TIỂU LUẬN: Thực trạng và giải pháp Marketing để đẩy mạnh tiêu thụ một số sản phẩm chủ yếu ở công ty May Đức Giang potx - Pdf 12

II
TIỂU LUẬN:

Thực trạng và giải pháp Marketing để
đẩy mạnh tiêu thụ một số sản phẩm
chủ yếu ở công ty May Đức Giang Chương mở đầu
***

Ngày nay, khi đề cập đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm thì đã có rất nhiều loại sách
tham khảo, sách hướng dẫn được xuất bản nhằm cung cấp những kiến thức, nghệ thuật
kinh doanh sao cho có hiệu quả. Nhưng trong kinh doanh thì điều đó vẫn chưa đủ mà
mỗi doanh nghiệp cần phải xây dựng cho riêng công ty mình một đội ngũ cán bộ
nghiên cứu có chiều sâu đủ để có thể đưa ra các chính sách tốt phản ứng trên thị
trường với đối thủ cạnh tranh. Đó chính là tầm mức quan trọng của chiến lược
marketing. Marketing là một trong những hoạt động quan trọng nhất thông suốt quá
trình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Đây là quá trình sử dụng các công cụ

- Nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể thị trường may mặc thế giới nói chung,
thị trường trong nước nói riêng, đặc biệt là liên hệ với thị trường tiêu thụ sản phẩm của
công ty May Đức Giang. Trên cơ sở đó, cung cấp cho công ty một số dữ liệu tương
đối toàn diện về thị trường may mặc hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam cùng một số
những quy luật đặc thù của thị trường may mặc nhằm giúp cho công ty một số điều
cần thiết khi thâm nhập vào các thị trường này.
- Đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động marketing thời
gian qua, nêu bật những thuận lợi, khó khăn, những tồn tại và những bất cập, cản trở
việc tiêu thụ hàng hóa của công ty.
- Đề xuất các biện pháp, đối sách cụ thể nhằm thúc đẩy tiêu thụ một số sản
phẩm chủ yếu của công ty trong thời gian tới.
đề tài chuyên đề thực tập tốt nghiệp là:
Thực trạng và giải pháp Marketing để đẩy mạnh tiêu thụ một số sản phẩm
chủ yếu ở công ty May Đức Giang.
Ngoài chương mở đầu và phần kết luận, nội dung của chuyên đề này được trình
bày trong 3 chương:
Chương một : Nghiên cứu hoạt động kinh doanh của công ty May
Đức Giang.
Chương hai : Thực trạng tình hình hoạt động marketing tại công ty
May Đức Giang.
Chương ba : Giải pháp marketing để đẩy mạnh tiêu thụ một số sản

phẩm chủ yếu ở công ty May Đức Giang. Chương một: NGHIÊN CứU HOạT ĐộNG KINH DOANH CủA CÔNG TY
MAY ĐứC GIANG

