Thực trạng về công tác lập báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính tại công ty cơ khí Đà Nẵng - Pdf 12

http://forum.duytan.edu.vn
PHẦN I
PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP
VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
A.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH
I.Ý NGHĨA, NỘI DUNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.Ý nghĩa
Báo cáo Kế toán là sản phẩm của quá trình thu thập, đo lường, xử lý thông
tin tại bộ phận Kế toán của doanh nghi nhằm cung cấp những thông tin hữu ích
cho những ai quan tâm đến Doanh nghiệp (DN).Do tính đa dạng của đối tượng
sử dụng thông tin Kế toán và nhu cầu về thông tin Kế toán giữa các đối tượng
khác nhau nên việc xây dựng các báo cáo Kế toán cũng phải quan tâm đến đặc
điểm của từng đối tượng sử dụng.
+ Đối với nhà quản lý DN: Báo cáo Kế toán cung cấp cho các nhà quản lý
những thông tin theo yêu cầu cụ thể của họ vào bất kỳ thời điểm nào nhằm
phục vụ cho công tác điều hành và chỉ đạo hoạt động kinh doanh, hoạt độnh tài
chính của toàn doanh nghiệp.
+ Đối với các đối tượng bên ngoài Doanh nghiệp ( người chủ sở hữu, các
tổ chức tín dụng, khách hàng ) mỗi đối tượng có nhu cầu thông tin Kế toán
riêng chẳng hạn như: Người chủ sở hữu quan tâm đến nguồn vốn của mình
được sử dụng có hiệu quả không, các tổ chức tín dụng xem xét khả năng tài
chính của Doanh nghiệp trước khi quyết định cho vay
Thông tin trên báo cáo Kế toán mang tính tổng hợp toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nhằm phục vụ chủ yếu cho các đối tượng
bên ngoài Doanh nghiệp ngoài ra nó còn là căn cứ để các nhà quản lý đề ra các
quyết định về quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của toàn doanh nghiệp.
2 Nội dung của báo cáo tài chính:
Một hệ thống báo cáo tài chính gồm các nội dung sau:

tiền tệ tại một thời điểm nhất định( cuối tháng, cuối quí, cuối năm).
b Nội dung và Kết cấu của bảng cân đối Kế toán: Gồm 2 phần
Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của Doanh nghiệp tại
thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình kinh
Trang 2
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
http://forum.duytan.edu.vn
doanh của doanh nghiệp.Các tài sản được sắp xếp theo khả năng hoán chuyển
thành tiền theo thứ tự giảm dần.
-Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn.
-Tài sản cố định và đầu tư dài hạn.
Phần nguồn vốn: phản ánh toàn bộ nguồn hình thành tài sản hiện có của
Doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo.Các loại nguồn vốn được sắp xếp theo
trách nhiệm của Doanh nghiệp trong việc sử dụng nguồn vốn với chủ nợ và chủ
sở hữu.
Nợ phải trả.
Nguồn vốn chủ sở hữu.
Ngoài ra, bảng cân đối Kế toán còn có “các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối
Kế toán” bổ sung các thông tin khác chưa có trên bảng cân dối Kế toán: Tài sản
thuê ngoài, ngoại tệ các loại, hàng hoá nhận bán hộ, ký gởi, nguồn vốn khấu
hao.
c) Ý nghĩa của việc lập bảng cân đối Kế toán:
-Về mặt kinh tế:
+ Phần tài sản: Số liệu của tài sản cho phép đánh giá một cách tổng quát,
qui mô và Kết cấu tài sản của doanh nghiệp
+ Phần nguồn vốn: phản ánh các nguồn tài trợ cho tài sản của Doanh
nghiệp qua đó đánh quá được thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
- Về mặt pháp lý:
+ Về phần tài sản: thể hiện giá trị các loại tài sản hiện có mà Doanh
nghiệp có quyền quản lý và sử dụng lâu dài để mạng lại lợi ích lâu dài

