NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
I.1. Bảo hộ lao động
Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) đã coi việc cải thiện điều kiện lao
động, đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động là một trong những quan tâm và
hoạt động chủ yếu của mình. ILO đã có hàng chục công ước và khuyến nghị
đề cập đến vấn đề này trong đó có công ước 155 ra đời năm 1981 đề cập
đầy đủ và tổng quát đến vấn đề an toàn - vệ sinh lao động.
Ở Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước, công tác Bảo hộ lao động
rất được quan tâm. Cụ thể: trong sắc lệnh 29/SL là sắc lệnh đầu tiên về lao
động do Hồ Chủ Tịch ký đã có những điều quy định về an toàn - vệ sinh lao
động. Và trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng và Nhà
nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản luật pháp về Bảo hộ
lao động.
Hoạt động Bảo hộ lao động luôn gắn liền với hoạt động lao động
sản xuất và công tác của con người. Bảo hộ lao động mà nội dung chủ yếu
là công tác an toàn - vệ sinh lao động là các hoạt động đồng bộ trên các
mặt luật pháp, tổ chức hành chính, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm
cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khoẻ cho người lao động. Hoạt động
Bảo hộ lao động phát triển phụ thuộc vào nền kinh tế, khoa học công nghệ
và yêu cầu phát triển xã hội của mỗi nước. Bảo hộ lao động là một yêu cầu
tất yếu khách quan để bảo vệ người lao động, yếu tố chủ yếu và năng động
nhất của lực lượng sản xuất.
I.2. Điều kiện lao động
Là tổng thể các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật được biểu
hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, quá trình công nghệ,
môi trường lao động và sự sắp xếp bố trí chúng trong không gian và thời
gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động
tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá
trình lao động. Tình trạng tâm sinh lý của người lao động tại chỗ làm việc
dụng lâu và không được kiểm định. Khi thiết bị nổ sẽ sinh công rất lớn làm
phá vỡ các vật cản và gây tai nạn lao động cho mọi người xung quanh.
Nổ hoá học là sự biến đổi về mặt hoá học của các chất diễn ra trong
một thời gian rất ngắn, với một tốc độ rất lớn tạo ra một lượng sản phẩm
cháy lớn, nhiệt độ rất cao và áp lực lớn làm huỷ hoại các vật cản gây ra tai
nạn cho người lao động khi họ ở trong phạm vi nổ. Các chất có thể gây nổ
hoá học bao gồm các khí cháy và bụi khi chúng hỗn hợp với không khí đạt
đến một tỷ lệ nhất định kèm theo có mồi lửa thì sẽ gây nổ. Mỗi loại khí cháy
nổ có thể nổ được khi hỗn hợp với không khí đạt được một tỷ lệ nhất định.
Khoảng giới hạn nổ của khí cháy với không khí càng rộng thì sự nguy hiểm
về giới hạn nổ hoá học ngày càng tăng.
Nổ vật liệu nổ có đặc điểm là sinh công rất lớn, đồng thời gây ra
sóng xung kích trong không khí và gây chấn động trên bề mặt đất trong
phạm vi bán kính nhất định.
Nổ của kim loại nóng chảy xảy ra khi rót kim loại lỏng vào khuôn bị
ướt, khi thải xỉ…
I.3.2. Các yếu tố có hại đối với sức khoẻ trong lao động
Là những yếu tố của điều kiện lao động không thuận lợi, vượt quá
giới hạn của tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép, làm giảm sức khoẻ của
người lao động, gây bệnh nghề nghiệp. Đó là vi khí hậu xấu, tiếng ồn, rung
động, phóng xạ, ánh sáng, bụi, các chất, hơi khí độc, các sinh vật có hại.
+ Vi khí hậu xấu: là trạng thái lý học của không khí trong khoảng
không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm,
bức xạ nhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí. Các yếu tố này phải đảm
bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với sinh lý của con người. Cụ thể như
sau:
Khi nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép làm suy
nhược cơ thể, làm tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức độ nguy hiểm
khi sử dụng máy móc, thiết bị… Nhiệt độ quá cao sẽ gây bệnh thần kinh,
tim mạch, bệnh ngoài da, say nóng, say nắng, đục nhãn mắt nghề nghiệp.
máu bị tổn thương gây thiếu máu, vô sinh, ung thư, tử vong…
I.3.4. Chiếu sáng không hợp lý
Trong đời sống và lao động, mắt người đòi hỏi điều kiện ánh sáng
thích hợp. Chiếu sáng thích hợp sẽ bảo vệ mắt, chống mệt mỏi, tránh tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tăng năng suất lao động.
