60 - Tạp chí luật học
nghiên cứu - trao đổi
Những vấn đề cơ bản
của phần chung luật hình sự Mĩ
TSKH. LÊ Cảm *
1. Những vấn đề cơ bản về hệ thống
pháp luật hình sự
Sự hình thành và phát triển của hệ thống
pháp luật hình sự (PLHS) nói riêng và pháp
luật nói chung của nớc Mĩ gắn liền với lịch
sử của chính đất nớc này và đợc chia thành
hai thời kì chủ yếu - trớc và sau khi ra đời
Hợp chủng quốc (hay còn gọi là Liên bang)
Hoa Kì với Tuyên ngôn độc lập (năm 1776)
nổi tiếng toàn thế giới. Tuy nhiên, hệ thống
PLHS nói riêng và pháp luật chung của Mĩ
trong cả hai thời kì đ nêu đều đợc hình
thành và phát triển trên những nền tảng của
hệ thống pháp luật Ănglô-Xắcxông và đặc
biệt là chịu ảnh hởng mạnh mẽ của pháp
luật chung của nớc Anh.
Hệ thống PLHS Mĩ vô cùng đa dạng,
phức tạp vì các nguồn của luật hình sự liên
bang là Hiến pháp năm 1787, các văn bản
luật (do Quốc hội Mĩ ban hành) và các văn
bản dới luật của liên bang (do Tổng thống,
các bộ và các cơ quan của Chính phủ Mĩ ban
hành) cũng nh án lệ của Toà án tối cao
(TATC) liên bang. Nguồn của luật hình sự
nền văn minh nhân loại. BLHS mẫu năm
1962 của Hợp chủng quốc Hoa Kì bao gồm
bốn phần và việc nghiên cứu các quy định
của nó cho thấy một số đặc điểm cơ bản dới
đây:
- Phần thứ nhất là các quy định chung
(76 điều)
(2)
- Phần chung, đợc chia thành
bảy phần nhỏ đề cập những vấn đề và các
chế định luật hình sự nh giải thích luật hình
sự, hiệu lực của luật hình sự về không gian
và thời gian; khái niệm tội phạm; cơ sở của
trách nhiệm hình sự; các tình tiết tăng nặng
và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; các giai
đoạn thực hiện tội phạm; hình phạt; quyết
định hình phạt
- Phần thứ hai là các định nghĩa lập pháp
của các loại tội phạm (107 điều) - Phần riêng
đợc chia thành sáu phần lớn là: I. Các tội
xâm hại đến sự tồn tại hoặc an ninh của nhà
* Khoa luật
Đại học quốc gia Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 61
nớc; II. Các tội xâm hại nguy hiểm đối với
cá nhân; III. Các tội xâm hại đến tài sản; IV.
nét chủ yếu nh sau:
Mặc dù đ có những nỗ lực nhằm pháp
điển hóa (ví dụ: ủy ban quốc gia về cải cách
luật hình sự đợc thành lập năm 1966, sau đó
các Dự án luật S -1 năm 1973, S -1437 năm
1977 và S -1722 năm 1980 đ lần lợt đợc
đa ra song đều không đợc thông qua) nên
thực tế là hiện nay PLHS Mĩ ở cấp độ liên
bang vẫn cha đợc pháp điển hóa.
Bằng Luật của Quốc hội Mĩ ngày
25/6/1948, một phần cơ bản trong PLHS Mĩ
(đợc hệ thống hóa trớc đây vào những năm
1873 -1877) đ đợc sửa đổi, bổ sung và cải
cách thành Phần 18 Các tội phạm và tố tụng
hình sự Bộ tổng luật Hợp chủng quốc Hoa
Kì
(3)
và nh vậy, Phần 18 này có thể đợc coi
nh là BLHS hiện hành của liên bang.
Mặc dù trong văn bản PLHS hiện hành
này của Mĩ không có sự phân chia rõ ràng
giữa phần chung và phần riêng, nhng thực
chất là Chơng thứ nhất Các quy định
chung (17 điều) trong Phần 18 Bộ tổng luật
Hợp chủng quốc Hoa Kì chính là Phần
chung luật hình sự của liên bang (vì nó quy
định những vấn đề nh phân loại các hành vi
xâm hại bị trừng phạt về hình sự, đồng phạm,
không tố giác tội phạm, tình trạng không có
năng lực TNHS ). Ngoài ra, ở chừng mực
nghiên cứu - trao đổi
Luật năm 1986 của liên bang về lừa đảo và
những lạm dụng trong việc sử dụng các máy
vi tính).