Phần 1: Lãi, lỗ: thể hiện Kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước: Phản ánh tình hình
thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác (chi phí,
lệ phí)
Phần III: Thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, đã khấu trừ và còn
lại được khấu trừ cuối kỳ, số thuế GTGT hàng bán nội địa pjải nộp đã nộp và
còn phải nộp vào cuối kỳ
2.2.Ý nghĩa của báo cáo Kết quả kinh doanh:
Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh
giá hiệu quả kinh doanh và công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.Thông qua báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh có thể kiểm tra tình
Trang 4
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
http://forum.duytan.edu.vn
hình thực hiện Kế hoạch thu nhập, chi phí, Kết qủa từng loại hoạt động cũng
như Kết quả chung của toàn doanh nghiệp.Số liệu trên báo cáo này còn là cơ sở
để đánh giá khuynh hướng hoạt động của Doanh nghiệp trong nhiều năm liền
và dự báo hoạt động trong tương lai.Thông qua báo cáo Kết quả hoạt động kinh
doanh có thể đánh giá hiệu quả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.Ngoài ra
nó còn cho phép đánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các
khoản phải nộp khác, đặc thanh quyết toán thuế GTGT, qua đó dánh giá tình
hình thanh toán của doanh nghiệp.
2.3.Phương pháp lập báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh:
a )Phần1:
Báo cáo lãi lỗ: Căn cứ số phát sinh nợ; Phát sinh có các tài khoản trừ TK loại
5 đến TK loại 8 trong quan hệ đối xứng với TK 911” xác định Kết quả kinh
doanh.
b) Phần 2:Tình hình thực hiện nghĩa vụ đói với nhà nước
Số liệu để lập phần này được lấy từ số liệu trên TK333 "thuế giá trị gia
tăng phải nộp".

Doanh nghiệp để có các biện pháp tài chính cần thiết, đáp ứng trách nhiệm
thanh toán của mình.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn là cơ sở dự đoán các dòng tiền của Doanh
nghiệp trợ giúp các nhà quản lý trong công tác hạch định và kiểm soát các hoạt
động của Doanh nghiệp để đề ra các quyết định kịp thời:
3.3 Phương pháp lập:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp:
PhầnI: Lưu chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh:
Số liệu lên phần này lấy từ sổ theo dõi thu, chi tiền quan đến hoạt động
sản xuất kinh doanh
PhầnII: Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư:
Số nay để lập phần này cũng lấy từ số liệu dõi thu, chi tiền liên quan đến
hoạt động đầu tư
PhầnIII: Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
Số liệu này cũng lấy từ sổ theo dõi thu, chi tiền quan đến hoạt động tài
chính
- Tiền tồn đầu kì: Căn cứ vào số dư vốn bằng tiền đầu kì báo cáo,
Trang 6
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
http://forum.duytan.edu.vn
- Tiền tồn cuối kì: Căn cứ vào số dư vốn bằng tiền cuối kỳ báo cáo
- Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ: Phản ánh chênh lệch tổng số tiền thu
vào và tổng số tiền thu ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư,
hoạt động tài chính trong kì.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp:
Nguyên tắc chung để lập báo cáo này là diều chỉnh lợi nhuận trước thuế
của hoạt động sản xuất kinh doanh khỏi những ảnh hưởng của các nghiệp vụ
không trực tiếp thu tiền hoặc chi tiền đã làm tăng, giảm lợi nhuận; Loại trừ các
khoản lãi, lỗ của hoạt động tài chính, hoạt động khác đã tính vào lợi nhuận
trước thuế; Điều chỉnh các khoản mục thuộc vốn lưu động.

+ Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh
+ Thuyết minh báo cáo năm trước
Nguyên tắc chung lập một thuyết minh báo cáo tài chính:
-Trình bày lời văn ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, phần trình bày bằng số
liệu phải thống nhất với số liệu trên các báo cáo khác
- Đối với báo cáo quý, chỉ tiêu thuộc phần chế độ Kế toán áp dụng phải
nhất quan trọng cả niên độ Kế toán
- Trong các biểu số liệu, cột số Kế hoạch thể hiện số liệu Kế hoạch của kì
báo cáo; cột số thực hiện kì truớc số liệu kì ngay trước kì báo cáo
- Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của Doanh nghiệp
chỉ sử dụng trong thuyết minh năm
B.NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH:
I.KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH, TÁC DỤNG CỦA VIỆC PHÂN TÍCH BÁO
CÁO TÀI CHÍNH:
I.1.Khái niệm:
Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so
sánh số liệu về tình hình tài chính hiện thời và quá khứ.Tình hình tài chính của đơn
vị với những chỉ tiêu trung bình của nghành thông qua đó các nhà phân tích có thể
thấy được thực trạng tài chính hiện tại và những dự toán tương lai.
I.2Mục đích của việc phân tích báo cáo tài chính:
Giúp cho các nhà phân tích đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng
sinh lãi, tiềm năng, hiệu quả hoạt động kinh doanh, đánh giá những triển vọng cũng
như những rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp, đưa ra những quyết định cho
phù hợp.
Trang 8
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
http://forum.duytan.edu.vn
I3 tác dụng của việc phân tích báo cáo tài chính:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp được nhiều nhóm người khác nhau quan
tâm như:Nhà quản lý, chủ sở hữu, người cho vay Mỗi nhóm người này phân tích

