2000. Vậy
Công ty cần có biện pháp hợp lý để sản phẩm bánh quy các loại được tiêu thụ tốt và
có doanh thu tăng cao trong các năm tới
- Sản phẩm kẹo các loại thì doanh thu có phần chững lại. Trong cả hai năm
2000 và 2001 doanh số đều là 21905 triệu đồng, chiếm 13% so với tổng doanh thu
so với tất cả các sản phẩm trong năm 2001.(theo bảng sau)
Biểu 6: Tình tiêu thụ sản phẩm năm 2002
Tên sản phẩm Tồn đầu
kỳ(tấn)
Sản xuất
trong
kỳ(tấn)
Tiêu thụ
trong kỳ
(tấn)
T
ồn cuối kỳ
(Tấn)


33569

B
ột canh các
loại
294,95

8357,05

8485

167

53879

( Nguồn : Phòng KH – VT cung cấp )
Qua bảng ta thấy tình hình tiêu thụ sản phẩm năm 2002 như sau:
Tổng doanh thu đạt 226835 triệu đồng, tăng 37% so với tổng doanh thu năm
2001. Tuy nhiên để đi vào từng sản phẩm ta thấy rằng :
-Sản phẩm bánh quy các loại có lượng tiêu thụ rất tốt với doanh thu là 80892
triệu đồng, tăng 2,4 lần so với doanh thu 33679 triệu đồng năm 2001. Tuy có khối
lượng tồn kho tương đối cao 407 tấn. Nhưng phải nói đó là một sự nỗ lực hết sức
của Công ty để có thể giữ được vị thế và mở rộng tiêu thụ trên thị trường.(Đây là
yếu tố tích cực Công ty cần phát huy ).
- Sản lượng kẹo các loại nhìn chung tiêu thụ không cao. Sản phẩm sản xuất ra
tiêu thụ chưa hết. Doanh thu tuy có tăng từ 21905 triệu đồng năm 2001 lên tới
27876 triệu đồng năm 2002, nhưng không đáng kể. Công ty cần có biện pháp để
thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm này .

đặc tính: Lý do mua sắm, lợi ích tìm kiếm, tính trung thành, số lượng và tỷ lệ sử
dụng .
- Phân đoạn theo quy mô Công ty: Nhỏ, trung bình, lớn so sánh với ngành.
- Phân loại theo mức độ sử dụng: ít, nhiều, trung bình .
- Phân loại theo loại hình tổ chức: Nhà sản xuất, bán buôn, bán lẻ.
- Phân loại theo tình trạng người mua: Thỉnh thoảng, thường xuyên, khách
hàng mới
Phân đoạn thị trường trong công nghiệp có thể được xem xét tốt nhất bằng
khái niệm hai giai đoạn. Trong giai đoạn thứ nhất, khách hàng được phân đoạn bởi
các tính chất địa lý, nhân khẩu. Đây là quá trình phân đoạn tầm vĩ mô. Giai đoạn
hai, phân đoạn tầm vi mô, liên quan vào phân đoạn trong một tổ chức. Phân đoạn
tầm vi mô cố gắng tìm sự tương tự giữa các đơn vị bằng quan điểm các quá trình
mua, các phong cách ra quyết định .
2.1: Thị trường Việt Nam được chia theo 3 miền khác nhau như; Bắc -trung-
Nam, nên tình hình tiêu thụ hoàn toàn khác nhau phụ thuộc vào như cầu cũng như
sở thích của từng vùng khác nhau, vì vậy Công ty phải làm sao đáp ứng mõi nhu
cầu của người dân của từng vùng khác nhau, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
còn cần chú ý nhiều về chủng loại sao cho phù hợp. Theo dõi quá trình tiêu thụ
trong bảng sau:
Biểu 7:Tình hình tiêu thụ theo từng thị trường.
Đơn vị : Tr. đồng
STT Doanh thu
tiêu thụ
năm 2000

Tỷ
trọng %


ực miền
54004, 042

100

61636

100

62058

100

b
ắc

Hoà Bình` 2493, 536 1, 62 2991 4, 85 3010 4, 85
Sơn La 1724, 001 3, 19 1857, 6 3, 01 1907, 12 3, 07
Lai Châu 1201, 734 2, 33 1994, 4 3, 24 2005, 14 3, 23
Hà Tây

