NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
********
THẢO LUẬN :
THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NSNN VIỆT NAM HIỆN
NAY. NHỮNG GIẢI PHÁP XỬ LÍ THÂM HỤT NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC
Danh sách thành viên nhóm 6 - KTD - K10:
1. Tống Thị Hồng Nhung
2. Nguyễn Thị Hiên
3. Vũ Thu Hà
4. Nguyễn Thị Thêu
5. Nguyễn Thị Ngọc Mai
6. Đinh Thị Hương
7. Dương Thị Hường
8. Trần Thùy Dương
9. Trần Thị Giang
10. Trần Lệ Hằng
11. Lê Thị Hương
HÀ NỘI - 5/2009
1
MỤC LỤC
TIÊU ĐẾ TRANG
Lời mở đầu 3
Phần I: Lý luận chung 5
I.1. Khái quát về NSNN 5
I.1.1. Khái niệm vè NSNN 5
I.1.2. Đặc điểm NSNN 7
I.2. Cân đối NSNN 9
I.2.1. Khái niệm cân đối NSNN 9
I.2.2. Đặc điểm cân đối NSNN 10
nước mình để cân đối ngân sách nhà nước cho hiệu quả.
Trong xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, vấn đề cân đối ngân sách nhà
nước là rất quan trọng và cần được quan tâm đúng mức. Bỡi lẽ, ngân sách nhà
nước là công cụ tài chính cốt yếu để Nhà nước điều phối toàn xã hội, giải quyết
những vấn đề khó khăn của đất nước, đem lại sự công bằng cho người dân,…
Nhưng để đảm bảo tốt những vai trò trên thì ngân sách nhà nước phải được cân
đối. Thực tế ở Việt Nam trong thời gian vừa qua, ngân sách nhà nước không ổn
định và mất cân đối đã kéo theo những hậu quả làm ảnh hưởng đến sự phát triển
của nền kinh tế và nhiều vấn đề xã hội nãy sinh như: thu vào ngân sách nhà
nước không đủ chi dẫn đến nợ nước ngoài nhiều, lạm phát tăng nhanh, không có
nguồn tài chính để đầu tư đúng mức vào hoạt động kinh tế… Để khắc phục
những vấn đề trên, chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc cải cách quản lý
hành chính, đổi mới chính sách thu, chi ngân sách để hướng tới một ngân sách
nhà nước được cân đối nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định xã
hội và kiểm soát tình trạng lạm phát đang diển ra ở nước ta và đưa Việt Nam
tiến vào thời kỳ hội nhập của nền kinh tế thế giới. Vì những lý do trên nên
chúng em đã chọn chủ đề thảo luận là :
“ Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước hiện nay và những giải pháp
xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước”.
PHẦN MỘT : LÝ LUẬN CHUNG
I.1 . Khái Quát Về Ngân Sách Nhà Nước
I.1.1.Khái niệm ngân sách nhà nước
Một Nhà nước muốn tồn tại và phát triển cần có một nguồn quỹ tài
chính (Nguồn quỹ này được Nhà nước huy động từ trong xã hội) để phục
vụ cho hoạt động của Nhà nước, giúp Nhà nước thực hiện chức năng và
3
nhiệm vụ của mình.Chính vì vậy, sự ra đời của Nhà nước cũng kéo theo
sự hình thành về ngân sách nhà nước.
Lúc đầu, ngân sách nhà nước được hiểu là một nguồn quỹ hoặc là túi
tiền của người quản lý ngân khố, nó là toàn bộ những khoản thu chi thuộc
thủ tục riêng và hiệu lực thi hành của đạo luật này được xác định rõ ràng
là một năm.
Theo Điều 1 - Luật Ngân sách Nhà nước 2002, ngân sách nhà nước được
định nghĩa là:
“ Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện
trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà
nước”.
