Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại chi nhánh Vietcombank hai bà trưng - Pdf 12


Lời nói đầu
ột trong những giải pháp cơ bản thực hiện đờng lối đổi mới kinh tế theo
hớng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của nớc ta là đổi mới mới cơ cấu
kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, vùng và thành phần kinh tế. Định hớng đó đợc
thể hiện rõ nét qua các kỳ Đại hội Đảng vừa qua trong các chiến lợc phát triển
kinh tế xã hội. Đó là việc thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trởng kinh tế cao,
GDP tăng bình quân hàng năm từ 8 8,5% thời kỳ 1996 - 2000 và phấn đấu
đạt 8 - 9% thời kỳ 2001- 2010 với tổng nhu cầu vốn đầu t từ 90 - 95 nghìn tỷ
đồng trong đó 39 40 % tổng nguồn vốn này đợc đầu t từ doanh nghiệp và
dân c. Để đạt đợc mục tiêu này đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề,
trong đó các giải pháp thuộc lĩnh vực tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
và một trong những giải pháp tài chính đó là việc phát huy hơn nữa vai trò của
các Ngân hàng thơng mại trên phạm vi cả nớc để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân chuyển sang đầu t một cách có hiệu quả.
M
Nh chúng ta vẫn biết, vốn là tiền đề cho sự tăng trởng kinh tế, tăng tr-
ởng kinh tế phụ thuộc vào quy mô và hiệu quả vốn đầu t. Nếu không kể việc
đầu t từ ngân sách hoặc tự đầu t của các cá nhân, doanh nghiệp thì việc khai
thác và chuyển dịch các nguồn vốn tích luỹ đến lĩnh vực đầu t cho vay có thể
đợc tiến hành theo hai phơng thức: đầu t trực tiếp qua thị trờng tài chính (phát
hành trái phiếu doanh nghiệp) và đầu t gián tiếp thông qua các trung gian tài
chính. Tuy nhiên, do thị trờng tài chính nớc ta mới đang trong giai đoạn hình
thành và ngay cả khi thị trờng đi vào hoạt động thì khả năng huy động cũng sẽ
gặp nhiều khó khăn. Do vậy nguồn vốn đầu t qua các trung gian tài chính mà
chủ yếu là hệ thống Ngân hàng thơng mại càng trở nên quan trọng và hữu hiệu
hơn bao giờ hết.
Cùng với sự phát triển phát triển chung của nền kinh tế, hệ thống Ngân
hàng thơng mại nớc ta cũng đã không ngừng phát triển và ngày càng khẳng
định mình là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế. Bằng lợng vốn huy
động đợc trong xã hội và thông qua nghiệp vụ tín dụng, Ngân hàng thơng mại

động sản xuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế. Trong các nớc phát
triển hầu nh không có một công dân nào là không có quan hệ giao dịch với
một Ngân hàng thơng mại nhất định nào đó. NHTM đợc coi nh là một định
chế tài chính quen thuộc trong đời sống kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát
triển thì hoạt động dịch vụ của Ngân hàng càng đi sâu vào tận cùng những ngõ
ngách của nền kinh tế và đời sống con ngời. Mọi công dân đều chịu tác động
từ các hoạt động của Ngân hàng, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, một ngời
vay hay đơn giản là ngời đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và
sử dụng các dịnh vụ Ngân hàng.
Mặc dù có hoạt động rất gần gũi với nhân dân và nền kinh tế nh vậy nh-
ng hiện nay, ở Việt nam nói riêng và trên thế giới nói chung, phạm trù NHTM
cũng nh các nghiệp vụ của nó vẫn còn là phạm trù xa lạ và chứa đầy bí ẩn cha
đợc khám phá. Do vậy, để hiểu rõ hơn về Ngân hàng thơng mại và các nghiệp
vụ của NHTM (đặc biệt là nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn kinh doanh), trong ch-
ơng I này sẽ trình bày khái quát có tính chất định vị và phác hoạ những nét
chủ yếu về NHTM .
1. NHTM và vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế.
1.1. Khái niệm.
Để đa ra đợc một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về NHTM, ng-
ời ta thờng phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trờng
tài chính, và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tuợng hoạt động.
Theo Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: Ngân hàng là những
xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thờng xuyên nhận của công chúng dới hình
thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các
nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Hay nh Luật Ngân hàng
của ấn Độ năm 1959 đã nêu: Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký
3