tiêu dùng cá nhân. Nguyên nhân do thu nhập đầu người ở tất cả các khu vực trên thế
giới đều tăng, mức sống người dân được nâng cao, đặc biệt là các khu vực thị trường
lớn như thị trường châu Âu, Trung Đông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa
Kỳ…Qua tìm hiểu thực tế tại công ty cũng như qua sách báo của ngành dệt may thì
tình hình thị trường may mặc thế giới hiện nay diễn biến hết sức phức tạp, một số khu
vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao dẫn đến có sự thay đổi trong cách ăn mặc và
ngày càng có yêu cầu cao về chất liệu, màu sắc, mẫu mốt thời trang, nhiều khu vực thị
trường ngày càng trở nên khó tính, đòi hỏi về các kiểu dáng, chất lượng và hình thành
nên các hàng rào tiêu chuẩn sản phẩm khi thâm thập vào khu vực thị trường. Nhưng
xét về mặt quy mô của thị trường thì đây là một thị trường vô cùng lớn còn rất nhiều
tiềm năng mà tất cả các mọi doanh nghiệp may mặc trên toàn thế giới đều muốn chiếm
lĩnh.
2. Đặc điểm - đoạn thị trường:
2.1 Thị trường trong nước:
Thị trường trong nước tuy rộng lớn và có sức mua cao nhưng đây cũng là thị
trường có môi trường cạnh tranh khá quyết liệt. Các công ty đều là những doanh
nghiệp có bề dầy mấy chục năm, sản phẩm đã có uy tín trên thị trường như công ty
May 10, công ty May Thăng Long, công ty May Việt Tiến…Trong đó nổi bật là công
ty May 10 với mặt hàng truyền thống là áo sơ mi xuất khẩu, quần Âu. Hiện nay các
cửa hàng, đại lý và cửa hàng giới thiệu sản phẩm của các công ty này có mặt trên khắp
cả nước, hơn nữa phần lớn các công ty đều có bề dày gần 60 năm sản xuất kinh doanh,
có uy tín trên thị trường. Bên cạch những thuận lợi đó, các công ty cũng gặp không ít
khó khăn do số lượng sản phẩm sản xuất ra còn ở mức khiêm tốn, sản phẩm chưa đa
dạng, chưa bao phủ được nhu cầu của mọi lứa tuổi, tầng lớp trong xã hội. Do vậy, ở
một vài năm trước sản phẩm may mặc của một số công ty chủ yếu là may gia công

xuất khẩu, hàng hoá cung cấp cho thị trường nội địa rất ít thường là những sản phẩm
xuất khẩu tồn dư với mẫu mã, kích thước, kích cỡ không phù hợp với người tiêu dùng
trong nước nên gây thị hiếu không tốt đối với người tiêu dùng. Nhưng những năm gần
đây, thị trường nội địa đã tiêu thụ khá lớn số lượng hàng hoá do sản phẩm của các

mạnh mẽ, kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng nhanh, nhiều năm liền đứng hàng
thứ hai trong số những mặt hàng xuất khẩu chủ lực (chỉ đứng sau dầu thô), tạo thêm
việc làm cho hàng trăm ngàn người lao động, chất lượng các sản phẩm may mặc Việt
Nam được đánh giá tốt trên thị trường thế giới. Phát huy lợi thế đó, năm 2002 kim
ngạch xuất khẩu của nước ta đạt khoảng 2,4 tỷ USD, tăng khoảng 26% so với năm
2001. Và theo nguồn số liệu của trung tâm thông tin thương mại(VTIC)–Bộ Thương
mại, tính đến hết Quý I/2003 tình hình xuất khẩu hàng may mặc của ta đã đạt được
khoảng 850156921 USD, tăng 90% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó EU là thị
trường nhập khẩu chính chiếm khoảng 40% lượng hàng may mặc xuất khẩu của ta
cùng một số nước khác như Nga, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Đài Loan, Cộng Hòa Séc…
2.2.1 Liên minh châu Âu:

Liên minh châu Âu (EU) là một trung tâm kinh tế hùng mạnh, có vai trò rất lớn
trong nền kinh tế thế giới. Kinh tế EU không chỉ lớn về quy mô, mỗi năm GDP đạt
gần 9000 tỉ USD chiếm 20% GDP toàn cầu, cơ cấu dịch vụ - công nghiệp - nông
nghiệp hợp lý, tăng trưởng ổn định, GDP dao động ở mức trên dưới 2,5% năm, lạm
phát trung bình ở mức 1,6 - 1,8% năm mà còn là nơi có đồng tiền mạnh (đồng EURO)
có khả năng chuyển đổi toàn thế giới và có sức cạnh tranh tương đương với đồng
USD. EU với số dân 386 triệu người chiếm 6% dân số thế giới nhưng EU chiếm tới
1/5 giá trị thương mại toàn cầu. Hiện nay, EU là khối thương mại mở lớn nhất thế giới
và là thành viên chủ chốt của tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Thị trường EU là thị trường có tiềm năng, tính cạnh tranh cao, mức độ tiêu
dùng rất lớn, giá cả hợp lý nhưng tính chọn lọc cũng rất khắt khe, đặc biệt là đối với
hàng may mặc. Tuy nhiên, đây là một thị trường có hạn ngạch nên khả năng xuất khẩu
của các công ty nước ngoài vào thị trường này bị hạn chế nhưng nhìn chung nhu cầu
tiêu dùng vẫn là tìm kiếm những thị trường có mặt hàng rẻ, đẹp và đảm bảo chất
lượng. EU là một thị trường quan trọng của ngành may mặc Việt Nam, hàng năm EU
nhập khẩu trên 63 tỷ USD quần áo các loại nhưng việc xuất khẩu hàng hoá may mặc
vào thị trường châu Âu không phải là dễ. Lý do, đây là một thị trường rộng lớn với
nhiều điểm khác biệt về thị hiếu tiêu dùng, về tập quán kinh doanh và phương thức tổ