Từ sự phân tích trên, ta có thể xác định : Ngân sách nhà nước phản ánh
các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng
các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước khi nhà nước tham gia phân phối
các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của nhà
nước trên cơ sở luật định
I.1.2. Đặc điểm Ngân sách Nhà nước
Thông qua định nghĩa về ngân sách nhà nước, ta thấy ngân sách nhà
nước là một loại hình ngân sách đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ mang
những đặc điểm chung của các loại ngân sách thông thường, mà còn hàm
chứa những đặc điểm riêng thể hiện bản chất của một loại hình ngân sách
của một quốc gia như:
Ngân sách nhà nước vừa là một bảng kế hoạch tài chính vừa là một
đạo luật của một quốc gia. Ngân sách nhà nước chính là toàn bộ các
khoản thu, chi của một quốc gia đã được dự toán thực hiện trong một
5
năm, việc thiết lập ngân sách nhà nước không chỉ mang tính kỹ thuật
nghiệp vụ kinh tế giống như các loại ngân sách thông thường khác mà nó
còn mang tính kỹ thuật pháp lý, ngân sách nhà nước được soạn thảo và
thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặc biệt phải được Quốc
hội xem xét, biểu quyết thông qua giống như việc ban hành một đạo luật.
Đặc điểm này đã làm cho ngân sách nhà nước khác hẵn với các loại ngân
sách thông thường khác như: ngân sách của gia đình của các tổ chức
muốn hoạt động được cần có một số tiền rất lớn để chi tiêu và số tiền đó
được trích ra từ ngân sách nhà nước. Nhà nước thực hiện chức năng và
nhiệm vụ của mình nhằm bảo đảm cho sự phát triển của toàn xã hội, phục
vụ lợi ích của toàn dân, không phân biệt người giàu nghèo hay đẳng cấp
địa vị xã hội. Đặc biệt ngân sách nhà nước còn ưu tiên để giúp đỡ phục
vụ cho những người nghèo, hỗ trợ để giảm bớt những tệ nạn xã hội. Vì
vậy chính phủ luôn tìm cách thỏa mãn giữa nhiệm vụ thu và nhiệm vụ chi
đã được hoạch định và cho phép thực hiện bởi Quốc hội. Đặc điểm này
đã thể hiện một bản chất rất riêng của ngân sách nhà nước, ngân sách nhà
nước phục vụ cho toàn xã hội, toàn dân, không phân biệt người giàu,
người nghèo hay cá nhân, tổ chức nào để đảm bảo cho sự phát triển của
cả đất nước.
I.2. Cân Đối Ngân Sách Nhà Nước
I.2.1. Khái niệm cân đối Ngân sách Nhà nước
Ngân sách nhà nước là một bảng kế hoạch tài chính của một quốc
gia trong đó dự trù các khoản thu và chi được thực hiện trong một năm. Trên
thực tế quá trình thu chi ngân sách nhà nước luôn trong trạng thái biến đổi
không ngừng, nó bị ảnh hưởng bởi sự vận động của nền kinh tế quốc gia, có
khi những khoản thu dự kiến không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu trong năm
đó, hoặc có khi mức thu lại vượt xa những khoản chi. Do vậy các khoản chi
7
tiêu và thu ngân sách nhà nước phải được tính toán chính xác và phù hợp với
thực tế để đảm bảo cho ngân sách nhà nước trong trạng thái cân bằng, ổn
định. Thu và chi ngân sách là hai vấn đề quan trọng để đảm bảo cho ngân
sách nhà nước được cân đối, hai vấn đề này lại nằm trong mối tương quan
giữa tài chính và kinh tế, vì kinh tế có phát triển thì Nhà nước mới huy động
được nguồn thu vào ngân sách nhà nước, còn kinh tế không ổn định, kém
phát triển thì nguồn thu vào ngân sách nhà nước giảm và còn phải chi nhiều
để hổ trợ. Điều đó dể dẫn đến ngân sách nhà nước bị mất cân đối.
