- 1 -
1 Thị trường ngoại hối
- 2 -
ngoại tệ, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, vàng, tiền VN. Tuy nhiên, trong
- 3 -
3
khuôn khổ môn học Thanh toán quốc tế, thị trường ngoại hối được giới hạn là
thị trường mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán quốc tế.
Ngày nay, nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của các phương
tiện liên lạc như điện thoại, fax, internet và các mạng nội bộ khác như mạng
SWIFT, việc giao dịch ngoại hối không chỉ diễn ra tại một địa điểm cụ thể như
Sở giao dịch hối đoái hay Trung tâm mua bán ngoại tệ nữa. Người ta có thể
giao dịch ngoại hối ngay cả khi đang ở nhà. Các giao dịch không cần địa điểm
như vậy hình thành nên thị trường hối đoái phi tập trung (OTC- Over the
counter) qua mạng, fax, email, điện thoại
Do vậy, khái niệm mới về thị trường ngoại hối dễ được chấp nhận hơn
là: Thị trường ngoại hối là một mạng lưới toàn cầu liên kết các thành
phần tham gia thị trường với nhau thông qua các mạng điện tín, như hệ
thống điện thoại, telex, fax, máy tính và hệ thống giao dịch tự động. Hệ
thống liên lạc của thị trường ngoại hối được đánh giá là tốt nhất trên thế giới,
kể cả so với ngành công nghiệp, các chính phủ, ngành quân sự, an ninh quốc
gia và các hoạt động tình báo.
8.2 Đặc điểm:
- Thị trường ngoại hối mang tính quốc tế vì có sự tham gia của nhiều nước
khác nhau trên thế giới. Ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và
phát triển trong thế cô lập với các nước còn lại của thế giới. Các nước tham
gia nhiều hơn, sâu rộng hơn vào các mối quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư,
du lịch quốc tế Các mối quan hệ quốc tế này đã làm phát sinh nhu cầu về
mua bán, chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác. Do vậy, không một
quốc gia nào tham gia vào các mối quan hệ trên lại nằm ngoài thị trường ngoại
hối. Phạm vi hoạt động của thị trường ngoại hối không đóng khung trong một
cũng thu hút sự quan tâm của nhiều người tham gia thị trường ngoại hối, do
tính rủi ro cao, biến động nhiều nên lãi kỳ vọng thu được rất lớn, ví dụ đồng
rúp. Thứ hai, do thị trường ngoại hối hoạt động 24/24h, nên một biến động
về kinh tế, chính trị, xã hội xảy ra trên thế giới sẽ ngay lập tức ảnh hưởng
- 5 -
5
đến thị trường hối đoái, bất kể là ngày hay đêm. Ví dụ, ngay sau khi thông
tin về Tổng thống mới của Hoa Kỳ- ông Barack Obama đắc cử được công
bố, đồng USD đã mạnh lên so với nhiều đồng tiền khác. Theo
thì trên thị trường ngoại hối quốc tế, có những tỷ
giá biến động rất nhạy cảm đến 18.000 lần/ngày, nghĩa là trung bình cứ 4,8
giây thì tỷ giá biến động một lần.
Ở Việt Nam, thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng của Việt Nam là tiền
thân của thị trường ngoại hối. Tuy nhiên, thị trường ngoại tệ liên NH ở VN
đến nay vẫn chưa phát triển. Theo thống kê, chỉ mới có khoảng 25% số giao
dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại hối là của các NH với nhau, trong khi đó
ở các nước phát triển là khoảng trên 60%. Ở Việt Nam, khi có nhu cầu về
ngoại tệ, ta không chỉ có thể mua ngoại tệ ở NHTM mà còn có thể mua ở thị
trường chợ đen (ở HN là phố Đinh Lễ, ở Tp. HCM có phố Nguyễn Trung
Trực). Tồn tại song song với thị trường ngoại hối chính thức là thị trường
chợ đen.