năm 2001 và 2002 lần lượt là 13,7% và 12,4%. Một điểm nổi bật là Hoa Kỳ là nước
nhập siêu hàng hóa và mức nhập siêu lớn nhất của Hoa Kỳ là nhập khẩu từ Mêhicô,
Nhật Bản và Trung quốc.
Theo thống kê của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hoa Kỳ luôn đứng
đầu thế giới về nhập khẩu hàng dệt và hàng may mặc. Nếu gộp các loại hàng dệt và
hàng may mặc thì trong năm 2002 kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 65 tỷ USD,
chiếm 6,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ. Còn đối với các nước xuất khẩu
thì thị trường Hoa Kỳ là khá sáng sủa, kim ngạch nhập khẩu hàng may mặc của nước
này liên tục tăng trong những năm qua. Nói chung, thị trường Hoa Kỳ chiếm phần
nhập khẩu cao trên thế giới, chiếm khoảng 25% tổng lượng hàng nhập khẩu may mặc
trên toàn thế giới.
Là thị trường có nhu cầu về hàng may mặc đa dạng, khổng lồ và lớn nhất trên
thế giới. Mặt hàng nhập khẩu vào thị trường này phong phú và đa dạng từ hàng phổ
thông đến hàng cao cấp, chủ yếu nhập từ châu Âu và Trung Quốc. Là một thị trường

hấp dẫn đối với những nước xuất khẩu hàng may mặc với số dân khoảng 280 triệu
người, 75% dân số sống ở thành thị, thu nhập quốc dân trên đầu người cao, do vậy sức
mua rất lớn. Người Mỹ rất chuộng mua sắm và tiêu dùng, và trở thành một nét không
thể thiếu trong văn hoá hiện đại của nước này. Họ có tâm lý là càng mua sắm và tiêu
xài nhiều thì càng kích thích sản xuất tăng trưởng, do đó nền kinh tế phát triển. Ngày
nay, tâm lý này có tác động sâu rộng đến các nhà xuất khẩu trên toàn thế giới.
Đặc điểm thị trường này là dễ tính với hàng may mặc, hàng hoá dù chất lượng
cao hay vừa đều có thể bán trên thị trường này vì các tầng lớp dân cư nước này đều
tiêu thụ nhiều hàng hoá và giá ở thị trường này dễ dàng hơn so với các khách hàng EU
và Nhật Bản. Riêng đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam khi xuất hàng
vào thị trường Hoa Kỳ cần phải lấy giá cả làm yếu tố quan trọng, mẫu mã có thể
không quá cầu kỳ nhưng rất cần sự đa dạng đặc thù và hợp thị hiếu. Những đặc điểm
riêng về địa lý và lịch sử đã hình thành nên một thị trường tiêu dùng khổng lồ và đa
dạng nhất thế giới. Đối với những đồ dùng cá nhân như quần áo, may mặc nói chung
người Mỹ thích sự giản tiện nhưng hiện đại hợp mốt. Hơn nữa, hàng hoá sản phẩm