Xét về bản chất, cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa các nguồn
việc tính toán thu, chi không phản ánh một cách thụ động các chỉ tiêu kinh
tế-xã hội, mà cân đối ngân sách nhà nước có tác động làm thay đổi hoặc điều
chỉnh một cách hợp lý các chỉ tiêu kinh tế- xã hội, bằng khả năng quản lý
hoặc phân bổ nguồn lực có hiệu quả.
- Cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa tổng thu và tổng chi, giữa
các khoản thu và các khoản chi, cân đối về phân bổ và chuyển giao nguồn
lực giữa các cấp trong hệ thống ngân sách nhà nước, đồng thời kiểm soát
được tình trạng ngân sách nhà nước đặc biệt là tình trạng bội chi ngân sách
nhà nước. Cân bằng thu- chi ngân sách nhà nước chỉ là tương đối chứ không
thể đạt mức tuyệt đối được vì hoạt động kinh tế luôn ở trạng thái biến động
Nhà phải điều chỉnh hoạt động thu, chi cho phù hợp. Bên cạnh đó, cần phân
bổ nguồn thu cho hợp lý để đảm bảo sự ổn định về kinh tế- xã hội giữa các
địa phương. Mặt khác, nếu ngân sách không cân bằng mà rơi vào tình trạng
bội chi thì cần đưa ra những giải quyết kịp thời để ổn định lại ngân sách nhà
nước.
- Cân đối ngân sách nhà nước mang tính định lượng và tính tiên
liệu.Trong quá trình cân đối ngân sách nhà nước, người quản lý phải xác
định các con số thu, chi ngân sách nhà nước so với tình hình thu nhập trong
nước, chi tiết hóa từng khoản thu, chi nhằm đưa ra cơ chế sử dụng và quản lý
9
nguồn thu phù hợp với hoạt động chi, từ đó để làm cơ sở phân bổ và chuyển
giao nguồn lực giữa các cấp ngân sách. Cân đối ngân sách nhà nước phải dự
đoán được các khoản thu, chi ngân sách một cách tổng thể để đảm bảo thực
hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội.
I.2.3. Vai trò của cân đối Ngân sách Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường
Cân đối ngân sách nhà nước là một công cụ quan trọng để Nhà nước
can thiệp vào hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước, với vai trò quyết định
đó thì cân đối ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường có các vai trò
sau:
là đạo luật của một quốc gia. Nó được thiết lập và vận hành cùng với sự tồn
tại và phát triển của quốc gia đó. Đặc biệt trong thời kỳ chuyển đổi và hội
nhập như hiện nay, ngân sách nhà nước và vấn đề cân đối ngân sách càng
đóng vai trò quan trọng hơn vào sự phát triển đất nước, bình ổn xã hội. Hiểu
và vận dụng tốt các học thuyết về cân đối ngân sách nhà nước sẽ giúp nước
ta có thể giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về ngân sách nhà nước trong
thời gian vừa qua. Ngân sách nhà nước được cân đối, ổn định sẽ giúp Nhà
nước thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình đối với toàn dân, toàn
xã hội.
I.3 Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước
I.3.1. Khái niệm về thâm hụt Ngân sách Nhà nước
Thâm hụt ngân sách nhà nước là một trong những vấn đề quan trọng gắn
liền với quá trình thực hiện cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam. Trong
điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại thâm hụt ngân sách nhà nước là điều
không thể tránh khỏi đối với ngân sách của một quốc gia, vì Nhà nước
thường bỏ ra một lượng tiền khá lớn để khắc phục những khiếm khuyết của
11
cơ chế thị trường, đảm bảo cho nền kinh tế- xã hội phát triển
1
. Trong khi đó
nguồn thu vào của ngân sách nhà nước thường không đủ cho hoạt động chi
tiêu để Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, sự chênh lệch
giữa các khoản thu nhiều hơn chi trong ngân sách nhà nước đã dẫn đến tình
trạng thâm hụt ngân sách nhà nước trong nhiều năm qua. Vì vậy Nhà nước
muốn thực hiện cân đối ngân sách nhà nước trước hết phải xác định được
vấn đề thâm hụt của nước ta như thế nào, tìm ra nguyên nhân và từ đó đưa ra
những giải pháp hợp lý để khắc phục tình trạng thấp nhất.