thác để cho vay hay tài trợ, đầu t... Những định nghĩa nh trên là căn cứ vào
tính chất và mục đích hoạt động của NHTM .

đồng vốn.
Ngày nay, trong xu hớng hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt
động của các tổ chức tài chính là môi giới trên thị trờng tài chính ngày càng
phát triển cả về số lợng và quy mô, đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen
lẫn nhau. Tuy nhiên sự khác biệt giữa NHTM với các tổ chức môi giới tài
chính khác ở chỗ NHTM là Ngân hàng kinh doanh tiền gửi (chủ yếu là tiền
gửi không kỳ hạn) và chính từ hoạt động đó đã tạo cơ hội cho NHTM có thể
tăng bội số tiền gửi của khách hàng trong hệ thống Ngân hàng của mình. Đó là
đặc trng cơ bản để phân biệt NHTM với các doanh nghiệp và các tổ chức tín
dụng khác.
1.2. Đặc trng hoạt động kinh doanh của NHTM.
Nh trên đã trình bày, Thị trờng tài chính là địa điểm tham gia hoạt động
kinh doanh của các tổ chức kinh doanh tiền tệ , chúng là những tổ chức môi
giới tài chính, hoạt động của chúng đã tạo ra những kênh, những luồng chu
chuyển những khoản tiền tiết kiệm tích luỹ đợc trong nhân dân đến tay những
nhà sản xuất kinh doanh có nhu cầu chi tiêu cho đầu t. Nhng giữa chúng lại có
sự khác nhau về tính chất cũng nh về đối tợng và phơng thức tiến hành kinh
doanh. Sự khác biệt đó có thể là do nhiều nguyên nhân khác nhau nh : sự khác
biệt về lịch sử; sự khác biệt về chế độ kinh tế... nhng tóm lại chúng đều là
những sản phẩm của thể chế tài chính của mỗi nớc.
Ngân hàng thơng mại ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của
hoạt động kinh doanh tiền gửi. Từ chỗ chỉ đơn thuần làm dịch vụ nhận tiền gửi
với t cách là ngời thủ quỹ bảo quản tiền gửi cho chủ sở hữu và sau đó là nhận
đợc các khoản thù lao dới dạng hoa hồng, hoạt động của nó giống nh một tiệm
cầm đồ. Cho đến nay, NHTM đã trở thành một chủ thể kinh doanh tiền gửi,
nghĩa là NHTM vừa tiến hành huy động tiền gửi (không những miễn bỏ các
khoản phí, các khoản thù lao mà còn trả thêm tiền dới dạng trả lãi tiền gửi cho
khách hàng gửi tiền) vừa sử dụng các khoản tiền huy động đợc đó để làm vốn
cho vay, vốn đầu t nhằm tối đa hoá các khoản lợi nhuận thu đợc.
5

cho vay lấy lãi... tạo nên một khoản vốn đủ lớn cung cấp cho mọi hoạt động
kinh tế và đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất. Nh vậy, nhờ
6