vừa phải và cao cấp…Thực tế thị trường Mỹ có nhu cầu về hàng may mặc lớn nhưng
Việt Nam chưa xuất khẩu được nhiều sang thị trường này do sự khác biệt về tiêu
chuẩn nguyên vật liệu và quy trình ráp sản phẩm.
Mặc dù các doanh nghiệp Việt nam đã có sự chuẩn bị khi Hiệp định Thương
mại có hiệu lực nhưng gần giữa tháng 12/2001 Hiệp định mới chính thức có hiệu lực
nên xuất khẩu nhóm hàng may mặc vẫn chưa tăng nhanh so với năm 2000. Là một
trong những nhóm hàng chiến lược tăng mạnh với mức 37,79 triệu USD năm 1999 lên
49,9 triệu USD năm 2000 và 59,3 triệu USD năm 2001. Do nguồn hàng dồi dào, đơn
hàng lớn, năng suất đạt cao nên ngay trong Quý I/2002 kim ngạch xuất khẩu hàng may
mặc đã đạt 82 triệu USD tức là vượt 138% so với cả năm 2001. Đây là nỗ lực rất lớn
của ngành may mặc Việt Nam. Rõ ràng thị trường Hoa Kỳ chứa đựng nhiều tiềm năng
nhưng cũng tiềm ẩn không ít thách thức, các quy định của pháp luật cũng như quy luật
thị trường diễn biến phức tạp đòi hỏi phải thực sự tỉnh táo.
2.2.4 Thị trường Nhật Bản :
Đây là thị trường nhập khẩu hàng may mặc lớn trong khu vực Đông á và thứ 3
trên thế giới, lại không hạn chế bằng hạn nghạch, dân số đông và mức thu nhập bình
quân là 27000 USD/người/năm thì nhu cầu về may mặc là không nhỏ. Người dân Nhật

Bản thích dùng các mặt hàng truyền thống của họ như áo Kimono nhưng bên cạnh đó
những mặt hàng theo phong cách hiện đại cũng rất được ưa chuộng như các sản phẩm
áo sơ mi, áo Jăcket và quần áo các loại. Họ rất chú trọng đến cách ăn mặc và đòi hỏi
hàng hoá phải có chất lượng cao. Hàng năm Nhật Bản phải nhập từ 8 - 10 tỷ USD
hàng hoá may mặc. Là một thị trường được coi là khó tính và rất khó khăn khi thâm
nhập, một thị trường có rào cản thâm nhập và rút lui rất lớn nhưng có sức tiêu thụ lớn
đối với các sản phẩm cao cấp và truyền thống. ở Nhật Bản hàng may mặc của Việt
Nam có sức cạnh tranh khá vì các sản phẩm may mặc của ta xếp ở vị trí thứ 5 trong số
các nước xuất khẩu lớn vào thị trường này chỉ đứng sau 4 nước là Trung Quốc, EU,
Hàn Quốc và Hoa Kỳ nhưng các thị trường khác thì không được như vậy. Nguyên
nhân là do các mặt hàng may mặc Việt Nam có thể xuất khẩu sang Nhật Bản chất
lượng thường không ổn định, hoặc chưa có tiêu chuẩn thống nhất như các nhà xuất

may mặc được trú trọng phát triển từ rất sớm, nhiều nước lại có chính sách khuyến
khích xuất khẩu được vay tiền đầu tư làm hàng xuất khẩu với lãi xuất ưu đãi hoặc
miễn thuế lợi tức…Đặc biệt là mặt hàng của Trung Quốc có ưu thế rất lớn về chủng
loại sản phẩm mẫu mốt đa dạng, phong phú, màu sắc phù hợp với thị hiếu người tiêu
dùng. Hơn nữa, giá của hàng may mặc Trung Quốc lại rất rẻ so với các nước khác.
Ngoài ra, công nghệ tiên tiến đang là lợi thế để cạnh tranh và được các nhà sản xuất
khai thác triệt để. Vì vậy, có thể nhận xét rằng thị trường may mặc trong nước và thế
giới sẽ diễn biến ngày một khó khăn, khắc nghiệt, các công ty may mặc cần tính toán
kỹ từng bước đi của mình cho phù hợp với năng lực hiện có.
4. Các yếu tố chi phối thị trường:
4.1 Sản phẩm sản xuất:
Hiện nay chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của mọi doanh nghiệp. Các
công ty muốn tồn tại và phát triển ngoài việc phát huy tối đa các khả năng sản xuất thì
vấn đề chất lượng sản phẩm phải được coi trọng thì mới tạo được uy thế trong tiêu thụ.
Khách hàng ngày càng khó tính và sự đòi hỏi của khách hàng cũng ngày càng cao.
Nếu công ty không đổi mới về công nghệ kỹ thuật sản xuất, đưa ra thị trường những
sản phẩm kém chất lượng thì công ty sẽ nhanh chóng bị tẩy chay, nhất là khi sản phẩm
của đối thủ cạnh tranh có chất lượng cao hơn. Chất lượng sản phẩm là vũ khí cạnh
tranh hữu hiệu nhất giữa các nhà sản xuất. Công ty cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về
chất lượng sản phẩm cho khách hàng có như vậy hoạt động tiêu thụ mới diễn ra hoàn
chỉnh, thông suốt.