Theo đó ta có thể hiểu: “thâm hụti ngân sách nhà nước là tình trạng chi
ngân sách nhà nước vượt quá thu ngân sách nhà nước trong một năm, là
hiện tượng ngân sách nhà nước không cân đối thể hiện trong sự so sánh
phân bổ chi tiêu hiệu quả. Điều đó đã làm nguồn thu vào ngân sách
nhà nước bị thất thoát, hoạt động thu không hiệu quả và không đủ
cho hoạt động chi của nhà nước
PHẦN HAI: THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC
II.1.Thực Trạng Thu Ngân Sách Nhà Nước
Trong năm 2001-2003 cơ cấu thu NSNN đã dịch chuyển theo chiều
hướng tích cực hơn, thu từ nguồn trong nước đã tăng từ 50,7% lên 52,6%
so với tổng thu trong năm 2003 nhưng thu từ dầu thô, hoạt động XNK đã
giảm từ 47,4% xuống còn 45,9% năm 2003. Ngoài ra do thực hiện pháp
lệnh về phí và lệ phí đã bãi bỏ 140 khoản phí thuộc các bộ ngành TW và
13
105 khoản phí thuộc các địa phương đã làm giảm chi phí xã hội khoảng
1.000 tỷ đồng mỗi năm. Thu NSNN năm 2004 dự kiến đạt 166.900 tỷ
đồng, vượt dự toán 11,8%, tăng 17,4% so với năm 2003 và tương đương
22,7% GDP. Trong số tăng thu, số tăng từ dầu thô, nhà đất chiếm tỷ trọng
lớn.
Tổng dự toán cân đối thu NSNN năm 2005 là 183.000 tỷ đồng, tổng
dự toán chi NSNN là 229.750 tỷ đồng, bội chi NSNN là 40.750 tỷ đồng
(chiếm 5% GDP). Nếu so với thời kỳ trước đây thì thu ngân sách đã có
những tiến bộ lớn. Tuy nhiên, nếu so với tốc độ tăng trưởng thì việc tăng
thu ngân sách còn chậm, đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh, trong khi
giá trị sản xuất công nghiệp tăng 19,2% thì nguồn thu ngân sách chỉ tăng
12%. Dự toán thu nội địa (không kể dầu thô) năm 2005 tăng 13,6%, trong
đó thu từ khu vực DN nhà nước tăng 12,3%, thu từ khu vực DN có vốn
đầu tư nước ngoài tăng 30,1%, từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng
20,5%, dự toán thu phí, lệ phí tăng 4,1% để hạ chi phí đầu vào của nền
kinh tế, khuyến khích sản xuất, xuất khẩu. Điều đặc biệt, năm 2005 Quốc
hội đã nhất trí tăng dự toán thu nội địa từ thu tiền sử dụng đất thêm 800 tỷ
độ, thu cân đối ngân sách cả năm đạt 91.000 tỷ đồng, vượt 41,1% (26.500
tỷ đồng) so với dự toán, tăng 50,7% so với thực hiện năm 2007 dựa trên
cơ sở tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2008 ước tính đạt 62,9 tỷ USD,
tăng 29,5% so với năm 2007; kim ngạch nhập khẩu kiềm chế ở mức 80,4
tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007; nhập siêu của cả nền kinh tế
khoảng 17,5 tỷ USD, bằng khoảng 27,8% kim ngạch xuất khẩu. Năm
2009, thu từ hoạt động nhập xuất, nhập khẩu đạt 12.000 tỷ đồng, giảm
25,1% so với cùng kỳ năm trước.