có hoạt động của hệ thống NHTM mà các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng
sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, từng bớc tăng năng suất lao động, nâng
cao hiệu quả kinh tế và quan trọng hơn cả là đáp ứng tốt nhất nhu cầu, thị hiếu
của khách hàng.
1.3.2. NHTM là công cụ đièu tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng, NHTM với t cách là trung tâm tièn tệ của
toàn bộ nền kinh tế, đảm bảo sự phát tiển hài hoà cho tất cả các thành phần
kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể nói mỗi sự giao
động của Ngân hàng đều gây ảnh hởng ít nhiều đến các thành phần kinh tế
khác. Do vậy sự hoạt động có hiệu quả của NHTM thông qua các nghiệp vụ
kinh doanh của nó thực sự là công cụ tốt để Nhà nứơc tiến hành điều tiết vĩ mô
nền kinh tế.
Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng trong
hệ thống, NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lợng tiền cung ứng trong
lu thông. Mặt khác với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay vốn,
NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của
thị trờng, điều kiển chúng một cách có hiệu quả, bảo đảm cung cấp đầy đủ kịp
thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất cũng nh thực thi vai trò điều tiết
gián tiếp vĩ mô nền kinh tế.
1.3.3. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính thế giới.
Ngày nay, trong xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với việc hình
thành hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm cho các
mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng đợc mở rộng, nhu cầu giao lu kinh tế
xã hội giữa các nớc trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách hơn
bao giờ hết. Hơn nữa, việc phát triển kinh tế của mỗi nớc lại luôn gắn liền với
sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát

nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của
NHTM.
2.1. Nghiệp vụ tài sản nợ.
Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh
doanh của NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:
Nghiệp vụ tiền gửi:
Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động Ngân hàng nhận các khoản tiền
8

gửi từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản
mà từ đó NHTM có thể huy động đợc. Ngoài ra NHTM cũng có thể huy động
các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình đợc gửi vào ngân
hàng với mục đích bảo quản hoặc hởng lãi trên số tiền gửi.
Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá:
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn
có tính thời hạn tơng đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu t, khả
năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh
tế. Hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cờng
tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh.
Nghiệp vụ đi vay:
Nghiệp vụ đi vay đợc các NHTM sử dụng thờng xuyên nhằm mục đích
tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trờng
tiền tệ và vay Ngân hàng nhà nớc dới các hình thức tái chiết khấu hay vay có
đảm bảo... Trong đó các khoản vay từ Ngân hàng nhà nớc chủ yếu nhằm tạo sự
cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà nó không tự cân đối
đợc nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ.
Nghiệp vụ huy động vốn khác:
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo
vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nớc. Đây là khoản vốn huy động không th-

Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động đ-
ợc từ dân c, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu t vào nền kinh tế dới các
hình thức nh : hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trờng... và
trực tiếp thu lợi nhuận trên các khoản đầu t đó.
2.3. Nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản đợc nêu trên, trong hoạt động kinh doanh,
các NHTM còn tiến hành các hoạt động kinh doanh khác trên thị trờng nh :
kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và đá quý, thực hiện dịch vụ t vấn, dịch vụ ngân
quỹ, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý trong hoạt động cung ứng chứng khoán ra thị
trờng... và hàng loạt những dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng
nh : dịch vụ bảo quản giấy tờ có giá, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ cầm
10

đồ... Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá đặc biệt là trong nền kinh
tế theo cơ chế thị trờng, hoạt động thu - chi hộ, chuyển tiền qua Ngân hàng
ngày càng đợc mở rộng và phát triển. Các Ngân hàng đã không ngừng áp dụng
những tiến bộ, thành tựu khoa học công nghệ, kết hợp với uy tín kinh doanh
của ngân hàng làm cho nghiệp vụ này ngày càng đợc thay đổi về chất.
II. Vốn và hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.Vốn và vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.1.Khái niện và đặc điểm vốn kinh doanh của NHTM .
Khi nói đến thuật ngữ Trung gian tài chính ngời ta thờng hay nghĩ tới
hai loại hình tổ chức cơ bản đó là: các tổ chức nhận tiền gửi (bao gồm các
Ngân hàng thơng mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay) và các trung gian đầu
t (bao gồm các công ty tài chính, các quỹ tơng trợ, các công ty bảo hiểm....).
Nhng cho dù có đợc hiểu thế nào đi chăng nữa thì NHTM, xét về khối lợng tài
sản cũng nh những đóng góp đối với nền kinh tế, vẫn luôn giữ một vai trò
quan trọng. Các NHTM có thể đợc tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau,
chẳng hạn nh Ngân hàng t nhân, Ngân hàng cổ phần, Ngân hàng quốc doanh
và các ngân hàng liên doanh. Dới bất kỳ hình thức nào, các NHTM vẫn luôn

pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Do tính chất thờng xuyên
ổn định của vốn tự có mà Ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác
nhau nh: mua sắm máy móc trang thiết bị... phục vụ cho bản thân ngân hàng,
cho vay và tham gia đầu t góp vốn liên doanh. Mặt khác, với chức năng bảo
vệ, vốn tự có đợc coi là tài sản đảm bảo, gây lòng tin với khách hàng, duy trì
khả năng thanh toán trong trờng hợp Ngân hàng gặp thua lỗ. Vốn tự có của
NHTM bao gồm:
_Vốn tự có cơ bản:
Vốn tự có cơ bản gồm có vốn pháp định và vốn điều lệ. Theo quyết
định số 327/QĐ- NH5 ban hành ngày 04/10/1997 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nớc Việt namthì: Vốn pháp định của NHTM là mức vốn tối thiểu phải
có để thành lập Ngân hàng, còn Vốn điều lệ của NHTM là vốn do các cổ
đông đóng góp và đợc ghi vào điều lệ hoạt động của Ngân hàng. Cũng theo
quy định này, để đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của nền kinh tế thị trờng
cũng nh tạo điều kiện thuận lợi cho các Ngân hàng hoạt động kinh doanh thì
vốn điều lệ của ngân hàng phải luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định và có
thể đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tuỳ thuộc vào hình thức sở hữu,
ví dụ: Đối với các Ngân hàng cổ phần, vốn điều lệ là vốn do các cổ đông đóng
góp dới hình thức mua cổ phiếu; còn đối với các Ngân hàng
12

quốc doanh, vốn điều lệ là vốn ban đầu do ngân sách cấp....
_ Vốn tự có bổ sung:
Vốn tự có bổ sung là một bộ phận trong nguồn vốn tự có của NHTM,
nó tồn tại dới dạng các quỹ chuyên dụng cũng nh các quỹ đặc biệt của ngân
hàng nh: quỹ dự trữ bổ sung, quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ phúc lợi, quỹ khen
thởng..., các khoản lợi nhuận cha phân phối. Và nhờ có nguồn vốn này mà vốn
tự có của Ngân hàng không ngừng đợc gia tăng cả về quy mô lẫn số lợng theo
thời gian.
1.1.2. Vốn huy động.

c) Các nguồn huy động khác:
Bên cạnh nghiệp vụ nhận tiền gửi, các NHTM còn sử dụng một số
nghiệp vụ trên thị trờng mở để huy động vốn nh: phát hành chứng chỉ tiền gửi
và trái phiếu.... Thực chất các nghiệp vụ này là ngân hàng huy động vốn từ nền
kinh tế bằng việc phát hành các chứng từ có giá. Trong đó, chứng chỉ tiền gửi
là công cụ nợ ngắn hạn và trái phiếu là công cụ nợ trung và dài hạn. Việc phát
hành hai loại phiếu nợ này tuỳ thuộc vào mục đích huy động vốn của Ngân
hàng cũng nh sự chấp thuận của Ngân hàngTrung ơng.
1.1.3. Vốn đi vay.
Đây là vốn đợc hình thành trên quan hệ vay mợn giữa Ngân hàng thơng
mại với Ngân hàng Trung ơng hoặc với các tổ chức tín dụng khác. Nguồn vốn
này thờng đợc sử dụng khi Ngân hàng đã sử dụng hết lợng vốn khả dụng mà
vẫn không đủ vốn hoạt động kinh doanh (hay thiếu vốn khả dụng). Thông th-
ờng, NHTM sẽ u tiên việc vay từ các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế trớc,
sau đó mới đến vay Ngân hàng Trung ơng, có nghĩa là NHTM chỉ vay Ngân
hàng Trung ơng khi đã thực hiện các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn
không tìm kiếm đủ vốn đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của ngân hàng.
1.1.4. Vốn khác.
Ngoài các hình thức huy động và vay vốn nh trên, NHTM còn có thể tạo
lập vốn kinh doanh cho mình thông qua việc thực hiện một số nghiệp vụ nh:
làm trung gian thanh toán, làm nghiệp vụ đại lý... qua đó Ngân hàng có thể sử
dụng một lợng vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình thu hộ
hoặc chi hộ khách hàng.
Tóm lại, trong cơ cấu vốn kinh doanh của NHTM, vốn huy động có thể
nói là chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng, điều này
14