8.3. Các thành phần tham gia vào thị trường:
Nếu căn cứ vào mục đích tham gia vào thị trường ngoại hối, tham gia
vào thị trường ngoại hối có 3 nhóm thành phần sau:
- Nhóm 1: tham gia vào thị trường ngoại hối để thỏa mãn nhu cầu về ngoại tệ:
cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp kinh doanh XNK, các nhà đầu tư
Nhóm này khi tham gia vào thị trường ngoại hối chủ yếu là nhằm mục đích
thỏa mãn nhu cầu về sở hữu ngoại tệ hơn là mục đích lợi nhuận. Ví dụ: Khi
nhận được 1 lượng kiều hối, các cá nhân bán ngoại tệ để lấy nội tệ phục vụ
đầu cơ thì thường găm giữ hàng trong một thời gian nhất định rồi mới
tiến hành mua hoặc bán. Hay nói cách khác, nhà đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận
từ sự biến động của tỷ giá, còn nhà kinh doanh thì tìm kiếm lợi nhuận không
nhất thiết từ sự biến động của tỷ giá, mà là qua chênh lệch giá mua và giá bán.
+ Nhà kinh doanh chênh lệch giá (arbitrageurs): là những người tham
gia vào thị trường ngoại hối tìm kiếm lợi nhuận dựa vào sự mất cân bằng tạm
thời về tỷ giá giữa các thị trường khác nhau. Nó vừa giống nhà kinh doanh,
- 7 -
7
tuy nhiên, nhà kinh doanh chênh lệch giá thường ít chịu rủi ro, vì họ biết
được lúc nào, ở đâu có thể mua được ngoại tệ rẻ nhất và bán ngoại tệ đó ở
đâu, lúc nào để đạt lợi nhuận cao nhất. Ví dụ, nếu bạn thấy giá USD ở Tp.
Hồ Chí Minh đang đắt hơn so với ở Australia (thông qua phương pháp tính
tỷ giá chéo), bạn có thể tiến hành dùng VNĐ ở Tp. HCM để mua AUD, rồi
dùng AUD để mua USD ở Sydney và bán USD đó ở Tp. HCM để thu được
số VND lớn hơn lúc bỏ ra.
Các Ngân hàng thương mại có thể đảm nhận vai trò của các thành phần
trên, có thể hoạt động với tư cách là nhà kinh doanh ngoại tệ, nhà môi giới
(chủ yếu là môi giới trong thị trường ngoại tệ liên ngân hàng), nhà đầu cơ,
nhà kinh doanh chênh lệch giá.
Chúng ta đã biết rằng, thị trường hối đoái ra đời nhằm phục vụ trước
hết cho hoạt động thương mại quốc tế. Tuy nhiên, người ta ghi nhận, ngày
nay chỉ có khoảng 5% doanh thu trên thị trường này là nhằm đáp ứng các
nhu cầu thực sự về ngoại hối (chi trả tiền hàng, chuyển lợi nhuận ra nước
ngoài ); 95% doanh thu là từ các giao dịch đầu cơ và các giao dịch nhằm
mục đích tìm kiếm lợi nhuận khác.
Nhóm 3: Các Ngân hàng Trung ương của các nước. NHTW các nước tham
gia thị trường với vai trò rất đặc biệt, đó là thông qua thị trường liên ngân hàng
để áp dụng các chính sách tiền tệ nhằm mục
Tỷ giá giao ngay là: USD/VND =15.600/15.700
Lãi NH như sau:
Lãi suất áp dụng cho USD: trong đó lãi suất huy động là 4%/năm
Lãi suất cho vay là: 5%/năm
Lãi suất áp dụng cho VND: lãi suất huy động là 13%/năm
Lãi suất áp dụng cho VND: lãi suất cho vay là 14%/năm
Cách 1: Đem mua ngay 100.000 $ để dành sau 90 ngày thì thanh toán cho
khách hàng. Như vậy, công ty A sẽ phải bỏ ra 1.570.000.000 VND để mua
100.000$.
- 9 -
9
Sau đó, công ty A có thể mang 100.000$ để gửi kỳ hạn 90 ngày để thu lãi. Số
tiền thu được:
Fu = 100.000 (1+
4
360
90
%) = 101.000USD
Cách 2: Mang 1.570.000 đem gửi Ngân hàng kỳ hạn 90 ngày, sau đó dùng để
mua USD trả khách hàng.
