NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHTM.
I. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN ĐỐI VỚI NHTM.
1. NHTM và chức năng của NHTM.
1.1. Khái niệm NHTM.
Sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường là tất yếu dẫn
đến sự ra đời của các trung gian tài chính, trong đó chủ yếu là các NHTM.
Ở Việt Nam, từ năm 1988 mới hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp,
bao gồm:
- Ngân hàng Trung ương: cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực
tiền tệ, tín dụng và ngân hàng.
- Các NHTM: đóng vai trò là các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh
tiền tệ.
Theo luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ tháng 10 năm 1998, NHTM
được định nghĩa như sau: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khác hàng với trách nhiệm hoàn
trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán”.
Định nghĩa trên đã khẳng định NHTM là một doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực tiền tệ, trong đó có hai mặt cơ bản:
- Nhận ký thác của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức, cơ quan
nhà nước.
- Sử dụng các khoản ký thác đó để cho vay và chiết khấu.
Các loại hình của NHTM:
+ NHTM quốc doanh: là NHTM được thành lập bằng 100% vốn của nhà
nước.
+ NHTM cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ
phần.
+ Chi nhánh NHTM nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo luật
pháp nước ngoài nhưng hoạt động theo luật pháp nước sở tại.
+ Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của
bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam
mình, NHTM vẫn phải tuân theo sự quản lý của Nhà nước mà trực tiếp là sự
quản lý của Ngân hàng Trung ương. Chính dưới sự quản lý này, hệ thống
NHTM đã thực hiện được chức năng của mình đối với nền kinh tế. Để hiểu rõ
hơn vê NHTM, đặc biệt là tầm quan trọng của NHTM đối với quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, ta sẽ tìm hiểu chức năng, vai trò của
NHTM.
1.2. Chức năng của NHTM.
Hoạt động kinh doanh của các NHTM trong những năm gần đây thường
xuyên đổi mới nhằm thích ứng với những điều kiện kinh tế năng động và sự
điều chỉnh của pháp luật. Xét về mặt hình thức, tuy vẫn là những nghiệp vụ cơ
bản như nhận tiền gửi, cho vay, chi trả hộ nhưng ngân hàng đã mở rộng cả về
quy mô, phương thức đặc biệt là công nghệ. Cho nên các NHTM ngày càng
khẳng định được vị thế của mình trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
Điều này được minh họa thông qua chức năng của NHTM sau đây:
1.2.1. Chức năng trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ
chức trong nền kinh tế đó là: cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu,
tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập; do đó họ là những
người cần bổ sung vốn; loại cá nhân và tổ chức thứ hai là những người thặng
dư trong chi tiêu, tức là thu nhập của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng
hóa và do đó họ có tiền để tiết kiệm.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM là một trung gian tài chính quan
trọng trong việc điều chuyển vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn khi
họ có nhu cầu bổ sung vốn. Cụ thể, NHTM thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong
xã hội thông qua các phương thức huy động vốn khác nhau với những thời hạn
khác nhau nhằm tập trung một lượng vốn để đáp ứng nhu cầu của các thành
phần kinh tế. Chính việc điều chuyển này mà các NHTM có vai trò quan trọng
trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thêm việc làm, cải thiện mức
sống của dân cư, ổn định thu chi của Chính phủ. Qua đó, NHTM góp phần quan
).
Toàn bộ hệ thống NHTM cũng tham ra tạo phương tiện thanh toán khi
các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác trên
cơ sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi
trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức là tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng
khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi
không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn
bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện
thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay.
1.2.3. Chức năng trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị
hàng hóa, dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi
phí, ngân hàng đưa ra nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng séc,
ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử,
kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn
thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc
thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng
càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó ngày càng được mở
rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các
nhà quản lý sử dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp
phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không những giữa các ngân hàng
trong cùng một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các
trung tâm thanh toán quốc tế được thành lập đã làm tăng hiệu quả của thanh
toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan
trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
Do thực hiện chức năng thanh toán, NHTM có điều kiện huy động tiền
gửi của xã hội, trước hết là của các doanh nghiệp tới mức tối đa, tạo nguồn
vốn cho vay, đầu tư và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Từ những chức năng của NHTM ta thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ
hội được đưa vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai. Chính vì vốn
có vai trò quyết định trong việc tạo ra của cải vật chất và những tiến bộ xã hội
nên nó là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, dù hoạt động ở lĩnh vực nào thì vốn cũng
là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả hoạt động của
nó. Trong lĩnh vực thương nghiệp vốn làm tăng khả năng dự trữ hàng hóa, đẩy
nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng góp phần thúc đẩy
việc tiêu thụ sản phẩm. Trong lĩnh vực tài chính, vốn giúp chính phủ cải thiện
được tình hình thiếu vốn của Ngân sách vì thu nhập của Nhà nước không phải
lúc nào cũng đủ để bù đắp chi phí. Bên cạnh đó, cùng với việc thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển, vốn sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế, đồng thời nó tạo ra quá trình đào
thải đối với những doanh nghiệp mà nguồn vốn tích lũy thấp, sử dụng vốn kém
hiệu quả, sản xuất nhỏ, lạc hậu không đủ sức cạnh tranh.