4494, 705

6, 47

3544, 3



1, 40

866, 4

1, 39

Hà Bắc 3174, 464 5, 89 2551, 4 4, 14 2615, 77 4, 21
H
ải Phòng

5679, 903

10, 52

6255, 7

10, 15

6
165, 89

9, 93

Lạng Sơn 1752, 705 3, 25 1895, 7 3, 08 1985, 42 3, 2
Thái Nguyên 3903, 798 7, 23 4156, 7 6, 74 4176, 7 6, 73
Nam Định 3816, 869 7, 07 5250, 7 8, 52 5305, 87 8, 55
Ninh Bình 3187, 930 5, 90 2744, 3 4, 45 2473, 98 3, 98
Qu
ảng Ninh

Hưng Yên

972, 887

1, 8

1045, 7

1, 70

1127, 8

1, 81

3. Khu v
ực miền
Trung
27196, 548

100 29345 100 29548 100
Nghệ An 9569, 82 35, 19 10712, 7 36, 51 10921, 14 36, 96
Hà Tĩnh 3857, 293 14, 18 3962, 7 13, 5 3960, 4 13, 4
Quảng Bình 2031, 088 7, 47 1801, 8 6, 14 2006, 12 6, 78
T. Thiên Huế 2049, 589 7, 54 1822, 8 6, 21 1806, 55 6, 11
Thanh Hoá 9688, 756 35, 62 1104, 49 33, 64 10853, 79 36, 73
4.Khu v
ực miền
18816, 712

100

8, 4

Khánh Hoà 1744, 986 9, 27 1734, 4 8, 97 1740, 1 8, 98
Phú Yên

1742, 986

9, 26

1751, 8

9, 06

1847, 8

9, 54

TPHCM 5117, 766 27, 20 5784, 8 29, 91 5748 29, 67

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy mặc dù sản lượng tiêu thụ ở các vùng đều tăng lên
qua các năm nhưng tỷ trọng sản lượng tiêu thụ ở các vùng chênh nhau tương đối lớn
, cụ thể là:
- Khu vực Hà Nội: có mức tiêu thụ tương đối lớn, đứng thứ 2 sau khu vực miền
Bắc, điều này chứng tỏ Hà Nội là một thị trường hiện tại và tiềm năng lớn của Công
ty. Mức tiêu thụ năm 2001 là 56796 triệu đồng tăng 11,17% so với năm 2000 và
lượng tiêu thụ năm 2002 tăng 0,4% so với năm 2001.
- Khu vực miền Bắc: là thị trường hấp dẫn của Công ty. Sản lượng thị trường
luôn chiếm khoảng 34% so với tổng sản lượng thị trường trên cả nước với sự năng
động của đội ngũ Marketing của Công ty, thị trường miền Bắc được khai thác triệt
để, Công ty mở rộng thị trường đến hầu hết các tỉnh, cả những tỉnh miền núi xa xôi

Công nghệ sản xuất sản phẩm chưa được đầu tư nhiều. Có thay đổi nhưng rất ít
chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường, khó khăn trong sự vẫn chuyển hàng hoá đi
các tỉnh khác vì chi phí tăng lên đẩy giá thành sản phẩm tăng theo đây lại là vấn đề
cần bàn đến nhưng để giải quyết là một vấn đề khó ?
Bên cạnh những kết quả đạt được, Công ty bánh kẹo Hải Châu còn một số
nhược điểm sau:
- Chưa hoàn toàn khắc phục được tính mùa vụ của nhu cầu bánh kẹo trong dân
chúng. Vào dịp lễ tết sản phẩm bánh kẹo, bột canh tiêu thụ lớn, nhiều khi sản xuất

Trích đoạn Cỏc biện phỏp nõng cao chất lượng sản phẩm Cỏc biện phỏp về thanh toỏn và phục vụ khỏch hàng Phõn tớch thực trạng mở rộng thị trường tiờu thụ sản phẩ mở Cụng ty bỏnh kẹo Hải Chõu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status