Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
I. Lịch sử hệ thống ngân hàng Việt Nam:
Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam gắn liền với lịch sử
phát triển của từng thời kỳ cách mạng và công cuộc xây dựng Đất nước.
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong
kiến dưới sự thống trị của thực dân Pháp. Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng
được thiết lập và bảo hộ bởi thực dân Pháp thông qua Ngân hàng Đông Dương.
Ngân hàng Đông Dương vừa đóng vai trò là ngân hàng Trung ương trên toàn
cõi Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia), vừa là ngân hàng thương mại.
Ngân hàng này là công cụ phục vụ đắc lực chính sách thuộc địa của chính phủ
Pháp và làm giàu cho tư bản Pháp. Vì thế, một trong những nhiệm vụ trọng tâm
của cuộc Cách mạng Tháng 8 lúc bấy giờ là phải từng bước xây dựng nền tiền
tệ và hệ thống ngân hàng độc lập tự chủ. Nhiệm vụ đó đã trở thành hiện thực
khi bước sang năm 1950, công cuộc kháng chiến chống Pháp ngày một tiến
triển mạnh mẽ với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường và
mở rộng vùng giải phóng. Sự chuyển biến của cục diện cách mạng cũng đòi hỏi
công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố và phát triển theo yêu cầu mới.
Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính – kinh tế mà Đại hội Đảng
lần thứ II (tháng 2/1951) đã đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam – Ngân
hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á để thực hiện 5
nhiệm vụ cấp bách: Phát hành giấy bạc, quản lý Kho bạc, thực hiện chính sách
tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu
tranh tiền tệ với địch.
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ra đời là kết quả nối tiếp của quá trình đấu
tranh xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu bước phát
triển mới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta. Tại Thông
tư số 20/VP – TH ngày 21/1/1960 của Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia ký
thừa uỷ quyền Thủ Tướng chính phủ, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi
tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để phù hợp với hiến pháp 1946 của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Những năm sau khi Miền Nam giải phóng
khôi phục và phát triển nông, công, thương nghiệp, góp phần thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược: xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Miền Bắc và giải
phóng Miền Nam.
3. Thời kỳ 1975 – 1985: Là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến
tranh giải phóng và thống nhất nước nhà, là thời kỳ xây dựng hệ thống ngân
2
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
hàng mới của chính quyền cách mạng; tiến hành thiết lập hệ thống ngân hàng
thống nhất trong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền
Nam. Theo đó, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt Nam cộng
hoà (ở miền Nam) đã được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước,
phát hành các loại tiền mới của nước CHXHCN Việt Nam, thu hồi các loại tiền
cũ ở cả hai miền Nam – Bắc vào năm 1978. Đến cuối những năm 80, hệ thống
Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách,
chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường. Sự
thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng – chuyển dần sang
hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuối những
năm 80, và kéo dài cho tới ngày nay.
4. Thời kỳ 1986 đến nay:
Từ năm 1986 đến nay đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, đánh dấu sự
chuyển biến căn bản của hệ thống Ngân hàng Việt Nam thể hiện qua một số
“cột môc” có tính đột phá sau đây:
+ Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nước
ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng
sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Cơ chế mới về hoạt động ngân
hàng đã được hình thành và hoàn thiện dần – Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân
hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân
hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ) đã chính thức chuyển cơ chế
hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp – Trong đó lần
Năm 1995: Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động
ngân hàng; thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo.
Năm 1997: Quốc hội khoá X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam và
Luật các tổ chức tín dụng (ngày 2/12/1997) và có hiệu lực thi hành từ
1/10/1998; Thành lập Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng Sông cửu long
(Quyết định số 769/TTg, ngày 18/9/1997).
Năm 1999: Thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (ngày 9/11/1999).
Năm 2000: Cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMNN và cơ cấu lại
tài chính và hoạt động của các NHTMCP.
Năm 2002: Tự do hoá lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng – Bước
cuối cùng tự do hoá hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu
ra.
4
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
Năm 2003: Tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu hoạt động phù hợp với chuẩn
quốc tế đối với các Ngân hàng thương mại; Thành lập NHCSXH trên cơ sở
Ngân hàng phục vụ người nghèo để tiến tới tách bạch tín dụng chính sách với
tín dụng thương mại theo cơ chế thị trường; Tiến hành sửa bước 1 Luật
NHNNVN.
Thông tin về hoạt động của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Một số chỉ tiêu tài chính của các nhóm tổ chức tín dụng tính đến 30/4/2012.
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Báo cáo Thống đốc gửi đại biểu Quốc hội.
5
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
Tổng tài sản của các nhóm tổ chức tín dụng tính đến 30/4/2012. Đơn vị: tỷ đồng.