ở các chừng mực khác nhau trong các
BLHS của các bang có điều chỉnh vấn đề
hiệu lực về thời gian của đạo luật hình sự (ví
dụ: Các mục 5.00, 5.05 và 5.10 Điều 5 BLHS
bang New York năm 1967).
Hiệu lực của đạo luật hình sự liên bang
về không gian. Căn cứ vào hiệu lực của đạo
luật hình sự về không gian, các quy phạm
PLHS Mĩ đợc chia thành hai nhóm dới
đây:
- Nhóm thứ nhất bao gồm các quy phạm
PLHS có hiệu lực trong những điều kiện
tơng ứng trên toàn lnh thổ Hoa Kì và
nhóm này quy định trách nhiệm hình sự
(TNHS) đối với việc thực hiện các hành vi
phạm tội có tính chất liên bang nh: a) Các
hành vi phạm tội xâm hại đến các quan chức
của liên bang; b) Các hành vi phạm tội do
chính các quan chức liên bang thực hiện
trong khi thi hành công vụ; c) Các hành vi
phạm tội xâm phạm đến các lợi ích của nhiều
bang, của các cơ quan thuộc liên bang hoặc
của Hợp chủng quốc Hoa Kì nói chung.
- Nhóm thứ hai bao gồm các quy phạm
PLHS có hiệu lực chỉ trên những địa điểm
nhất định và nhóm này quy định TNHS đối
thiệt hại do hành vi gây nên, hậu quả xảy ra,
hình phạt và tính hợp pháp.
- Khái niệm đạo luật hình sự - đó là văn
bản bao gồm các nguyên tắc riêng biệt liên
quan đến hành vi của con ngời do cơ quan
nhà nớc có thẩm quyền ban hành và đợc
áp dụng thống nhất đối với mọi thành viên
của tất cả các tầng lớp x hội đợc đề cập
trong chính văn bản đó và đợc thực hiện
bằng hình phạt do nhà nớc quy định.
2. Những vấn đề cơ bản về tội phạm
Việc nghiên cứu PLHS Mĩ cho thấy các
quy phạm về tội phạm có những đặc điểm
chính dới đây.
Định nghĩa lập pháp của khái niệm tội
phạm và chế định phân loại tội phạm có một
số nét chủ yếu nh sau:
Mặc dù trong pháp luật Mĩ có sự ghi
nhận định nghĩa của khái niệm tội phạm
nhng đó không phải là của tội phạm nói
chung mà chỉ là của một số tội phạm riêng
biệt (nh tội phản bội Hợp chủng quốc, tội
phạm bằng bạo lực ). Chẳng hạn, khái niệm
tội phản bội Hợp chủng quốc đợc định
nghĩa trong Hiến pháp Mĩ (đoạn 1 phần 3
Điều III) là: Phản bội Hợp chủng quốc đợc
hiểu chỉ là việc tiến hành chiến tranh chống
lại Hợp chủng quốc hoặc liên kết với những
kẻ thù của Hợp chủng quốc, giúp đỡ và phục
Kì) còn căn cứ vào mức hình phạt tối đa do
luật định đối với các trọng tội và các khinh
tội để phân chia chúng một lần nữa thành
tám loại nhỏ hơn và vi cảnh. Chẳng hạn, theo
Điều 3.559: a) Các trọng tội đợc phân chia
thành năm loại nhỏ là: Loại A - tù chung
thân hoặc tử hình, loại B - từ 20 năm tù trở
lên, loại C - từ 10 năm tù trở lên đến dới 20
năm tù, loại D - từ 5 năm tù trở lên đến dới
10 năm tù và loại E - từ trên 1 năm tù đến
dới 5 năm tù; b) Các khinh tội đợc phân
chia thành ba loại nhỏ là: Loại A - từ trên 6
tháng tù đến 1 năm tù; loại B - từ trên 30
ngày tù đến 6 tháng tù; loại C - từ trên 5
ngày tù đến 30 ngày tù; c) Vi cảnh
(infaction) từ 5 ngày tù trở xuống hoặc nếu
hình phạt tù không đợc quy định.