Trong 90 ngày đó, công ty A sẽ thu được số tiền là:
Fv= 1.570.000.000 (1+
%13
360
90
) = 1.617.100.000 VND
Theo thuyết ngang giá lãi suất, kết quả đầu tư bằng USD Fu phải tương đương
với kết quả đồng tư bằng VND Fv, nếu không, vốn của nước này sẽ chảy sang
nước kia và ngược lại.
Rf = Rs [1+
IyK
IyKIdK
1
] (2)
Nếu thời hạn vay ngắn, Iy nhỏ thì ta có thể coi 1+ Iy.K =1, do đó:
Rf = Rs + Rs. K. (Id- Iy)
Nếu thời hạn vay dài, lãi suất lớn thì ta áp dụng công thức (2).
Hệ số: Rs.k. (Id- Iy)/ (1+IyK) gọi là hệ số SWAP (SWAP rate).
Kết luận: Tỷ giá kỳ hạn = tỷ giá giao ngay + chênh lệch tiền lãi giữa đồng yết
giá và đồng định giá.
Rf = Rs + Rs (Id – Iy). K
Rfab Rf = Rsab + Rsab (Id – Iy). K
Rfbb = Rsbb + Rsbb (Id – Iy). K
Nếu Id > Iy thì SWAP rate > 0
Ta có: Rs = Rs + Premium (điểm gia tăng vào tỷ giá giao ngay).
Nếu Id < Iy thì SWAP rate < 0
Ta có: Rs = Rs - Discount (điểm khấu trừ vào tỷ giá giao ngay).
b. Nghiệp vụ Arbitrage
Rf= Rs
Iy.K) (1
K . Id1
- 11 -
Thực hiện Arbitrage 3 điểm như sau:
- 12 -
12
Dùng HKD mua USD theo Rsa(USD/HKD)=4,55
Bán USD tại Tokyo theo tỷ giá: Rsb USD/JPY = 150
Về Hồng Kong bán lại JPY theo tỷ giá: Rsb=JPY/HKD = 0,0315
Thu được: 150 x 0,0315 = 4,725 HKD
Lãi: 4,725 – 4,55 = 1,75 HKD
c. Nghiệp vụ hoán đổi (SWAP)
Khái niệm: là giao dịch kinh doanh ngoại hối trong đó 1 đồng tiền được mua
và bán song song, nhưng ngày giao dịch mua và bán là khác nhau.
Các trường hợp áp dụng: kết hợp 2 giao dịch cho cùng 1 đồng tiền
- Có thể 1 giao dịch giao ngay và 1 giao dịch kỳ hạn
- Hoặc là 2 giao dịch kỳ hạn nhưng thời hạn thanh toán khác nhau
Ví dụ: VCB nhận được 1 khoản tiền gửi kỳ hạn 3 tháng bằng EUR của khách
hàng A, đồng thời cung cấp một khoản tín dụng 3 tháng bằng USD cho khách
hàng B. Hiện tại, NH không còn USD.
Cách 1:
Mang EUR gửi ở Ngân hàng khác, sau đó vay USD cấp cho khách hàng B.
Cách 2: Bán EUR mua USD để cung cấp cho khách hàng B.
Mua EUR kỳ hạn 3 tháng bằng USD
Với cách 2 thì VCB đã thực hiện nghiệp vụ hoán đổi nhằm bảo toàn vốn và
hưởng lãi do chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền.
Trong ví dụ trên, Ieur = 3%/năm
Iusd = 2%/năm
Tỷ giá EUR/USD = 1,31/1,33
Số tiền là 1 triệu EURO
Các bước thực hiện nghiệp vụ hoán đổi:
- Bán 1 triệu EUR giao ngay, thu được số USD là: 1.000.000 x 1,31 =
bán phải trả cho người mua một khoản phí nhất định để giành quyền bán
hoặc hủy hợp đồng bán 1 số lượng ngoại tệ nhất định vào thời điểm trước
hoặc đến khi đáo hạn.
Đặc điểm:
- Đối tượng của HĐ là quyền chọn
- 14 -
14
- Giao dịch quyền chọn phát sinh 3 quyền (quyền thực hiện HĐ, quyền
hủy HĐ, quyền chuyển nhượng).