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.
Danh sách các NHTM nhà nước và cổ phần ở Việt Nam
STT Tên tiếng Việt Vốn điều lệ (tỷ đồng)
1. NH Á Châu: 9.377
Asia Commercial Bank, ACB
16. NH Phát Triển Nhà TPHCM: 5.450
HDBank
17. NH Phương Nam: 4.000
Southern Bank, PNB
18. NH Phương Đông: 3.400
Orient Commercial Bank
19. NH Quân Đội: 7.300
Military Bank, MB
7
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
20. NH Phương Tây: 2.000
Western Bank
21. NH Quốc tế: 4.000
VIBBank, VIB
22. NH Sài Gòn: 10.583,8
Sài Gòn, SCB
23. NH Sài Gòn Công Thương: 3.000
Saigonbank
24. NH Sài Gòn-Hà Nội: 5.000
SHBank, SHB
25. NH Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín: 10.739
Sacombank
26. NH Việt Á: 3.000
VietABank, VAB
27. NH Bảo Việt: 3.150
BaoVietBank, BVB
28. NH Việt Nam Thương Tín: 3.000
VietBank
29. NH Xăng dầu Petrolimex: 3.000
Petrolimex Group Bank, PG Bank
- Năm 1997 – Tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại: Công tác chuẩn bị nhằm
nhanh chóng đáp ứng các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng đã
được bắt đầu tại ACB, dưới hình thức của một chương trình đào tạo nghiệp vụ
ngân hàng toàn diện kéo dài hai năm. Thông qua chương trình đào tạo này
ACB nắm bắt một cách hệ thống các nguyên tắc vận hành của một ngân hàng
hiện đại, các chuẩn mực trong quản lý rủi ro, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng
bán lẻ, và nghiên cứu điều chỉnh trong điều kiện Việt Nam để áp dụng trong
thực tiễn hoạt động ngân hàng.
- Thành lập Hội đồng ALCO: ACB là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam thành
lập Hội đồng quản lý tài sản Nợ-Có (ALCO). ALCO đã đóng vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo hoạt động an toàn và hiệu quả của ACB.
- Mở siêu thị địa ốc: ACB là ngân hàng tiên phong trong cung cấp các dịch vụ
địa ốc cho khách hàng tại Việt Nam. Hoạt động này đã góp phần giúp thị
trường địa ốc ngày càng minh bạch và được khách hàng ủng hộ. ACB trở thành
ngân hàng cho vay mua nhà mạnh nhất Việt Nam.
- Năm 1999: ACB bắt đầu triển khai chương trình hiện đại hóa công nghệ
thông tin ngân hàng nhằm trực tuyến hóa và tin học hóa hoạt động của ACB.
- Năm 2000: Tái cấu trúc: Với những bước chuẩn bị từ năm 1997, đến năm
2000 ACB đã chính thức tiến hành tái cấu trúc (2000 - 2004) như là một bộ
phận của chiến lược phát triển trong nửa đầu thập niên 2000. Cơ cấu tổ chức
được thay đổi theo định hướng kinh doanh và hỗ trợ. Các khối kinh doanh gồm
có Khối khách hàng cá nhân, Khối khách hàng doanh nghiệp, Khối ngân quỹ.
Các đơn vị hỗ trợ gồm có Khối công nghệ thông tin, Khối giám sát điều hành,
Khối phát triển kinh doanh, Khối quản trị nguồn lực và một số phòng ban. Hoạt
động kinh doanh của Hội sở được chuyển giao cho Sở Giao dịch. Tổng giám
đốc trực tiếp chỉ đạo Ban Chiến lược, Ban kiểm tra - kiểm soát nội bộ, Ban
Chính sách và quản lý rủi ro tín dụng, Ban Đảm bảo chất lượng, Phòng Quan
hệ quốc tế vàPhòng Thẩm định tài sản.
10
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
2005, hiện nay đã lên đến gần 230 điểm giao dịch trên toàn quốc.
Ngày 4-12-2012, Maritime Bank đã vinh dự nhận giải giải thưởng “Ngân
hàng tiêu biểu tại Việt Nam - Vietnam Outstanding Banking Awards 2012”
3. Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam – Vietinbank:
11
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ
năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Là Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành
Ngân hàng Việt Nam.
Có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 01 Sở giao dịch, 150 Chi
nhánh và trên 1000 Phòng giao dịch/ Quỹ tiết kiệm.
Có 7 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty
Chứng khoán Công thương, Công ty TNHH MTV Quản lý Nợ và Khai thác Tài
sản, Công ty TNHH MTV Bảo hiểm, Công ty TNHH MTV Quản lý Quỹ, Công
ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý, Công ty TNHH MTV Công đoàn và 3 đơn vị
sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin, Trung tâm Thẻ, Trường Đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực.