hoàn toàn phù hợp về mặt cơ sở lý luận vì Ngân hàng thơng mại luôn đợc xem
là doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn, lấy vốn vay để cho vay. Nh vậy, vốn
huy động là công cụ chính trong hoạt kinh doanh của các NHTM, giữ vị trí


1.2.3. Đảm bảo khả năng thanh toán và uy tín của NHTM.
Trong hoạt động Ngân hàng, uy tín có thể nói là yếu tố quan trọng,
quyết định trực tiếp đến sự sống còn của Ngân hàng. Uy tín của ngân hàng
trong kinh doanh đợc thể hiện trớc hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả
cho khách hàng. Khả năng thanh toán chi trả của Ngân hàng càng cao thì uy
tín cũng nh vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Hay nói cách khác, khả
năng thanh toán của Ngân hàng tỷ lệ thuận với lợng vốn của Ngân hàng nói
chung và vốn khả dụng của Ngân hàng nói riêng.
Nh vậy, với khả năng cung ứng vốn lớn, các NHTM có thể tiến hành
hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, cạnh tranh có hiệu quả
nhng đồng thời lại giữ đợc chữ tín và nâng cao danh tiếng của Ngân hàng.
1.2.4. Quyết định quy mô hoạt động kinh doanh của NHTM.
Thực tế đã chứng minh, những Ngân hàng có vốn lớn thờng có khoản
mục đầu t và cho vay đa dạng hơn rất nhiều so với những Ngân hàng có quy
mô vốn nhỏ, phạm vi và khối lợng cho vay của các Ngân hàng này cũng lớn
hơn. Thật vậy, trong khi các NHTM lớn có thể cho vay tại thị trờng trong nớc
thậm chí là cả thị trờng quốc tế thì các NHTM nhỏ lại bị giới hạn trong phạm
vi hẹp, thờng là thị trờng khu vực, thị trờng địa phơng. Hơn nữa, do lợng vốn
hạn hẹp nên các NHTM nhỏ sẽ không phản ứng nhanh nhạy trớc những tình
huống biến động về lãi suất thị trờng, từ đó tác động đến khả năng thu hút vốn
đầu t từ các tầng lớp dân c và các thành phần kinh tế. Vì vậy, khi khả năng vốn
của NHTM dồi dào thì chắc chắn ngân hàng sẽ mở rộng và đáp ứng đợc nhu
cầu vay vốn, có điều kiện để mở rộng thị trờng tín dụng, tăng đều khả năng
thanh toán và dịch vụ Ngân hàng.
2. Các hình thức tạo lập vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trờng.
Sau khi đã sử dụng hết lợng vốn tự có nhng vẫn cha đáp ứng đủ nhu cầu
giao dịch, thanh toán của khách hàng thì các NHTM phải tiến hành huy động
vốn từ bên ngoài. Thông thờng nguồn vốn huy động này chiếm một tỷ trọng t-
ơng đối lớn trong kết cấu nguồn vốn của ngân hàng, nó rất cần thiết và không