Bên cạnh việc đảm bảo chất lượng thì việc thực hiện kế hoạch sản xuất đúng
theo kế hoạch về mặt số lượng cũng ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm. Nếu không
công ty sẽ bị đình đốn trong tiêu thụ vì không thể lấy quần âu bán cho khách mua áo
sơ mi và càng không thể chỉ bán một trong khi khách hàng cần mua ba, bốn chiếc.
Giá bán sản phẩm cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng hàng hoá tiêu
thụ, do đó ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm. Mức độ tăng, giảm của khối
lượng sản phẩm tiêu thụ khi giá bán sản phẩm thay đổi còn phụ thuộc vào mức độ đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm, giá trị sử dụng của sản phẩm. Vì vậy công ty cần

Ngoài ra, văn hoá tiêu dùng cũng là một điều đáng bàn đến. Thực tế như ở Hoa
Kỳ, không có các lề ước tiêu chuẩn thẩm mỹ xã hội mạnh và bắt buộc như ở các nước
khác. Các nhóm người khác nhau vẫn sống theo văn hoá, tôn giáo của mình và dần
dần theo thời gian hoà trộn, ảnh hưởng lẫn nhau. Chính điều này tạo sự khác biệt trong
thói quen tiêu dùng của người tiêu dùng Hoa Kỳ so với người tiêu dùng các nước châu
Âu. Cùng một mặt hàng may mặc nhưng thời gian sử dụng của họ có thể chỉ bằng một
nửa thời gian sử dụng của người tiêu dùng các nước phát triển khác. Còn về màu sắc
thì có sự ưa thích khác nhau, người Trung Quốc chuộng màu ấm cúng như màu đỏ,
nâu…trong khi người châu Âu thích các gam màu mát như xanh dương, trắng, nâu
nhạt…
Mốt và sự biến động của mốt cũng là một cách thể hiện vai trò to lớn của người
tiêu dùng trong việc hình thành thị trường may mặc. Mặt hàng thời trang chịu ảnh
hưởng lớn của mốt trong quá trình tiêu thụ. Khi các công ty sản xuất những sản phẩm
hợp mốt thì công tác tiêu thụ diễn ra dễ dàng, thuận lợi và khách hàng dễ dàng chấp
nhận sản phẩm của đó hơn. Bên cạnh đó sự biến động của mốt cũng làm cho hoạt
động tiêu thụ sản phẩm của các công ty trở nên phức tạp. Chúng ta thấy rõ điều này
khi trên thị trường xuất hiện một loại sản phẩm mới hay người tiêu dùng có xu hướng
chuyển sang dùng sản phẩm đó thì ngay lập tức nhu cầu về các sản phẩm tương tự sẽ
giảm mạnh. Nếu hàng loạt áo da với mẫu mốt phù hợp, giá cả phải chăng với khách
hàng thì ngay lập tức nhu cầu về áo jăcket, áo bludông sẽ giảm xuống. Như vậy, với
thị trường may mặc thì vai trò của người tiêu dùng là cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng
trực tiếp tới sự biến động và ổn định của thị trường. Chính vì vậy các công ty cần chú
trọng đẩy mạnh công tác nghiên cứu hành vi người tiêu dùng qua đó nắm, hiểu rõ nhu