Là thành viên sáng lập và là đối tác liên doanh của Ngân hàng INDOVINA.
Có quan hệ đại lý với trên 900 ngân hàng, định chế tài chính tại hơn 90 quốc
gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.
Là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000.
Là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội ngân hàng Châu
Á, Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), Tổ chức
Phát hành và Thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế.
Là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và thương
mại điện tử tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu quản trị & kinh doanh.
Là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam mở chi nhánh tại Châu Âu, đánh dấu bước
phát triển vượt bậc của nền tài chính Việt Nam trên thị trường khu vực và thế
giới.
đảm bảo an toàn vốn; đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ; đầu tư vốn cho
các công ty con, công ty liên doanh, liên kết và góp vốn vào một số doanh
nghiệp khác, đồng thời sử dụng để tăng trưởng tín dụng và kinh doanh vốn. Tại
thời điểm 31/12/2011, vốn điều lệ của Vietcombank đạt 19.698 tỷ đồng.
Ngày 30/6/2009, Vietcombank chính thức niêm yết giao dịch cổ phiếu (với
mã chứng khoán VCB) tại Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
(HoSE). Sự kiện hơn 112 triệu cổ phiếu Vietcombank lên sàn năm 2009 được
đánh giá góp phần quan trọng tạo sự sôi động và thúc đẩy sự phát triển bền
vững của thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời khẳng định cam kết của
Vietcombank tiếp tục phát triển theo hướng ngày càng hiệu quả, chuẩn
mực và minh bạch. Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối
13
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
ngoại, Vietcombank ngày nay đã phát triển rộng khắp với mạng lưới bao gồm 1
Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở giao dịch, gần 400 chi nhánh và phòng giao dịch
trên toàn quốc, 3 công ty con tại Việt Nam, 2 công ty con tại nước ngoài, 1 văn
phòng đại diện tại Singapore, 5 công ty lien doanh, liên kết. Bên cạnh đó,
Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với 1.700 ATM và 22.000
điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc. Hoạt động ngân hàng còn
được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý tại 100 quốc gia và vùng
lãnh thổ.
Năm 2011: Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 5.697 tỷ đồng, tang 2,3% so
với năm 2010 và đạt 100,8% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao (5.650 tỷ
đồng). Lợi nhuận sau thuế đạt 4.217 tỷ đồng. Tổng tài sản đạt 366.722 tỷ đồng,
tăng 19,2% so với cuối năm 2010, vượt 4,2% kế hoạch (tăng 15%). Vốn chủ sở
hữu của Vietcombank đạt 28.639 tỷ đồng, tăng 38,1% (7.902 tỷ đồng) so với
năm 2010.
5. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.(BIDV)
Được thành lập ngày 26/4/1957, BIDV là ngân hàng thương mại lâu đời nhất
Việt Nam.
Công nghệ
- Luôn đổi mới và ứng dụng công nghệ phục vụ đắc lực cho công tác quản trị
điều hành và phát triển dịch vụ ngân hàng tiên tiến.
- Liên tục từ năm 2007 đến nay, BIDV giữ vị trí hàng đầu Vietnam ICT Index
(chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng cộng nghệ thông tin) và nằm trong
TOP 10 CIO (lãnh đạo Công nghệ Thông tin) tiêu biểu của Khu vực Đông
Dương năm 2009 và Khu vực Đông Nam Á năm 2010.
tính đến 31/12/2011, tổng tài sản của BIDV đã đạt gần 421.000 tỷ đồng, tăng
15% so với năm 2010.
Trong năm 2011, huy động vốn cuối kỳ của ngân hàng này đạt 286.000 tỷ
đồng, tăng 20.000 tỷ đồng so với năm 2010; dư nợ tín dụng tăng trưởng dưới
20%, đạt trên 274.000 tỷ đồng. Tại ngân hang năm qua đã có sự dịch chuyển rõ
nét trong cơ cấu huy động và tín dụng. Cụ thể, huy động vốn từ dân của của
BIDV năm 2011 đã tăng tới 28% so với năm 2010, gấp 1,8 lần so với năm 2009,
15
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
đưa tỷ trọng huy động vốn dân cư trên tổng vốn huy động từ 37% năm 2010 lên
tới 49%. Tín dụng bán lẻ cũng đạt mức tăng trưởng cao, tăng tới 28% so với
năm 2010 với dư nợ hơn 38.000 tỷ đồng.
6. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam- Agribank:
Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo
Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng
Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn.