quá trình huy động cũng có những điểm khác biệt.
17

2.2.1. Huy động tiền gửi có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi trong đó đã có sự thoả thuận giữa ngời gửi tiền và
Ngân hàng về lãi suất và thời hạn rút tiền. Về cơ bản, các khoản tiền gửi này
thờng có kỳ hạn tơng đối dài và không đợc sử dụng để tiến hành thanh toán
nh các khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai. Chính vì vậy, mức lãi
suất đối với loại tiền gửi này có thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ thuộc vào sự
thoả thuận của khách hàng với Ngân hàng. Đối với các khoản tiền gửi có lãi
suất linh hoạt, khách hàng có thể gửi thêm tiền trớc hạn định.
Hiện nay, để thu hút ngời gửi tiền, các NHTM đã liên tục đa ra các
hình thức nhận tiền gửi hấp dẫn, theo đó ngoài việc nhận đợc một khoản lợi
tức tiền gửi, khách hàng còn có thể chuyển nhợng đợc chứng chỉ tiền gửi của
mình. Bằng hình thức này, Ngân hàng có thể thu hút vốn từ các nhà đầu t lớn
mà lẽ ra các nhà đầu t này đã có thể dùng vốn đó đầu t vào trái phiếu kho bạc
hay thị trờng tiền tệ.

ở nớc ta hiện nay, các Ngân hàng cũng đã bắt đầu đa ra nhiều hình thức
gửi tiền có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi với kỳ hạn 3, 6, 9, 12
tháng...hoặc kỳ phiếu Ngân hàng có mục đích. Và chỉ sau một thời gian ngắn
hình thức huy động vốn này đã phát huy tác dụng và ngày càng chiếm tỷ trọng
vốn huy động cao trong quá trình huy động vốn của NHTM.
2.2.2. Huy động tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm từ lâu đã đợc coi là công cụ huy động vốn truyền
thống của các NHTM. Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm thờng chiếm một tỷ
trọng tơng đối trong cơ cấu tiền gửi vào Ngân hàng, ví dụ: Tiền gửi tiết kiệm
tại các NHTM Việt nam chiếm khoảng 60- 70% tổng tiền gửi, còn ở Mỹ là
khoảng 25%. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các loại chủ yếu sau:
_ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:

kiệm này không chỉ tốt đối với ngời gửi tiền mà còn tốt đối với cả NHTM. Do
vậy, NHTM cần phải đặc biệt quan tâm đến hình thức huy động vốn này nhằm
tạo ra những nguồn vốn có tính ổn định cao phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn
trung và dài hạn của mình.
19

2.3. Huy động vốn qua đi vay.
Các khoản vốn vay ngày càng chiếm tỷ trọng cũng nh vị trí đặc biệt
quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thơng mại không
chỉ về mặt quy mô đơn thuần mà còn mang ý nghĩa nh là một biện pháp quản
lý các danh mục trng tài sản nợ. Vốn vay của Ngân hàng có thể hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau nhng chủ yếu vẫn bao gồm những nguồn cơ bản sau:
2.3.1. Vay từ Ngân hàng trung ơng.
Để tồn tại và phát triển thì NHTM phải cho vay, nó cho vay tới mức
mà Ngân hàng Trung ơng (NHTƯ) cho phép để tối đa hoá lợi nhuận. Thế nh-
ng không phải lúc nào hoạt động của nó cũng thuận buồm xuôi gió. Dẫu có
thận trọng đến mức nào đi nhăng nữa trong hoạt cho vay thì Ngân hàng cũng
khó tránh khỏi những lúc thiếu khả năng chi trả hay thanh toán cho khách
hàng. Trong những trờng hợp đó, giải pháp cuối cùng sau khi đã thực hiện các
biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không tìm kiếm đủ vốn là đi vay NHTƯ.
NHTƯ với t cách là ngân hàng của các ngân hàng sẽ trở thành vị cứu tinh cho
các NHTM trong trờng hợp thiếu vốn thanh toán.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều cho phép NHTM và các tổ chức tài
chính khác trong nớc mình đợc phép vay tiền từ NHTƯ trong những trờng hợp
cấp thiết nh: thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt về vốn. Tuy nhiên để giữ ổn định
giá trị đồng bản tệ cũng nh ngăn chặn sự lạm dụng của các NHTM trong việc
vay vốn, NHTƯ thờng không muốn cho các NHTM vay quá nhiều, khi đó nó
có thể nâng mức lãi suất chiết khấu, lãi suất phạt lên cao hoặc đa ra những
điều kiện vay mà hiếm NHTM nào có thể chịu đợc.
ở nớc ta hiện nay, các Ngân hàng thơng mại vay vốn từ Ngân hàng