Về cơ bản, sự phân loại tội phạm trong
đa số các BLHS của các bang cũng tơng
ứng nh sự phân loại tội phạm trên đây của
PLHS ở cấp độ liên bang
Chế định đồng phạm có một số nét chủ
yếu nh sau:
PLHS Mĩ (Điều 2 Những ngời thực
hành trong Phần 18 Bộ tổng luật Hợp chủng
quốc Hoa Kì) không ghi nhận định nghĩa lập
pháp của khái niệm thế nào là đồng phạm
(?) và khái niệm từng loại ngời đồng phạm
(theo nghĩa truyền thống của chế định này)
cũng nh không phân biệt mức độ TNHS của
hình phạt đó.
64 - Tạp chí luật học
nghiên cứu - trao đổi
PLHS Mĩ (Điều 4 Không tố giác trong
Phần 18 Bộ tổng luật Hợp chủng quốc Hoa
Kì) quy định TNHS chỉ đối với việc che giấu
và không tố giác trọng tội nh sau: Ai biết về
trọng tội thuộc quyền xét xử của các tòa án
Hợp chủng quốc thực tế đ đợc thực hiện
mà che giấu và trong thời hạn ngắn không
báo cho thẩm phán nào đó hay cho bất kì
ngời nào khác trong số những ngời đại
diện cho chính quyền dân sự hoặc quân sự
của Hợp chủng quốc thì bị xử phạt tiền đến
500 USD hoặc phạt tù đến 3 năm hoặc cả hai
hình phạt đó.
PLHS Mĩ (Chơng 19 Sự thông mu
trong Phần 18 Bộ tổng luật Hợp chủng quốc
Hoa Kì) quy định: a) Việc trừng phạt sự
thông mu của từ hai ngời trở lên nhằm
thực hiện hành vi xâm hại hoặc lừa dối đối
với Hợp chủng quốc; b) Sự biện hộ đợc
chấp nhận để loại trừ việc truy tố do bị xúi
giục thực hiện tội phạm bằng bạo lực là trong
trờng hợp tự nguyện và hoàn toàn chấm dứt
ý định thực hiện ý định phạm tội của mình,
bị cáo đ ngăn chặn đợc việc thực hiện tội
phạm bị xúi giục; c) Sự chấm dứt không
đợc coi là hoàn toàn và tự nguyện nếu nó
phạm (kể cả các tập đoàn và các hiệp hội
đợc sáng lập với tính chất là các cơ quan
chính phủ hay đợc chính phủ sáng lập để
thực hiện những chơng trình của nhà nớc);
b) các tập đoàn và các hiệp hội đều có thể bị
truy cứu TNHS nếu không thực hiện các
nghĩa vụ mà pháp luật quy định họ phải thực
hiện; c) TNHS mà các tập đoàn và các hiệp
hội phải chịu là vì ban lnh đạo hoặc ngời
đại diện nào đó của tập đoàn hay của hiệp
hội do sự sơ xuất trong hành vi của mình
(thay mặt cho tập đoàn hay hiệp hội tơng
ứng) mà đi đến chỗ phạm tội.
Việc không có ý định phạm tội trong tám
trờng hợp sau đây đợc BLHS mẫu năm
1962 của Hợp chủng quốc Hoa Kì quy định
là những tình tiết biện hộ (tự vệ) hay có thể
gọi là những tình tiết loại trừ TNHS: a) Sự
thiếu hiểu biết hoặc sự nhầm lẫn; b) Tình
trạng say nặng (đến mức ngời phạm tội
không thể nhận thức hoặc không thể đợc
hành vi của mình); c) Thực hiện tội phạm do
bị cỡng bức (mà không thể chống lại đợc);
d) Bị lừa dối; đ) Sự phòng vệ hợp pháp
(chính đáng); e) Buộc phải dùng vũ lực để tự
vệ; g) Bệnh tâm thần; h) Cha đến tuổi thành
niên
(5)
.
Nh vậy, nếu trong PLHS ở cấp độ liên
hộ chấp nhận đợc do cha đến tuổi thành
niên, bệnh tâm thần hoặc nhợc điểm về thể
chất; Điều 35 về sử dụng vũ lực do pháp luật
hoặc quyết định của tòa án cho phép, phòng
vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, bắt ngời
phạm pháp; Điều 40 về sự biện hộ chấp nhận
đợc do loại trừ tính chất lỗi nh sự cỡng
bức về thân thể, bị gài bẫy hoặc tự nguyện
và hoàn toàn chấm dứt ý định thực hiện hành
vi xâm hại).