Tuỳ thuộc vào mỗi công việc mà cường độ ánh sáng được quy định
khác nhau. Khi chiếu sáng không đảm bảo đúng tiêu chuẩn quy định thì
ngoài tác hại làm giảm năng suất lao động ra về mặt kỹ thuật an toàn còn
thấy khả năng gây tai nạn lao động tăng lên do không nhìn rõ hoặc chưa
đủ thời gian để mắt nhận biết sự vật, do loá mắt…
I.3.5. BỤI
Là tập hợp nhiều hạt có kích thước nhỏ bé tồn tại trong không khí.
Bụi nguy hiểm nhất là bụi có kích thước 0,5-5µm, khi hít phải bụi này sẽ có
70-80% lượng bụi đi vào phổi và làm tổn thương phổi hoặc gây bệnh bụi
phổi.
VD: Bệnh bụi phổi bông là bệnh phổ biến nhất. Bệnh này còn được
gọi là bệnh hen của thợ dệt. Bệnh này xuất hiện ở công nhân ngành dệt. họ
tiếp xúc với các loại bụi bông hình thành từ những sợi bông, lá và cây bông.
Những công nhân cán, xé bông, đóng kiện, se sợi và dệt… đều có thể mắc
bệnh này.
Theo điều tra bệnh bụi phổi silic có 33,7% gặp ở ngành than, 30,6%
ở ngành cơ khí luyện kim, 9,7% ở ngành xây dựng, 7,5% ở ngành công
nghiệp nhẹ, 2,6% ở ngành giao thông vận tải, 1,7% ở ngành hoá
chất….Bềnh bụi phổi silic là tình trạng bệnh lý ở phổi do hít phải bioxyt
(SiO
2
) hoặc silic tự do. Bệnh này gây xơ hoá và phát triển các hạt ở hai phổi
gây cho bệnh nhân khó thở và phổi bị tổn thương đặc biệt.
I.4. Tai nạn lao động
Là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, công tác do kết quả của
Lao động - Thương binh - Xã hội và Tổng Công đoàn Việt Nam:
Bệnh nghề nghiệp là một bệnh đặc trưng của một nghề do yếu tố
độc hại trong nghề đó tác động thưoừng xuyên, từ từ vào cơ thể người lao
động mà gây nên bệnh. ( Những trường hợp nhiễm độc cấp tính, bán cấp
tính do hơi độc hoá chất gây nên tại nơi làm việc thì coi như tai nạn lao
động).
Tại mỗi quốc gia đều công nhận những bệnh nghề nghiệp của nước
mình và ban hành chế độ đền bù hoặc bảo hiểm bềnh nghề nghiệp. Ở nhiều
quốc gia có bao nhiêu bệnh nghề nghiệp thì có bấy nhiêu bệnh được bảo
hiểm. Và Việt Nam hiện nay đã có 21 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm.
Đó là các bệnh sau:
Theo thông tư liên bộ số 08/TTLB-19/5/1976
Bệnh do bụi:
- Bệnh bụi phổi do nhiễm bụi silíc
- Bệnh bụi phổi do nhiễm bụi amiăng.
Bệnh do hoá chất:
- Bệnh nhiễm độc chì và hợp chất chì.
- Bệnh nhiễm độc benzen và các đồng đẳng của benzen.
- Bệnh nhiễm độc thuỷ ngân và các hợp chất của thuỷ ngân.
- Bệnh nhiễm độc mangan và hợp chất của mangan.
Bệnh do yếu tố vật lý:
- Bệnh do quang tuyến X và các chất phóng xạ.
- Bệnh điếc do tiếng ồn.
Căn cứ kết quả đề tài nghiên cứu về bệnh nghề nghiệp thuộc
chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước 58A và đề tài cấp bộ về
Bảo hộ lao động và tình hình thực tế ở Việt Nam, Liên Bộ Y tế, Bộ Lao động-
Thương binh-Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quy định bổ
sung 8 bệnh nghề nghiệp sau:
1. Loét da, loét vách ngăn mũi, viêm da, chàm tiếp xúc.
2. Bệnh sạm da.
về khoa học kỹ thuật, tổ chức, hành chính, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu
tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một điều kiện lao
động thích nghi, thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn để ngăn
ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau và giảm sút
sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm
đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng người lao động, trực tiếp
góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng hiệu quả và năng
suất lao động.
Ta có thể nhận định rằng công tác Bảo hộ lao động có vị trí rất
quan trọng và là một trong những yêu cầu khách quan của hoạt động sản
xuất kinh doanh.