đi vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trờng liên Ngân hàng hay thị trờng
tiền tệ trong và ngoài nớc.
Việc vay mợn vốn giữa các NHTM, giữa NHTM với các tổ chức tín
dụng khác đợc diễn ra liên tục trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng. Nó hình thành nên một loại tài sản nợ khá thờng xuyên trong bảng cân
đối tài sản. Mặt khác nó còn đảm bảo cho Ngân hàng có những mối quan hệ
tốt với các Ngân hàng khác trong cùng hệ thống, đồng thời tạo ra cơ hội cho
các Ngân hàng giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình kinh doanh.
21

2.4. Huy động vốn qua phát hành công cụ nợ.
Để đa dạng hoá các kênh khai thác nhằm tập trung vốn đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế, Ngân hàng không những chỉ đi vay của Ngân hàng Nhà n-
ớchay của các tổ chức tín dụng, các NHTM khác mà còn chú trọng nguồn vốn
hình thành từ nghiệp vụ phát hành công cụ nợ ra thị trờng.
Các NHTM có thể phát hành các loại công cụ nợ ra thị trờng để huy
động vốn nh: chứng chỉ tiền gửi ngân hàng có mệnh giá lớn, trái phiếu, kỳ
phiếu.... Trong đó, việc huy động vốn bằng các công cụ nợ ngắn hạn (gồm có
chứng chỉ tiền gửi, giấy thoả thuận mua lại...) lại có ý nghĩa quan trọng trong
việc quản lý tài sản nợ bên cạnh việc huy động vốn, bởi vì nó có thể đợc sử
dụng mọi lúc khi cần thiết.
Mức lãi suất đợc trả cho loại công cụ nợ ngắn hạn này thờng đợc quy
định bằng cách thỏa thuận trực tiếp giữa Ngân hàng và ngời gửi tiền hoặc đợc
quy định ở mức mà ngời gửi có thể chấp nhận đợc. Có thể nói, những ngời
mua chứng chỉ tiền gửi này rất nhạy cảm với những biến động của lãi suất trên
thị trờng. Do vậy, để có thể làm chủ đợc nguồn vốn này đòi hỏi các NHTM
phải đa ra mức lãi suất cao hơn so với mức lãi suất của các loại chứng chỉ tiền
gỉ khác hoặc cũng có thể cao hơn cả mức lãi suất của trái phiếu.
Khác với các công cụ nợ ngắn hạn, trái phiếu đợc coi là những công cụ
nợ dài hạn trên thị trờng vốn, đợc NHTM tung ra nhằm mục đích huy động

Nếu khách hàng đánh giá các Ngân hàng có cùng một hệ số an toàn và các
dịch vụ tiện ích nh nhau thì họ sẽ chọn Ngân hàng nào có lãi suất huy động
cao hơn để gửi. Điều này hoàn toàn hợp lý vì trong nền kinh tế, lĩnh vực có lợi
cao bao giờ cũng thu hút đợc nhiều ngời tham gia đầu t, và ngời tham gia đầu
t luôn muốn làm thế nào để mình thu đợc lợi
nhuận cao nhất.
Hơn nữa, lãi suất còn là yếu tố có ảnh hởng rất lớn đến quy mô của
nguồn vốn huy động. Thế nhng, không phải lãi suất huy động nào cũng giống
nhau, thông thờng lãi suất tiết kiệm có ảnh hởng nhiều hơn cả. Ngời dân thờng
quan tâm đến lãi suất tiết kiệm để so sánh nó với tỷ lệ trợt giá của đồng tiền và
khả năng sinh lợi của dòng tiền đầu t vào tiết kiệm so với đầu t vào cổ phiếu,
trái phiếu, bất động sản... từ đó đa ra quyết định có nên gửi vào ngân hàng hay
23