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân
hàng Nhà nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín
dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh,
thành phố. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở
tiếp nhận Vụ Tín dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của
Tháng 11/2011, Agribank được Chính phủ phê duyệt cấp bổ sung 8.445,47 tỷ
đồng, nâng tổng số vốn điều lệ của Agribank lên 29.605 tỷ đồng, tiếp tục là
Ngân hàng Thương mại có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam, đảm bảo hệ số CAR
đạt trên 9% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Năm 2011 là năm Agribank đầu tư cho "Tam nông" đạt mốc 300.000 tỷ đồng,
dẫn đầu các tổ chức tín dụng trong việc cho vay thí điểm xây dựng nông thôn
mới, qua đó góp phần vào thành công bước đầu của Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 của Chính phủ.
Cũng trong năm 2011, Agribank được bình chọn là "Doanh nghiệp có sản phẩm
dịch vụ tốt nhất", được Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam trao tặng Cúp "Ngân
hàng xuất sắc trong hoạt động thẻ", ghi nhận những thành tích, đóng góp xuất
sắc của Agribank trong hoạt động phát triển thẻ nói riêng và thúc đẩy thanh toán
không dùng tiền mặt nói chung.
7. Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam- Techcombank:
Được thành lập ngày 27/09/1993 với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng, trải qua
18 năm hoạt động, đến nay Techcombank đã trở thành một trong những ngân
hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản đạt trên 180.874
tỷ đồng (tính đến hết năm 2011).
Techcombank có cổ đông chiến lược là ngân hàng HSBC với 20% cổ phần.
Với mạng lưới hơn 300 chi nhánh, phòng giao dịch trên 44 tỉnh và thành phố
trong cả nước, dự kiến đến cuối năm 2012, Techcombank sẽ tiếp tục mở rộng,
17
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666
nâng tổng số Chi nhánh và Phòng giao dịch lên trên 360 điểm trên toàn quốc.
Techcombank còn là ngân hàng đầu tiên và duy nhất được Financial Insights
tặng danh hiệu Ngân hàng dẫn đầu về giải pháp và ứng dụng công nghệ. Hiện
tại, với đội ngũ nhân viên lên tới trên 7.800 người, Techcombank luôn sẵn sàng
đáp ứng mọi yêu cầu về dịch vụ dành cho khách hàng. Techcombank hiện phục
vụ trên 2,3 triệu khách hàng cá nhân, trên 66 .000 khách hàng doanh nghiệp.
Năm 2011
thành một tập đoàn tài chính đa năng hoạt động trong nhiều lĩnh vực như ngân
hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, chứng khoán, quản lý tài sản, bảo hiểm, bất
động sản MB cũng đã liên tục nhận được các bằng khen của Chính phủ, các
giải thưởng lớn do các tổ chức uy tín trong và ngoài nước trao tặng, và được
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đánh giá là một trong những ngân hàng thương
mại cổ phần hàng đầu của Việt Nam trong nhiều năm liền.
Trong những năm qua, MB luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao từ 30%-
70%/năm đối với hầu hết các chỉ tiêu hoạt động. Tính đến cuối năm 2010, MB
có vốn điều lệ 5.300 tỷ đồng, tổng tài sản hơn 69.000 tỷ đồng, gần 2500 nhân
viên với khoảng 110 điểm giao dịch và hệ thống ATM tại hầu hết các tỉnh, thành
phố lớn trên toàn quốc. Bên cạnh đó, MB đã thiết lập quan hệ hợp tác kinh
doanh quốc tế với gần 800 ngân hàng đại lý tại 75 quốc gia trên thế giới. Ngoài
ra, MB cũng đang trong quá trình mở rộng mạng lưới hoạt động sang các nước
ASEAN.
9. Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín – Sacombank:
1991: Sacombank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần
(TMCP) đầu tiên được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) từ việc
hợp nhất Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp cùng với 03 hợp tác xã tín dụng
là tân Bình, Thành Công và Lữ Gia.
1993: Là ngân hàng TMCP đầu tiên của TP.HCM khai trương chi nhánh tại
Hà Nội, phát hành kỳ phiếu có mục đích và thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhanh
từ Hà Nội đi TP.HCM và ngược lại, góp phần giảm dần tình trạng sử dụng tiền
mặt giữa hai trung tâm kinh tế lớn nhất nước.
1996: Là ngân hàng đầu tiên phát hành cổ phiếu đại chúng với mệnh giá
200.000 đồng/cổ phiếu để tăng vốn điều lệ lên 71 tỷ đồng với gần 9.000 cổ
đông tham gia góp vốn.
2003: Là doanh nghiệp đầu tiên được phép thành lập Công ty Liên doanh
Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VietFund Management - VFM), là
19
Phạm Ngọc Huỳnh – CQ521666