Trang 9
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
http://forum.duytan.edu.vn
II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
II.1 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Xuất phát từ mục tiêu phân tích tài chính cũng như bản chất và nội dung các
quan hệ tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, nội dung phân tích
gồm có:
- Phân tích cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính.
- Phân tích hiệu quả của doanh nghiệp.
- Phân tích rủi ro của doanh nghiệp: Phát hiện những nguy cơ tìm ẩn trong
huy động vốn và thanh toán.
- Phân tích giá trị của doanh nghiệp: Hoạt động tài chính của doanh
nghiệp với chức năng cơ bản là huy động vốn và sữ dụng có hiệu quả các
nguồn lực mà còn liên quan đến thái độ, trách nhiệm của doanh nghiệp.
II.2phương pháp phân tích báo cáo tài chính và nội dung phân tích
báo cáo tài chính
1 phương pháp phân tích:
1.1phương pháp so sánh:
Đây là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tài chính, để vận
dụng phép so sánh trong phân tích ta cần quan tâm đến những vấn đề sau đây:
a.Tiêu chuẩn so sánh: Là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ so sánh.
- Sử dụng số liệu tài chính ở nhiều kì trước để đánh giá su hướng các chỉ tiêu
tài chính
- Sử dụng số liệu trung bình nghành để đánh giá sự tiến bộ về hoạt động tài
chính của doanh nghiệp so với mức trung bình tiên tiến của nghành.
- Sử dụng các số kế hoạch, số dự toán để đánh giá doanh nghiệp có đạt mục
tiêu tài chính trong năm.
b.Điều kiện so sánh:
- Chỉ tiêu phân tích phản ánh cùng nội dung kinh tế, cùng phương pháp tính

Giữa các số liệu tài chính trên báo cáo tài chính thường có mối tương quan với
nhau.Chẳng hạn một mối tương quan giữa doanh thu với khoản nợ phải thu, với
hàng tồn kho Vì vậy phân tích tương quan sẽ đánh giá tính hợp lý về biến động
giữa chỉ tiêu tài chính, xây dựng các tỉ số tài chính được phù hợp và phục vụ cho
công tác dự báo tài chính ở doanh nghiệp.
2 Nội dung phân tích:
2.1 Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp:
a.Phân tích cấu trúc tài sản:
Mục đích:
Nhằm đánh giá những đặc trưng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp tính
hợp lý khi đầu tư vốn cho hoạt động kinh doanh.Hiệu quả sử dụng vốn sẽ phụ thuộc
vào công tác phân bổ vốn: Nên đầu tư vào tài sản nào, dự trữ hàng tồn kho Hàng
loạt những vấn đề liên quan đến công tác sủ dụng vốn ở doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu nhằm phân tích cấu trúc tài chính ở doanh nghiệp:
Trang 11
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
http://forum.duytan.edu.vn
- Tỷ trọng tài sản cố định: Phản ánh mức độ tập trung vốn kinh doanh của
doanh nghiệp nhưng tỉ lệ này còn phụ thuộc vào từng loại hình kinh doanh, từng
giai đoạn của doanh nghiệp.
- Tỷ trọng hàng tồn kho: Đánh giá tính hợp lý trong công tác dự trữ, nó còn
phụ thuộc vào (qui mô của từng doanh nghiệp ) hoạt động kinh doanh và chính sách
dự trữ và tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh ở từng loại hình doanh nghiệp.
- Tỷ trọng các khoảng đầu tư tài chính: Thể hiện mức độ liên kết tài chính
giữa doanh nghiệp với những doanh nghiệp và tổ chức khác, nhất là các cơ hội của
các hoạt động tăng trưởng bên ngoài.
- Tỷ trọng khoảng phải thu khách hàng: Phản ánh số vốn đang bị các đối
tượng khác tạm thời sử dụng trong khâu thanh toán.Việc thu hồi số nợ phải tình
hình có ý nghĩa đưa vốn quay nhanh vào vòng lưu chuyển vốn tại đơn vị.
b.Phân tích cấu trúc nguồn vốn