Từ những lý do trên, ta thấy vốn đóng vai trò rất quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế – xã hội. Nhưng nguồn vốn đó lấy từ đâu? ai là người
cung ứng vốn cho nền kinh tế? Thực tế ở nước ta cho thấy, do thị trường
chứng khoán chưa phát triển nên NHTM đóng vai trò là tác nhân quan trọng
trong việc cung ứng vốn. Thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng đã tạo ra
khả năng cho vay đối với các doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực. Đồng
thời, khi thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tư vấn, hỗ trợ cho các hoạt động
sản xuất của các doanh nghiệp đã góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển
hàng hóa, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm. NHTM còn đóng vai trò quan trọng
trong việc tài trợ dự án, các chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở
vật chất kỹ thuật của đất nước và hỗ trợ các chương trình dự án tạo việc làm
cho người lao động, tạo điều kiện nâng cao mức sống của họ.
Nhưng không phải chỉ có những nước chưa có thị trường chứng khoán
hoặc thị trường chứng khoán chưa phát triển mà ngay tại các nước có thị
phải tuân theo các quy chế , văn bản do Ngân hàng Trung ương ban hành.
Từ chức năng, vai trò của NHTM ta thấy NHTM thực chất là tổ chức kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ – tín dụng, là một tổ chức trung gian tài chính với
chức năng nhận tiền gửi để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán
2. Vốn và nguồn vốn của NHTM.
Hoạt động của NHTM luôn gắn liền với công tác huy động vốn. Vậy ta
hiểu như thế nào là vốn?
Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc tạo nguồn vốn và
đầu tư vốn là công việc của Nhà nước, nghĩa là Nhà nước đóng vai trò vừa
là người cấp phát vốn đầu tư cho các thành phần kinh tế, vừa là người tiêu
thụ các sản phẩm mà các thành phần kinh tế đó sản xuất. Vốn của các doanh
nghiệp chủ yếu do ngân sách của Nhà nước cấp hoặc vay tín dụng ngân
hàng với lãi suất thấp. Thực tế cho thấy, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp
là rất lớn trong khi nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp lại có hạn và nguồn
vốn nhàn rỗi trong dân cư không thu hút được,vì chính sách huy động vốn
chưa hợp lý, thủ tục gửi tiền và rút tiền còn rườm rà… Như vậy cơ chế bao
cấp đã làm cho đồng tiền không được lưu thông và sử dụng có hiệu quả,
không có nơi giao dịch mua bán trên thị trường. Mặt khác cơ chế huy động
vốn và sử dụng vốn trong thời kỳ này chưa được quan tâm đúng mức.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, với chính sách phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, Nhà nước đã khuyến khích các thành
phần kinh tế tự bỏ vốn đầu tư. Điều đó làm cho vốn trở thành yếu tố quan
trọng hàng đầu và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu tư sản xuất
kinh doanh. Các doanh nghiệp Nhà nước không thể bỗng dưng mà có được
vốn vì không được cấp vốn như trước nữa, cho nên buộc họ phải tìm cách
mua vốn trên thị trường tài chính. Như thế người mua vốn phải trả lãi cho
người có vốn trên thị trường một khoản phí để có được quyền sử dụng vốn
trong thời gian xác định. Thông qua thị trường, vốn được lưu chuyển rộng
rãi, từ đó nó mới có thể thể hiện đủ bản chất và vai trò của mình. C.Mác đã
khái quát hoá phạm trù vốn là: “Tư bản” qua định nghĩa hết sức cô đọng: “tư
công nghiệp hóa - hiện đại hóa cũng cần phải có vốn. Vốn là chìa khóa, là điều
kiện hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Vốn trong nền kinh
tế có thể ví như máu trong cơ thể. Thiếu vốn nền kinh tế sẽ chậm phát triển.
Song vốn được tạo lập từ đâu, bằng cách nào phụ thuộc rất lớn vào cơ chế,
chính sách tạo vốn.
Nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế – xã hội. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì?
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập
và huy động được để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động được không những giúp
cho ngân hàng tổ chức được mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan
trọng trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
nói riêng cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung.
Tuy nhiên, nguồn vốn của NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau
như: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác.
2.1. Vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng là bộ phận vốn riêng của ngân hàng, nó
thuộc quyền sở hữu của ngân hàng. Cũng như bất cứ tổ chức kinh tế nào khác,
muốn đi vào hoạt đông sản xuất kinh doanh phải có vốn riêng thuộc sở hữu
của mình. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các tổ chức kinh tế thực hiện
việc kinh doanh.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ trên tổng
nguồn vốn nhưng lại có vai trò hết sức quan trọng. Bởi nó mang tính chất ổn
định và có thể sử dụng trong mọi hoạt động kinh doanh và trong quá trình
hoạt động nó, là cơ sở quyết định đến phương hướng phát triển của ngân
hàng. Các nhà quản lý ngân hàng lấy mức vốn chủ sở hữu để xây dựng kế
hoạch, khả năng huy động vốn và việc mở rộng hay chuyển hướng đầu tư
trong quá trình sử dụng vốn.
nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao hơn so với vốn chủ sở hữu hình thành
ban đầu.
Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm…để mở
rộng quy mô hoạt động, để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng nhu cầu gia
tăng thêm vốn chủ sở hữu do Ngân hàng Trung ương quy định… Đặc điểm của