Thu viện trợ: Cả năm đạt 5.000 tỷ đồng, vượt 38,9% (1.400 tỷ đồng)
so với dự toán, chủ yếu do tăng viện trợ của Chương trình phát triển kinh
tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135) và Chương trình
phát triển Nông nghiệp và nông thôn.
15
THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2008
Đơn vị: tỷ đồng
STT Nội dung thu DT 2008 2008
A THU CÂN ĐỐI NSNN 323,000 399,000
I Thu nội địa 189,300 205,000
1 Thu từ kinh tế quốc doanh 63,159 64,131
2
Thu từ DN có vốn ĐTNN (không kể dầu
thô)
40,099 40,953
3 Thuế CTN và dịch vụ ngoài QD 38,347 40,618
4 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 82 76
5 Thuế thu nhập đối với người có TN cao 8,135 9,960
6 Lệ phí trước bạ 5,194 6,415
7 Thu phí xăng dầu 4,979 4,942
8 Các loại phí, lệ phí 4,889 5,698
9 Các khoản thu về nhà, đất 21,792 29,024
• Các khoản thu nội địa đạt 19,2%
• Các khoản thu từ dầu thô đạt 16,1%
• Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 18,4%
• Trong thu nội địa
Thu từ doanh nghiệp nhà nước bằng 23,4% dự toán năm.
Thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt
14,3% dự toán năm.
Thu thuế công, thương nghiệp, và dịch vụ ngoài nhà nước
bằng 18,8% dự toán năm.
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao bằng 16,7%.
Thu phí xăng dầu bằng 21,1%.
Thu phí, lệ phí bằng 13,7%.
Với những diễn biến của kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam năm
2007, thu ngân sách trong giai đoạn từ 2008-2009 còn gặp nhiều khó
khăn, bởi vì :
Thứ nhất : tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2009 có thể sẽ thấp hơn
năm 2008 do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế thế giới, theo dự báo
của IMF và một số tổ chức thế giới thì năm 2008 tăng trưởng kinh tế
toàn thế giới là 3,7% và năm 2009 với mức thấp hơn là 2,2%. Trong đó
các nước phát triển tăng trưởng kinh tế năm 2008 là 1,4% và năm 2009
là - 0,3%; các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi năm 2008
là 6,6% và năm 2009 là 5,1%. Sự suy giảm của tăng trưởng kinh tế thế
giới sẽ làm cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh và do vậy
sẽ tác động làm giảm tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam, một nền
kinh tế vốn đang hướng đến xuất khẩu. Tăng trưởng kinh tế giảm sẽ kéo
theo thu NSNN giảm.
Thứ hai: thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm.
Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc vào thu xuất khẩu và thu
nhập khẩu. Trong đó thu về nhập khẩu khoảng 90% và thu về xuất khẩu
Thứ tư: về phát triển sản xuất trong nước.
Trong tình trạng toàn bộ nền kinh tế thế giới đang suy thoái, chắc
chắn nền kinh tế Việt Nam cũng không đạt tăng trưởng cao. Các doanh
nghiệp trong nước hiện nay đang phải đối mặt với việc không có đầu ra
cho sản phẩm của mình. Lãi suất ngân hàng cao nên việc kinh doanh thu
được lợi nhuận không cao. Ngoài ra các doanh nghiệp Việt Nam còn
phải đối mặt với lượng hàng hoá giá rẻ khổng lồ từ Trung Quốc và các
nước khác trong khu vực tràn vào làm cho khả năng thu được lợi nhuận
từ việc kinh doanh không cao. Điều đó làm cho việc thu nộp NSNN của
các doanh nghiệp không được thực hiện một cách dễ dàng.
Các khoản thu ngoài cân đối NSNN: thu từ vay nợ và nhận viện trợ.