nợ.Tuy nhiên trong công tác quản trị tài chính mỗi nguồn vốn đều có liên quan đến
thời hạn sử dụng và chi phí sữ dụng vốn.Vì vậy nguồn vốn doanh nghiệp được chia
làm hai loại:
+ Nguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản vay nợ trung và
dài hạn có thời gian > 1 năm ) là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử dụng thường
xuyên, âu dài vào hoạt động kinh doanh.
+ Nguồn vốn tạm thời (các khoản trả tạm thời:Lương, thuế, ) các khoản nợ tín
dụng thương mại do người bán chấp nhận; Các khoản vay ngắn hạn, ngân hàng và
nợ khác ).Là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động sản xuất
kinh doanh trong một thời gian ngắn, thường là trong một năm hoặc trong một chu
kì sản xuất kinh doanh.
- Các chỉ tiêu dùng để phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ:
Tỷ xuất này càng lớn cho thấy sự ổn định tương đối trong một thời gian nhất
định( >1năm).Đối với nguồn vốn sử dụng và doanh nghiệp chưa chịu áp lực thanh
toán nguồn tài trợ này trong thời gian ngắn.
Tỷ xuất tạm thời càng thấp cho thấy doanh nghiệp bị áp lực về thanh toán các
khoản nợ vay ngắn hạn lớn.
Tóm lại, việc phân tích cấu trúc nguồn vốn có nhiều ý nghĩa cho việc ra quyết
định:
-Về phía nhà tài trợ: Phân tích trên góp phần đảm bảo tín dụng cho khách hàng
nhưng vẫn gỉam thiểu các rủi ro phát sinh do không thanh toán đựơc nợ.
- Về phía nhà quản trị doanh nghiệp: Đối chiếu với các tỉ suất liên quan đến nợ
của doanh nghiệp với các hạn mức ngân hàng cho phép doanh nghiệp ước tính khả
năng nợ của mình để quyết định huy động vốn hợp lý.Qua đó, doanh nghiệp có thể
xây dựng một cấu trúc nguồn vốn hợp lý, giảm thiểu chi phí sử dụng vốn đến mức
thấp nhất có thể.
2.4 Phân tích cân bằng tài chính:
Trang 13
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
Tỉ suất nguồn vốn tạm thời

xét các bộ phận của nguồn vốn thường xuyên.Để đạt sự cân bằng doanh nghiệp cần
phải gia tăng nguồn vốn sở hữu hay gia tăng nợ dài hạn.Nếu tăng nguồn vốn sở hữu
thì gia tăng tính độc lập về tài chính nhưng làm giảm hiệu ứng của đòn bẫy nợ và
ngược lại đối với việc tăng nợ dài hạn.
2.4.2 Nhu cầu vốn lưu động ròng:
Trang 14
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
Nguồn vốn thường xuyên
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
< 1
Nguồn vốn thường xuyên
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
> 1
http://forum.duytan.edu.vn
Các yếu tố thuộc vốn lưu động có mối quan hệ với chu kỳ hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.Do những yếu tố này tác động qua lại với nhau nên
trong chu kỳ sản xuất kinh doanh sẽ phát sinh nhu cầu vốn lưu động ròng.
Nhu cầu lưu động ròng = Hàng tồn kho +Nợ phải thu khách hàng -Nợ phải trả người bán
Khi phân tích cân bằng tài chính cần xem xét mối quan hệ giữa vốn lưu động
vơí nhu cầu vốn lưu động ròng để xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp bị
thiếu hụt hay dư thừa vốn lưu động ròng để doanh nghiệp có thể huy động các
khoản vốn vay bù dắp hoặc có biện pháp sử dụng tiền nhàn rỗi đầu tư vào các
chứng khoán để sinh lời.
2.5 Phân tích rủi ro của doanh nghiệp:
Rủi ro của doanh nghiệp có thể được xem ở nhiều khía cạnh khác nhau: Rủi ro
kinh doanh, rủi ro tài chính, rủi ro phá sản.Ở đây ta chỉ đề cập đến rủi ro phá sản vì
đây là rủi ro gắn liền với khả năng thanh toán của doanh nghiệp.Trong quan hệ
thanh toán hiện nay doanh nghiệp nào cũng thực hiện việc tài trợ vốn thông qua
việc vay nợ ngắn hạn.Điều đó luôn gắn liền với một rủi ro phá sản khi khả năng
thanh toán giảm đến một mức độ báo động.Doanh nghiệp sẽ gặp một số khó khăn