không, gửi bao nhiêu và gửi theo hình thức nào. Ngợc lại, đối với các tổ chức
kinh tế thì lãi suất huy động lại có ảnh hởng ít hơn vì phần lớn các doanh
nghiệp gửi tiền vào Ngân hàng đều với mục đích thanh toán là chính. Do đó
nguồn tiền huy động này chịu ảnh hởng nhiều bởi kỹ thuật, công nghệ của
ngân hàng cũng nh khả năng thanh toán và cho vay vì lợng tiền của các doanh
nghiệp và tổ chức kinh tế luôn luân chuyển và biến động theo nhu cầu thanh
toán.
Nh vậy, để thực hiện cơ chế lãi suất huy động hợp lý tức là vừa thu hút
đợc vốn, vừa đảm bảo sức cạnh tranh thì các NHTM phải thờng xuyên theo dõi
thống kê tình hình biến động lãi suất trên thị trờng và ngay trên địa bàn hoạt
động để có các quyết định điều chỉnh kịp thời phù hợp với mặt bằng lãi suất
trên thị trờng và đặc điểm riêng của mỗi Ngân hàng. Bên cạnh đó Ngân hàng
cũng cần quan tâm đến lãi suất kho bạc, bởi vì trên thực tế Kho bạc thờng phát
hành tín phiếu trả lãi cao hơn lãi suất huy động của các Ngân hàng thơng mại.
3.2. Các hình thức huy động vốn.
Khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau, có

khi quyết định tham gia giao dịch với Ngân hàng. Mặt khác, không phải ai
cũng thông hiểu hết mọi thủ tục, thể lệ gửi tiền cũng nh các chính sách khuyến
khích, u đãi mà họ đợc hởng. Nhất là đối với những khách hàng do trình độ
học vấn cha cao và với những khách hàng mới lần đầu đến ngân hàng gửi tiền.
Với hoạt động Marketing Ngân hàng, thông qua các bảng niêm yết đầy đủ,
công khai các tiện ích dễ hiểu sẽ tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái dễ chịu
và không cảm thấy cực nhọc khó khăn về thủ tục khi gửi tiền. Hơn nữa, nó sẽ
giúp cho khác hàng tìm thấy đợc một cơ hội hấp dẫn để gửi tiền cho ngân
hàng. Tạo điều kiện cho Ngân hàng có thể tiếp xúc và duy trì mối quan hệ lâu
dài với khách hàng.
Ngoài ra còn phải kể đến một vài nhân tố thuộc về nội bộ Ngân hàng
cũng có những tác động không nhỏ đến hoạt động huy động vốn của Ngân
hàng chẳng hạn nh: chiến lợc kinh doanh của Ngân hàng, quy mô cơ cấu vốn
tự có, cơ sở vật chất kỹ thuật trang thiết bị của Ngân hàng... Những yếu tố này
có ảnh hởng trực tiếp sâu sắc đến mô hình, cơ cấu tổ chức huy động vốn thậm
chí là đến cả uy tín của Ngân hàng trên thị trờng, nó đảm bảo giữ vững lòng
tin của khách hàng đối với Ngân hàng cũng nh là giới hạn tối đa của nguồn
vốn huy động.
25

Trích đoạn Tiền gửi doanh nghiệp. Tiền gửi dân c. Phát hành công cụ nợ. Chứng khoán Chính phủ 29 1.611 Chi phí huy động vốn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status