18
Thu từ ODA năm 2009 WB đã đồng ý cấp khoản tín dụng 1,5 tỷ USD
với mức lãi suất thấp trong vòng 3 năm theo các điều kiện của ngân hàng
Tái thiết và Phát triển quốc tế. Các hiệp định lớn mà WB dự định kí kết
với chính phủ Việt Nam bao gồm dự án phát triển thuỷ điện (100 triệu
USD), dự án phát triển năng lượng tái tạo (150 tri ệu USD)…Tuy nhiên
tiến độ giải ngân các dự án ODA trong năm tới nhiều khả năng sẽ vẫn
chậm.
Bên cạnh đó chính sách của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) trong
năm 2009 để thực hiện các dự án như: dự án phát triển điện Cà Mau (400
triệu USD), dự án đường vành đai 2 tại thành phố Hồ Chí Minh (300
triệu USD).
Thu từ FDI: báo đầu tư của Bộ kế hoạch và đầu tư Việt Nam nói rằng
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Vi ệt Nam trong quý I năm nay dự tính
giảm 70%. Trong 3 tháng đầu năm 2009 Việt Nam chỉ thu được 2,1 tỷ
USD đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Số tiền cam kết cho các dự án đã khởi động dự tính sẽ đạt 6 tỷ USD
trong 3 tháng đầu, thấp hơn so với năm ngoái 40%. Năm ngoái Việt Nam
nhận được 11,5 tỷ USD đầu tư nước ngoài trực tiếp.
thường xuyên 10%, và một số nguồn khác.
Năm 2005 Quốc hội cũng đã quyết định chi bổ sung cho một số lĩnh
vực sau: chi đầu tư phát triển (tăng thêm 1.495 tỷ đồng, trong đó tăng chi
đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách địa phương tương ứng số tăng thu
về sử dụng đất là 800 tỷ đồng); chi thường xuyên (tăng thêm 190 tỷ đồng,
gồm y tế tăng 50 tỷ đồng, giáo dục - đào tạo - dạy nghề tăng 70 tỷ đồng,
quốc phòng tăng 40 tỷ đồng, an ninh tăng 30 tỷ đồng); chi dự phòng
NSNN (tăng thêm 1.600 tỷ đồng để xử lý những biến động bất thường
của giá dầu, đồng thời bảo đảm chủ động ngân sách thực hiện trong
phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và thực hiện những nhiệm vụ
quan trọng phát sinh).
Những khoản chi mang tính bao cấp không thuộc chức năng, nhiệm vụ
của NSNN nhìn chung được cắt giảm đáng kể, giảm bớt gánh nặng chính
đáng cho NSNN trong điều kiện mới. Đồng thời các khoản chi bao cấp
cho DNNN cũng giảm đáng kể nhờ có biện pháp cổ phần hóa và kiên
quyết cắt giảm chi bao cấp từ NSNN. Bên cạnh đó, ta thấy được một xu
hướng mới đang hình thành. Chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn tập trung
20
của Nhà nước đang được dành chủ yếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng và
những khu vực khó hoặc không thu hồi được vốn. Xu hướng này tích cực,
phù hợp với thực tế nước ta, cần được củng cố và tăng cường trong giai
đoạn chuẩn bị bước đầu hội nhập.
Để kịp thời triển khai các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và phát triển bền vững, Chính phủ
đã tập trung chỉ đạo các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện
điều hành chi NSNN năm 2008 theo đúng dự toán đã được Quốc hội
quyết định, đồng thời thực hiện nghiêm ngặt chủ trương thắt chặt chi tiêu,
rà soát, sắp xếp giảm chi đầu tư các dự án chưa thực sự cấp bách để tập
trung vốn cho các dự án cần thiết, cấp bách, các dự án có khả năng hoàn
biến động của giá nguyên vật liệu đã gây khó khăn cho cả công tác tổ
chức đấu thầu và việc xác định giá bỏ thầu của các nhà thầu; một số chủ
đầu tư trì hoãn thời gian đấu thầu để điều chỉnh tổng mức đầu tư. Tình
22
hình triển khai và giải ngân vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ
cũng chậm. Ước cả năm, tổng vốn Trái phiếu Chính phủ thực hiện
khoảng 20.000 tỷ đồng, bằng 70% kế hoạch điều chỉnh.