2.5.2.Phương pháp phân tích:
a.Phương pháp phân tích thường hay sử dụng là tính toán và so sánh các chỉ
tiêu phả ánh khả năng thanh toán tức thời, khả năng thanh toán nhanh và khả năng
thanh toán hiện hành giữa thời kỳ này với thời kỳ khác.Qua đó đánh giá cụ thể về
rủi ro phá sản và các nhân tố nguyên nhân ảnh hưởng đến rủi ro của doanh nghiệp.
b.Các chỉ tiêu phân tích:
b1.Số vòng quay của khoản phải thu khách hàng:(Hp.thu)
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền.Trị giá
chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi khoản phải thu càng nhanh.Điều này
được đánh gía là tốt vì khả năng hoán chuyển thành tiền nhanh do vậy đáp ứng nhu
cầp thanh toán nơ.Tuy nhiên hệ số này quá cao có thể không tốt vì có thể thắt chặt
tín dụng bán hàng, do vậy ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp.Vì vậy, khi
đánh giá khả năng hoán chuyển các khoản phải thu thành tiền cần xem xét đến
chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp.
b2.Số ngày của chu kỳ nợ (số ngày doanh thu chưa thu)(Nn)
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân của một chu kỳ nợ, từ khi bán hàng
cho đến khi thu tiền.Chỉ tiêu này so sánh với kỳ hạn tín dụng của doanh nghiệp cho
từng khách hàng sẽ đánh giá tình hình thu nợ và khả năng hoán chuyển thành tiền.
b3.Số vòng quay của hàng tồn kho:(Hhàng)
H
hµng
=
Gi¸ vèn b¸n hµng
Trang 16
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
N
n
số chủ nợ bình quân các khoản phải thu khách hàng
=
doanh thu thuần bán chịu + thuế gtgt đầu ra tương ứng

Thiết Bị Điện Đà Nẵng:
Công ty cơ khí và thiết bị điện đà nẵng là một Doanh nghiệp nhà nước
thuộc sở công nghiệp đà nẵng, là một đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp
nhân đầy đủ.Trụ sở chính của công ty đặt tại 494 Núi Thành Đà Nẵng
Công ty có 4 đơn vị thành viên:
* Nhà máy điện cơ Đà Nẵng 494 Núi Thành
* Nhà máy cơ khí Đà Nẵng 229 Lê Văn Hiến
* Trung tâm dịch vụ kỹ thuật 303 Phan Chu Trinh Đà Nẵng
* Trung tâm kinh doanh sản phẩm cơ khí và thiết bị điện 149 Trần Phú
Đà Nẵng.
Tiền thân của công ty cơ khí và thiết bị điện là nhà máy cơ khí và nhà máy
điện cơ.Đầu năm 1976 dưới sự chủ quản của Sở Công nghiệp Quảng Nam Đà
Nẵng, Nhà máy Cơ khí và Nhà máy Điện cơ được xem như là con chim đầu đàn
của Ngành công nghiệp Thành phố.Nhà máy Cơ khí có đầy đủ công cụ dụng cụ
để sản xuất ra máy móc thiết bị phục vụ cho ngành kinh tế.Nhà máy Điện cơ
qua quá trình phát triển có uy tín với những sản phẩm truyền thống như: Quạt
điện, chấn lưu.Năm 1986 đất nước có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ kinh tế
bao cấp sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước làm cho các đơn vị
sản xuất trong nước gặp không ít khó khăn và hai nhà máy này cũng nằm trong
trình trạng làm ăn thua lỗ kéo dài.
Trang 18
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
http://forum.duytan.edu.vn
Ngày 31/12/1997 thực hiện quyết định số 5487 của bộ công nghiệp và ủy
ban nhân thành phố Đà nẵng về việc sắp xếp lại các doanh nghiệp, nhà máy
điện cơ sáp nhập với nhà máy cơ khí và trở thành công ty cơ khí và thiết bị điện
Đà NẵNg.Công ty này chính thức đi vào hoạt đÄng ngày 1/1/1998.Những tồn
đọng của tài chính cũ trong thời kỳ sáp nhập chưa giải quyết xong đã làm ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.Tuy nhiên trong những
năm gần đây nhà nước chủ trương nội điện hóa hàng xe máy IKD Công ty đã

và tuân thủ các qui định của nhà nước và cơ quan có thẩm quyền.
Thực hiện chế độ bảo tồn và phát huy hiệu quả sử dụng vốn
Lập đầy đủ các báo cáo về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty cho cơ quan chủ quản
II.QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ, TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ TỔ CHỨC
QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY
II.1Qui trình công nghệ
Những sản phẩm của công ty mang nhiều kiểu dáng công nghiệp, mỗi sản
phẩm đều có chức năng sử dụng khác nhau.Xét về tổng thể qui trình công nghệ
sản xuất cố thể khài quải qua sơ đồ sau:
ĐỐI VỚI SẢN PHẨM ĐIỆN CƠ:ĐỐI VỚI SẢN PHẨM CƠ KHÍ:
Trang 20
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
Thành phẩm
Nguyên vật
liệu
Tạo
phôi
Gia công cơ khí
Lắp ráp
Thành
phẩm
đúc
Thành
phẩm
Nguyên vật
liệu