cầu và thị hiếu của họ để đưa ra chính sách thích hợp nhất đem lại lợi thế cho công ty
mình.
4.3 Các chính sách marketing:
Là những nỗ lực của công ty nhằm đáp ứng, cung cấp, tạo ảnh hưởng đến tâm
lý, hành vi và thuyết phục khách hàng mua sản phẩm của công ty. Đối với nhà cung
cấp sản phẩm, việc tạo dựng một hệ thống kênh phân phối rộng khắp, chu đáo đến tất

nên xu hướng tiêu dùng cá nhân sẽ nhường chỗ cho tiết kiệm hay đầu tư vào bất động
sản, vàng, mua đồng tiền mạnh và ổn định. Giá các loại nguyên phụ liệu để sản xuất
hàng hoá may mặc sẽ gia tăng do khó khăn trong khâu thu mua dẫn đến giá thành
phẩm lên theo. Đây là dấu hiệu không tốt đối với các nhà xuất khẩu điều đó đồng
nghĩa với cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn. Vì theo xu hướng toàn cầu hoá, không ai có thể
kinh doanh được nếu không quan tâm tới những gì xảy ra ở những nơi khác trên thế
giới. Có thể nói môi trường kinh doanh là những điều kiện cần cho các doanh nghiệp
trong việc đưa ra quyết định vào làm ăn với thị trường đó. Năm 2001, Việt nam được
nhiều tổ chức, các tờ báo lớn trên Thế giới bình chọn là “Quốc gia an toàn nhất tại
châu á năm 2001”, đó là điều kiện thuận lợi để thị trường may mặc trong nước phát
triển.
Ngoài ra các nhân tố nhân tố khách quan như các công ty, những người cung
ứng, những người trung gian marketing, khách hàng, các đối thủ cạnh tranh và công
chúng đều hoạt động trong một môi trường vĩ mô rộng lớn. Đây là các lực lượng và xu
hướng “không thể khống chế được” mà công ty phải theo dõi và đối phó. Trong một
bức tranh toàn cầu hoá và khu vực hóa đang là xu thế và biến đổi nhanh chóng thì
công ty phải theo dõi đầy đủ các lực lượng chủ yếu , cụ thể là các lực lượng nhân
khẩu, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, chính trị và văn hoá vì các lực lượng này cũng ảnh
hưởng không phải là nhỏ tới thị trường may mặc.
5. Dự báo thị trường:
May mặc là một ngành công nghiệp mà cấc nước phát triển có xu hướng
chuyển đầu tư ra nước nghèo, các nước kinh tế chậm phát triển hoặc đang phát triển,
nơi có nguồn lao động nhiều và rẻ. So với nhiều ngành kinh tế khác, may mặc là
ngành có nguồn vốn đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh, thu hút được nhiều lao động.
Trong những năm tới, khi mà những đòi hỏi về chất lượng và khả năng đáp ứng đầy
đủ nhu cầu ngày càng cao thì việc cạnh tranh khách hàng sẽ trở nên hết sức quyết liệt
nhất là đối với Trung Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam á - khối ASEAN.

ở trên thế giới, tầng lớp thanh thiếu niên ngày nay đang trở thành lực lượng tiêu
dùng quan trọng. Lứa tuổi thanh thiếu niên ngày nay có thu nhập cao hơn, chi tiêu