Chi phát triển các sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,
quản lý hành chính (bao gồm cả chi điều chỉnh tiền lương theo mức
lương tối thiểu 540.000 đồng/tháng): dự toán 237.250 tỷ đồng, ước thực
hiện chi cả năm đạt 262.580 tỷ đồng, tăng 10,7% so với dự toán, tăng
23,6% so với thực hiện năm 2007.
Chi thường xuyên còn đảm bảo tăng cường thực hiện các chính sách
bảo đảm an sinh xã hội, được chia thành 3 nhóm chính:
Một là: nhóm chính sách hỗ trợ trực tiếp, như: hỗ trợ dầu hoả đối
với đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ dầu cho ngư dân; chính sách bảo trợ
xã hội; miễn viện phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, mua thẻ bảo hiểm y tế cho
người nghèo, người cận nghèo; cấp học bổng cho học sinh dân tộc nội
trú, bán trú; điều chỉnh mức tiền ăn đối với hạ sỹ quan, chiến sỹ lực lượng
vũ trang; khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt
Hai là: nhóm chính sách miễn, giảm các khoản đóng góp của dân,
như: miễn giảm các khoản phí và lệ phí, miễn thuỷ lợi phí, không thu phí
dự thi, dự tuyển vào các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông,
miễn lệ phí trước bạ đối với nhà ở, đất ở của các hộ nghèo NSNN cấp
bù chi phí hoạt động cho một số đơn vị bị hụt giảm nguồn thu.
Ba là: nhóm chính sách tín dụng ưu đãi, bao gồm: cho vay đối với
đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, chính sách tín dụng đối với
học sinh và sinh viên có hoàn cảnh khó khăn
Tuy đã đạt được nhiều kết quả quan trọng và tạo được sự đồng thuận
trong xã hội về các giải pháp an sinh xã hội đã đề ra, song quá trình tổ
6 Chi phát thanh và truyền hình 1,420
7 Chi thể dục, thể thao 880
8 Chi đảm bảo xã hội 35,793
9 Chi sự nghiệp kinh tế 15,622
10 Chi sự nghiệp môi trường 3,883
11 Chi quản lý HC, Đảng đoàn thể 28,438
12 Chi trợ giá mặt hàng chính sách 763
IV Hỗ trợ tài chính kinh doanh xăng dầu 28,500
V Chi dự phòng 10,700
24
VI Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính 100 100
VII Chi cải cách tiền lương 28,400
VIII Chi chuyển nguồn 14,100
B CHI QUẢN LÝ QUA NSNN 47,698 31,059
C
VAY NƯỚC NGOÁI VỀ CHO VAY
LẠI
12,800 12,425
TỔNG CỘNG 459,478 517,764
II.3.Thực Trạng Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước
Trong giai đoạn 2001-2007, bội chi NSNN về cơ bản đuợc cân đối ở
mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4,9%-5% GDP. Nếu chỉ xét ở tỷ lệ so
với GDP, cũng thấy bội chi NSNN trong 7 năm trở lại đây tăng cao hơn
các năm trước đó khá nhiều (bình quân khoảng 4,95% GDP) vì giai đoạn
năm 1991-1995, mức bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 2,63% và giai
đoạn từ năm 1996-2000 ở mức 3,87% so với GDP
BẢNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ 2001 – 2007
Đơn vị tính: Tỷ Đồng
Năm Số thâm hụt Thâm hụt so với GDP
200