DIỄN ĐÀN SINH VIÊN DUY TÂN
Bộ kế
hoachk
vật tư
CÔNG TY
NHÀ MÁY ĐIỆN
NHÀ MÁY CƠ KHÍ
Phân
xưởng
cơ khí
và tạo
phôi
Phân
xưởng
điện
hóa và
lắp
ráp
Phòng
kỹ
thuật
Phân
xưởng
cơ khí
Phân
xưởng

hàn và
lắp
ráp

phòng
kế
hoạch
vật tư
PGĐ SẢN XUẤT
Phòng
tổ chức
hành
chính
Trung
tâmNúi
Thành
kd sản
phẩm cơ
khí
Phòng
kế
toán
tài vụ
Trung
tâm dịch
vụ kỹ
thuật
http://forum.duytan.edu.vn
xuất của cán bộ công nhân viên, có quyền sử dụng hay sa thải công nhân viên
theo điều lệ của công ty và là người có trách nhiệm đầu tiên đến đời sống của
từng cán bộ công nhân viên trong công ty
-PGĐ sản xuất: tham mưu cho giám đốc, có trách nhiệm tổ chức hay quản
lý quá trình sản xuất hằng ngày từ khâu chuẩn bị cho đến khâu bố trí điều hành
lao động, tổ chức cấp phát vật tư

cụ
Kế toán
thành
phẩm
công nợ
Thũ
quỹ
http://forum.duytan.edu.vn
- Kế toán trưởng: Tham mưu cho giám đốc trong việc tổ chức hệ thống Kế
toán, có nhiệm vụ báo cho giám đốc về tình hình tài chính của đơn vị và trực
tiếp lãnh đạo phòng Kế toán của công ty.Kế toán trưởng là người trực tiếp nắm
bắt mọi chế độ, chính sách liên quan đến hệ thống Kế toán, chịu trách nhiệm
về sự chính xác của số liệu Kế toán và chấp hành chế độ Kế toán.
- Kế toán phó kiêm Kế toán tài sản cố định: Tham mưu cho giám đốc về
tình hình tăng giảm tài sản cố định, trích và phân bổ khấu hao, xác định giá trị
còn lại của tài sản cố đinh.
- Kế toán tổng hợp kiêm Kế toán tiền mặt, tiền gửi: Có nhiệm vụ theo dõi
biến động của tất cả các đối tượng nhưng chỉ hạc toán tổng hợp.Cuối kỳ tính ra
số dư của các tài khoản, lập báo cáo Kế toán.Đồng thời Kế toán tổng hợp còn
theo dõi thêm phần tiền mặt, tiền gửi, hạch toán dchi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm, phân bổ và tính lương và các khoản trích theo lương.
- Kế toán vật tư công cụ dụng cụ: Có nhiệm vụ ghi chép phản ánh tình
hình thu mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.Đồng thời còn có trách nhiệm
theo dõi những khoản phải trả cho người bán.
-Kế toán thành phẩm, thanh toán: Có nhiệm vụ ghi chép phản ánh tổng
hợp, chi tiết tình hình nhập xuất tồn thành phẩm.Ngoài ra còn theo dõi các
khoản thanh toán trong nội bộ công ty, các khoản phải thu khách hàng, các
khoản phải trả khác.
III.2.Hình thức sổ Kế toán áp dụng:
Hình thức sổ của công ty là hình thức nhật ký chung

TIẾT
BÁO CÁO KẾ
TOÁN

Trích đoạn Sự cần thiết của việc lập bâo câo lưu chuyển tiền tệ Lập bâo câo lưu chuyển tiền tệ theo phương phâp trực tiếp b1 Căn cứ để lập: 2,9% 4 Tiền đê trả cho câc khoản khâc 1199622255 8, 83% 12234,4 2 Tổng số tiền lưu chuyển từ hoạt động đầu tư (894210764) (2189, 17)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status