qua các giai đoạn khác nhau. Điều này khiến công ty nên quan tâm tới người tiêu dùng
ở những thời điểm khác nhau trong cuộc sống của họ hay nói cách khác 1 sản phẩm
hàng hoá là không cần thiết đối với người tiêu dùng tại thời điểm này nhưng không có
nghĩa là họ sẽ không quan tâm tới sản phẩm đó tại thời điểm khác trong cuộc sống của
họ.
Ngày nay, giá cả và chất lượng trở thành một yếu tố quyết định khi mua quần
áo, và việc này đã dẫn đến một sức ép về giá đối với ngành may mặc. Yếu tố này đã
làm tăng nhu cầu nhập khẩu từ các nước có chi phí nhân công thấp và làm dịch chuyển
sản xuất của các công ty Tư Bản ra nước ngoài, và có thể nói đây là một cơ hội tốt đối
với các công ty may mặc Việt Nam vì qua thực tế tìm hiểu giá gia công may của Việt
Nam từ 0,2 đến 0,3 USD/giờ thấp hơn từ 2 đến 18 lần so với các nước ASEAN và từ
100 đến 150 lần so với các nước như Nhật, Đức, Mỹ…Nhưng cũng cần phải thấy rằng
lợi thế này của ta không phải là yếu tố ổn định trong cạnh tranh vì khi trình độ kỹ
thuật được nâng cao lợi thế về lao động sẽ không còn được duy trì mãi. Ngoài ra, sự
phân hóa nhu cầu thành những phân đoạn thị trường đặc trưng cũng là tín hiệu cho
phép các nhà sản xuất có thể tập trung phát huy ưu thế của mình trong từng phân đoạn
thị trường mục tiêu.
Trong những năm gần đây, thị trường xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam
không ngừng được mở rộng. Ngoài các thị trường truyền thống là cộng đồng châu Âu
(chiếm 40%), Nhật Bản và các nước trong khu vực khác, việc ký kết Hiệp định
Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã mở ra một thị trường tiêu thụ sản phẩm may mặc
rất to lớn. Đó là vận hội lớn để phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá may mặc
của nước ta.
Các nước kinh tế phát triển Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Bỉ…mặt hàng yêu cầu
chất lượng cao, đồng bộ như áo sơ mi nam nữ, complê, bộ quần áo bò, váy và gi-lê
bằng vải bò, các loại áo khoác vải bò bằng da thật, áo blu từ vải dệt kim mỏng, mắt
đan nhỏ hoặc từ vải mền, vải nhân tạo, cao su hay các vật liệu khác được dính ép,
tráng bọc với vải nền, áo jăcket bằng vải chất lượng cao nhưng không nặng lắm gây
tâm lý thoải mái cho người mặc, áo sơ mi với tính thời trang cao, mát, dễ chịu khi
mặc. Về mùa hè thì mặt hàng yêu cầu càng phong phú hơn như các loại áo váy hoa

xưởng bao bì, phân xưởng hoàn thành, ngoài ra còn có đội xe vận tải container Lực
lượng lao động hiện nay trên 3000 người, trong đó 241 người có trình độ đại học và
trên đại học.

Về máy móc thiết bị có hơn 3000 máy may công nghiệp và các loại máy
chuyên dùng tiên tiến của Nhật Bản, Hoa Kỳ, CHLB Đức chế tạo, hệ thống giác sơ đồ
trên máy vi tính, hệ thống trải cắt vải tự động, 4 máy thêu điện tử, dây chuyền giặt
mài…
Năng lực sản xuất mỗi năm trên 7,0 triệu sản phẩm sơ mi quy đổi, sản phẩm đạt
tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO 9002. Các sản phẩm chủ yếu là:
 áo sơ mi cao cấp .
 áo Jacket 2 lớp, 3 lớp, 5 lớp.
 Quần Jean, quần âu các loại.
Thị trường xuất khẩu công ty đã có quan hệ bạn hàng với 47 khách hàng thuộc
24 quốc gia trên thế giới như: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Khối EU, khu vực
Trung Cận Đông, Bắc Mỹ. Hệ thống mạng lưới tiêu thụ trong nước vào thời điểm này
có 60 đại lý và cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở các tỉnh thành phố. Tổng số vốn của
công ty hiện nay xấp xỉ 100 tỷ đồng.
Liên doanh:
 1996: Liên doanh XNKTH Việt Thành – Bắc Ninh.
 1997: Liên doanh XNKTH Việt Thái – Thái Nguyên.
Liên doanh XNKTH Việt Thanh – Thanh Hoá.
 1999: Liên doanh XNKTH Hưng Nhân – Thái Bình.
Các liên doanh này đã thu hút trên 4000 lao động tại các địa phương.
Hiện tại, công ty đang ổn định sản xuất và có sức cạnh tranh tốt. Doanh thu
hàng năm tăng nhanh, lợi nhuận ổn định, lương bình quân công nhân đạt 1300000
đồng/tháng, phấn đấu trong năm 2003 và những năm tiếp theo cố gắng đạt 1450000
đồng/tháng. Nộp ngân sách, doanh thu, lợi nhuận thu được tăng khá qua các năm.
2. Đặc điểm một số mặt hàng sản xuất của công ty:
Trong điều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường, chiến lược sản xuất, kinh

3. Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của công ty:
Trong những năm qua, công ty đã từng bước cố gắng đẩy mạnh hoạt động sản
xuất kinh doanh, công tác nghiên cứu thị trường được đẩy mạnh, nghiên cứu một cách
chuyên sâu, có hệ thống thị hiếu của người tiêu dùng, xu hướng vận động, yếu tố chi
phối thị trường may mặc trong nước và thế giới. Từ đó kết hợp giữa nhu cầu thị
trường hàng may mặc và năng lực sản xuất của công ty để đề ra kế hoạch thực hiện
cho các năm. Chính vì vậy, công ty đã thực hiện vượt mức kế hoạch đề ra với kết quả
năm sau cao hơn năm trước.
Biểu 1: Kết quả sản xuất kinh doanh.
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu 1998 1999 2000 2001 2002
Giá trị tổng sản
lượng
54.47
7
61.286 82.229 90.102 122.45
1
Tổng doanh thu 93.13
3
110.648

149.187

231.300

268.54
2
Nộp ngân sách 2.275 2.878 3.207 3.565 3.865
Lợi nhuận 4.010 4.733 7.078 7.564 7.842
0

+ Nộp ngân sách tăng : 300 triệu đồng
+ Lợi nhuận tăng : 278 triệu đồng
+ Giá trị tổng sản lượng tăng : 32349 triệu đồng
Qua bảng kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu trên ta có thể thấy được tốc độ
phát triển sản xuất của công ty là rất nhanh chóng.
Năm 1998 doanh thu là 93133 triệu đồng. Đây là một thành quả đáng khích lệ
vì sau năm 1997, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu á, thị trường

hàng hoá nói chung và ngành may mặc trên thế giới có nhiều biến động, ngay trong
nước phải điều chỉnh lại một số kế hoạch và chiến lược phát triển chung mà công ty
vẫn duy trì được tốc độ phát triển tương đối đều đó là một thắng lợi lớn.
Năm 1999 doanh thu là 110648 triệu đồng so với năm 1998 đạt 118,8%. Nộp
ngân sách năm tăng 26,5%.
Năm 2000 doanh thu là 149187 triệu đồng đạt 134,8% so với năm 1999. Lợi
nhuận so với năm 1999 tăng 49,5%.
Năm 2001 giá trị tổng sản lượng là 90102 triệu đồng tăng 10% so với năm
2000. Lợi nhuận so với năm 2000 đạt 106,8%.
Năm 2002 nộp ngân sách tăng 300 triệu đồng so với năm 2001, tăng 658 triệu
đồng so với năm 2000, tăng 987 triệu đồng so với năm 1999, tăng 1590 triệu đồng so
với năm 1998.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, công ty cũng gặp phải không ít khó
khăn về nguồn nguyên phụ liệu đầu vào do phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp nước
ngoài. Các nhà cung cấp trong nước đôi khi thời gian giao hàng chậm do vậy ảnh
hưởng không nhỏ tới tiến độ hoàn thành thành phẩm, tới tiến độ đưa hàng cho đối tác.
Điều này làm thiệt hại về uy tín cho công ty.
Cùng với sự phát triển của công ty, đời sống của cán bộ công nhân viên trong
công ty cũng tăng lên. Mức lương trung bình của người công nhân trong công ty tính
đến thời điểm 12/2002 là 1385000 đồng/tháng. Đây là một mức lương cao so với các
doanh nghiệp trong ngành và một số ngành khác trong nền kinh tế nước ta.
4. Đánh giá công tác tiêu thụ một số sản phẩm chủ yếu của công ty:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status