- Phí chọn mua gọi là call premium,
- phí chọn bán gọi là put premium.
- Một dạng đầu cơ tỷ giá: HĐ mua đợi tỷ giá tăng lên, bán đợi tỷ giá
giảm xuống. Nếu gọi tỷ giá khi ký HĐ quyền chọn là R kỳ hạn (Rf); tỷ
giá trên thị trường giao ngay khi thực hiện HĐ: Rs, ta có:
Quyền chọn mua:
Nếu Rf+ phí mua quyền> Rs thì hợp đồng lỗ vốn
(out-of-the-money)
Nếu Rf+ phí mua quyền = Rs thì hợp đồng hòa vốn
(at-the-money)
Nếu Rf+ phí mua quyền <Rs thì hợp đồng có lãi
(in-the-money)
Quyền chọn bán:
Nếu Rf+ phí mua quyền < Rs thì hợp đồng lỗ vốn
(out-of-the-money)
Nếu Rf+ phí mua quyền = Rs thì hợp đồng hòa vốn
(at-the-money)
Nếu Rf+ phí mua quyền >Rs thì hợp đồng có lãi
(in-the-money)
- Kỳ hạn HĐ là kỳ hạn chuẩn, thường là 30, 60, 90 ngày.
loại HĐ sẵn có, điều đó làm cho các giao dịch càng náo nhiệt.
Khác với các HĐ kỳ hạn là các giao dịch riêng biệt giữa 2 cá nhân,
là những người có thể ký bất cứ loại HĐ nào mà họ đồng ý. Ví dụ, 2 người có
thể ký với nhau một HĐ kỳ hạn có giá trị 70.000 DEM kỳ hạn 20 tháng. Trong
khi đó, giá trị của các HĐ tương lai đối với DEM là 125.000DEM và được
định giá bằng USD với thời kỳ đáo hạn sẵn có. Nếu khối lượng giao dịch
nhiều thì phải kí nhiều HĐ và tổng khối lượng giao dịch chỉ có thể là bội số
của khối lượng giao dịch trong mỗi hợp đồng.
- 16 -
16
Một điểm khác biệt nữa giữa giao dịch HĐ kỳ hạn và HĐ tương lai,
đó là trong HĐ tương lai, sau khi ký HĐ, người mua phải kí quỹ một khoản
tiền theo quy định cho mỗi HĐ nhằm đảm bảo thực hiện HĐ. Ví dụ, khoản đặt
cọc cho mỗi HĐ tương lai đối với GBP tối thiểu là 1.418$. Còn trong giao
dịch kỳ hạn thì thường không có yêu cầu về tiền bảo đảm, do đó, các bên tham
gia HĐ phải đối mặt với rủi ro khi một bên không thực hiện các điều khoản
của HĐ.
Trong giao dịch kỳ hạn, HĐ mua bán được kết thúc bằng việc giao
nhận thật vào ngày thỏa thuận trước. Còn trong giao dịch Futures, khách hàng
có thể kết thúc HĐ vào bất kỳ lúc nào bằng cách ký một hợp đồng khác mua
(nếu HĐ trước là bán) hoặc bán (nếu HĐ trước là HĐ mua) với cùng số tiền và
cùng ngày thanh toán.
Tổng hợp các điểm khác nhau cơ bản giữa các HĐ tương lai và HĐ kỳ hạn
TT
Tiêu chí so sánh
HĐ kỳ hạn HĐ tương lai
1 Giao dịch Được mua bán qua điện thoại
thông qua phòng thanh toán
bù
trừ của Sở giao dịch; các khoả
n
- 17 -
17
lãi đối với HĐ có thể đượ
c rút
và các khoản lỗ đượ
c thu hàng
ngày. Thực tế này được gọ
i là
định giá theo thị trường
7 Niêm yết Niêm yết gián tiếp (số đơn vị nộ
i
tệ/đô la)
Niêm yết trực tiếp (số đơn vị
đôla/một đơn vị ngoại tệ)
8 Các chi phí giao
dịch
Dựa vào chênh lệ
ch giá bán và giá
mua
Là các khoản phí để
mua và bán
các HĐ
9 Các khoản đặt cọ
c
Không yêu cầu Phải đặt cọc