3. Những vấn đề cơ bản về hình phạt
và quyết định hình phạt
Các quy phạm về hình phạt theo PLHS
Mĩ có những đặc điểm chính dới đây.
Hệ thống hình phạt theo PLHS Mĩ ở cấp
độ liên bang và của đa số các bang, về cơ
bản bao gồm: a) Các loại hình phạt chính -
phạt tiền, thử thách (án treo), phạt tù (có thời
hạn hoặc chung thân) và tử hình (trong số
này chỉ có hai loại đầu tiên đợc áp dụng đối
với pháp nhân phạm tội); b) Các loại hình
phạt bổ sung - làm các công việc vì lợi ích
công cộng, tớc các quyền (nh giữ các chức
vụ nhất định, quyền bầu cử), buộc phải có
nghĩa vụ bồi thờng thiệt hại đ gây ra, tịch
thu tài sản
Phạt tiền đợc quy định theo mức nh
sau: a) Không quá 250.000 USD đối với thể
nhân phạm tội; b) Không quá 500.000 USD
đối với pháp nhân phạm tội.
phạt tử hình không đợc áp dụng đối với
ngời phạm tội cha đủ 16 tuổi.
Các mục đích của hình phạt theo PLHS
Mĩ: Căn cứ vào các quy phạm tại Đ3-101
Điều 3 Các hình phạt trong Luật mẫu năm
1978 về quyết định và thi hành hình phạt có
thể nhận thấy một số nét chủ yếu nh sau:
66 - Tạp chí luật học
nghiên cứu - trao đổi
Khi trừng trị ngời bị kết án đối với hành
vi về hình sự cần đảm bảo việc quyết định
hình phạt phải phù hợp với tội phạm mà
ngời đó đ thực hiện.
Khi quy định tính chất ngăn ngừa hợp
pháp của bản án và thủ tục công bằng trong
việc tuyên án phải đảm bảo sự đối xử công
minh với tất cả những ngời bị kết án bằng
bằng cách loại trừ sự bất bình đẳng không
thể chấp nhận đợc trong việc thi hành hình
phạt.
Ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm và
đảm bảo sự tôn trọng pháp luật bằng cách: a)
Tìm phơng pháp có hiệu quả để răn đe
những ngời khác có khả năng thực hiện tội
phạm tơng tự; b) Cách li những ngời có
quá khứ về hình sự lâu dài (ý nói những kẻ
phạm tội hình sự chuyên nghiệp); c) Hỗ trợ
cho việc thực hiện các chơng trình cải tạo
nhằm mục đích đạt đợc sự tự nguyện trong
Hoa Kì) còn quy định là sau khi ra tù phạm
nhân phải bị giám sát: a) Đối với trọng tội
loại A hoặc loại B - không quá 5 năm; b) Đối
với trọng tội loại C hoặc loại D - không quá
3 năm; c) Đối với trọng tội loại E hoặc khinh
tội (ngoài tội không đáng kể) - không quá 1
năm.
Ngoài ra, căn cứ vào Luật về cải cách
việc quyết định hình phạt năm 1984, Quốc
hội Mĩ đ thành lập ủy ban về các hình phạt,
sau ba năm Những phơng hớng cơ bản
của việc quyết định hình phạt năm 1987
dới hình thức hớng dẫn do ủy ban này
soạn thảo đ thi hành và trong đó quy định
43 mức trừng phạt đối với các vi phạm
PLHS./.
(1).Xem: Nhikifôrôv B.X, Resetnhikôv F.M. Luật
hình sự Mĩ đơng đại. Nxb. Sách pháp lí 1990, tr.9
(tiếng Nga).
(2).Về kĩ thuật lập pháp, trong PLHS Mĩ không có chữ
"Điều". ở bài này, chúng tôi tạm dùng chữ "Điều" để
chỉ kí hiệu "Đ".
(3).Xem: Bộ tổng luật Hợp chủng quốc Hoa Kì.
Chơng 18. Trong sách: Hợp chủng quốc Hoa Kì -
Hiến pháp và các văn bản lập pháp (Hiệu đính của
GS. TS luật học O.A.Ziđkôv). Nhóm xuất bản Tiến
bộ - U nhiverx. Maxcơva, 1993, tr. 587- 647 (tiếng
Nga).
(4).Xem: Cách nhìn của Hoa Kì đối với luật hình sự.